Tóm tắt
Ban công trong nhà phố TP. Hồ Chí Minh (TP. HCM) là cầu nối giữa không gian sống và môi trường đô thị, góp phần mở rộng không gian sử dụng đối với hình thái nhà ở có mật độ cao tại TP. HCM. Đồng thời, ban công cũng đóng vai trò như một giải pháp kiến trúc thụ động giúp cải thiện vi khí hậu trong nhà. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá đầy đủ vai trò này. Việc phân tích mối quan hệ giữa hình thức ban công và hành vi sử dụng của cư dân dưới tác động của môi trường nhiệt sẽ là nền tảng khoa học cho việc thiết kế công trình xanh cũng như mối liên hệ giữa hình thức ban công và hành vi sử dụng của cư dân. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các thông số thiết kế ban công mang lại lợi ích về môi trường nhiệt cho nhà phố trong bối cảnh đô thị khí hậu nhiệt đới.
Từ khóa: Ban công, hình thức ban công, nhà phố, hành vi sử dụng, môi trường nhiệt độ, TP. HCM.
Abstract
In high-density housing areas of Ho Chi Minh City, balconies in tube housing serve as transitional spaces between the indoor environment and the urban context. They enhance the usability of indoor spaces while functioning as passive design elements that support better indoor thermal conditions. However, their environmental role has not received sufficient attention in current researchs. This study examines the relationship between balcony design and user behavior in response to thermal conditions through field study, providing a scientific basis for green building design in tropical urban settings. Based on these findings, the study proposes balcony design parameters that offer thermal environmental benefits for tube houses within the tropical urban climate context of Ho Chi Minh City.
Keywords: Balcony design, tube housing, user behavior, thermal environment, HCMC.
Bối cảnh ban công trong nhà phố tại TP HCM
Dân số của TP ước tính khoảng 8 triệu người vào năm 2016 với hơn 3 triệu người nhập cư, và hiện tại là hơn 9,3 triệu người [1]. Sự gia tăng dân số dẫn đến sự phát triển của nhiều loại hình nhà ở phục vụ cho những công dân có lối sống khác nhau, vì vậy mà hình thức nhà ở tại TP. HCM cũng vô cùng đa dạng. Nguồn cung nhà ở hiện nay tại TP. HCM có 3 nhóm chính: “Nhà phố thương mại”/nhà ống, biệt thự và căn hộ. Và, ban công đều xuất hiện ở các loại hình nhà ở nêu trên. Có thể thấy rằng ban công là một trong những đặc điểm kiến trúc được mong muốn nhất, vì nó có thể làm tăng sự hài lòng và nhận thức của người dân về tiềm năng sống tại các thành phố (TP) thông qua việc mở rộng diện tích sử dụng và cải thiện vi khí hậu của công trình [2-5].
Tính thời điểm này, nghiên cứu về ban công trên thế giới đa số được thực hiện trên các căn hộ chung cư vì tần suất xuất hiện của ban công cho thể loại công trình này chiếm ưu thế [3]. Mặt khác, trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nhà ống chiếm tới 75% tổng số nhà ở, còn ở TP. HCM là 94.4% [6], từ đó ban công trong nhà phố cũng đã xuất hiện và phát triển gắn liền với quá trình đô thị hóa nhanh chóng, đặc trưng bởi các lô đất hẹp và dài. Những không gian này mang lại lợi ích môi trường quan trọng như tạo bóng râm, thúc đẩy thông gió và tận dụng ánh sáng tự nhiên, qua đó giảm sự phụ thuộc vào các hệ thống làm mát cơ học [7]. Tuy nhiên, dù đóng vai trò quan trọng, việc thiết kế ban công thường bị xem nhẹ hoặc đồng nhất, dẫn đến việc bỏ lỡ cơ hội tối ưu hóa tiện nghi nhiệt và hiệu quả năng lượng.
Trên phạm vi quốc tế, tác động của ban công đối với hiệu suất nhiệt đã được nghiên cứu trong nhiều bối cảnh khác nhau. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Các thông số thiết kế như chiều sâu, chiều ngang, hướng, vật liệu và độ trong suốt của lan can có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả nhiệt của ban công. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, những ban công được thiết kế hợp lý có thể kéo dài thời gian tiện nghi nhiệt đáng kể, cải thiện chất lượng không gian trong nhà đồng thời giảm mức tiêu thụ năng lượng [7].
Các đặc điểm của hình thức ban công và hành vi sử dụng của người dân dưới sự ảnh hưởng của môi trường nhiệt
2.1 Phạm vi thực hiện nghiên cứu
Quận 1 (Q1) và Quận 3 (Q3) nằm trong khu vực trung tâm đô thị [8], đây là khu vực trung tâm kinh tế – thương mại và mang tính lịch sử với cấu trúc đô thị dạng lưới của TP HCM. Nghiên cứu được thực hiện tại Phường 1, Q3 và Phường Cầu Ông Lãnh, Q1 – hai khu vực có mật độ dân số cao nhất mỗi quận [6], phản ánh nhu cầu nhà ở lớn và mạng lưới nhà ở dày đặc từ đó mà khả năng xuất hiện nhiều hình thức ban công khác nhau tăng cao tại các khu vực này. Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu và đánh giá mối liên hệ giữa hình thức ban công, hành vi người dùng và sự ảnh hưởng của môi trường nhiệt độ trong bối cảnh nhà ở đô thị tại TP. HCM. Từ mục tiêu này, nghiên cứu hướng đến việc trả lời 2 câu hỏi sau:
- Các yếu tố thiết kế ban công tác động như thế nào đến nhiệt độ bề mặt tại không gian này?
- Hành vi sử dụng ban công của người dân có mối liên hệ như thế nào đến môi trường nhiệt tại không gian này?
Nghiên cứu đã sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng để trả lời hai câu hỏi trên. Dữ liệu được thu thập qua quá trình quan sát, chụp ảnh và đo đạc nhiệt độ ở bề mặt tường giữa ban công tại các tuyến đường đại diện ở 2 phường, cùng khảo sát cư dân về cách sử dụng và cảm giác nhiệt tại không gian này. Khảo sát thu về được 296 phản hồi từ người sử dụng ở các nhà được đánh dấu trong Hình.
Dựa trên các nghiên cứu tiền lệ về hình thái và thiết kế của ban công [2, 3, 9], nghiên cứu này thiết lập hệ thống các đặc điểm hình thức của ban công có chịu sự ảnh hưởng của môi trường nhiệt trong Bảng 1 dưới đây. Đồng thời, để giảm thiểu sự thay đổi của môi trường nhiệt độ, mỗi tuyến đường được khảo sát trong 2 giờ, chọn một trong hai khung thời gian: 09:00 – 11:00 hoặc 13:00 – 15:00.
2.2 Hành vi sử dụng của cư dân và hình thức ban công dưới sự ảnh hưởng của môi trường nhiệt
Dữ liệu cho thấy thời gian sử dụng ban công của người dân thường khá ngắn, với 52% chỉ sử dụng từ 5-10 phút và 41% kéo dài từ 10-20 phút. Về mục đích sử dụng, trồng cây là hoạt động phổ biến nhất (28%), tiếp theo là giặt giũ, phơi đồ (23%). Đáng chú ý, 20% số người có ban công nhưng hầu như không sử dụng. Các hoạt động thư giãn như ngồi, đọc sách chỉ chiếm 7%, trong khi 22% thực hiện các hoạt động khác (mở cửa để thông gió, không gian lưu trữ vật dụng,…). Có thể rút ra kết luận rằng, mặc dù ban công là một không gian phổ biến trong nhà phố tại TP HCM, nhưng mức độ sử dụng thực tế vẫn còn hạn chế. Điều này cho thấy tiềm năng chưa được khai thác đầy đủ của ban công trong việc cải thiện tiện nghi sinh hoạt và chất lượng môi trường sống, đặc biệt là nhiệt độ. Dựa trên dữ liệu thời tiết thu thập, có thể áp dụng nguyên tắc đánh giá tiện nghi nhiệt NDMA Heat Guidelines (2016) dành cho không gian ngoài trời như Biểu đồ 1, lấy 31°C làm giá trị để đánh giá nhiệt độ không khí, theo đó, nhiệt độ bề mặt sẽ lấy giá trị 33,7°C (là giá trị trung bình của khảo sát) để đánh giá mức tăng hoặc giảm của nhiệt độ bề mặt.
Có thể thấy rằng, mặc dù nhiệt độ không khí và nhiệt độ bề mặt tại ban công không đồng thời tăng hoặc giảm, điều này là do sự ảnh hưởng của các các kết cấu che nắng (cố định hoặc tạm thời) cũng như sự hiện diện của các vật dụng trong quá trình sử dụng, đa số các yếu tố này xuất hiện từ nhu cầu và mục đích sử dụng không gian này của người dân.
Trường hợp được ghi nhận có nhiệt độ bề mặt thấp nhất là 29,4°C khi nhiệt độ không khí là 29,7°C, ban công này thuộc tuyến đường THĐ (P-L-Rec-1O-GLASS), có sự hiện của cây xanh và dùng phụ kiện rời để che nắng bổ sung. Bảng 2 dưới đây tổng hợp các đặc điểm ban công ở những trường hợp ghi nhận được nhiệt độ bề mặt dưới 33,7°C, tất cả những trường hợp này đều có nhiệt độ không khí dưới 30,3°C.
2.3 Những đặc điểm hình thức và hành vi sử dụng tạo nên sự khác biệt về nhiệt độ bề mặt
Trên cùng một tuyến đường, sự chênh lệch về nhiệt độ bề mặt có thể lên đến hơn 6°C. Lấy ví dụ như ở đoạn đường NDC, tại thời điểm nhiệt độ không khí được ghi nhận là 27°C, nhiệt độ bề mặt cao nhất là 35,3°C (P-L-Rec-1O-SRAIL), thấp nhất là 30,9°C (SEMI-L-Rec-2O-GLASS) và cả 2 đều được che chắn bởi sàn tầng trên. Tuy nhiên, cả 2 ban công này hầu như không được sử dụng. Ban công có nhiệt độ cao hơn dù có ít mặt tiếp xúc với bức xạ mặt trời là do sự hiện diện của các cục nóng điều hòa, làm tăng nhiệt độ tại không gian này lên một cách đáng kể.
Hay trên tuyến đường NCT, khi nhiệt độ không khí là 35,1°C, nhiệt độ giữa thấp và cao nhất lần lượt là 34,9°C (R-L-Rec-1O-SRAIL) và 37,4°C (R-L-Rec-1O-SOLID). Sự khác biệt duy nhất giữa 2 trường hợp này là loại lan can được sử dụng, việc sử dụng loại lan can kết hợp giữa tường và sắt (M1) đã cải thiện khả năng thông gió, cho phép luồng không khí lưu thông và giảm tích tụ nhiệt, dẫn đến nhiệt độ bề mặt thấp hơn. Ngược lại, lan can tường đặc (SOLID) đã phần nào hạn chế đối lưu không khí, giữ nhiệt nhiều hơn do khả năng hấp thụ bức xạ cao hơn và tản nhiệt kém hơn, khiến nhiệt độ bề mặt cao hơn đáng kể.
Trong các trường hợp được ghi nhận, mặc dù sự hiện diện của cây xanh tại ban công chiếm 54% nhưng yếu tố này tạo nên sự khác biệt rất nhỏ, giữa sự chênh lệch nhiệt độ dao động từ 0,08°C đến 0,3°C. Bảng 3 dưới đây trình bày các đặc điểm hình thức và hành vi sử dụng tạo nên sự khác biệt về nhiệt độ bề mặt tại ban công.
3. Kết luận
Nghiên cứu này nhấn mạnh mối liên hệ giữa môi trường nhiệt với các đặc điểm hình thức ban công và hành vi sử dụng của người dân trong nhà phố tại TP HCM. Khảo sát thực địa đã xác nhận rằng các yếu tố thiết kế, đặc biệt là loại lan can, ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường nhiệt tại ban công. Kết quả cho thấy các ban công với lan can tường đặc giữ nhiệt cao hơn từ đó tăng nhiệt độ không gian này, làm giảm khả năng sử dụng. Ngoài ra, hành vi sử dụng của người dân sẽ làm xuất hiện những yếu tố tạo bóng đổ cho không gian ban công, từ đó làm giảm nhiệt bề mặt tại đây, thay đổi môi trường nhiệt tại ban công. Hơn hết, phần lớn cư dân chỉ sử dụng ban công trong khoảng thời gian ngắn, với hơn 90% số người tham gia khảo sát dành dưới 20 phút mỗi lần, điều này càng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện thiết kế để hướng đến tiện nghi nhiệt cho nhà phố.
Các yếu tố hình thức trong thiết kế của ban công có thể tạo nên sự khác biệt về nhiệt độ bề mặt tại không gian này, loại hình được ghi nhận có khả năng giúp giảm nhiệt độ bề mặt chiếm ưu thế nhất là ban công hình chữ nhật vươn ra ngoài, có một mặt thoáng với chiều dài chiếm toàn bộ mặt đứng, sử dụng lan can kết hợp giữa tường đặc và lan can sắt. Loại ban công này có kết cấu che nắng là sàn tầng trên hoặc ô văng và thường được dùng để phơi quần áo và trồng cây, những hành vi này giúp tạo bóng đổ, giảm sự tiếp xúc với bức xạ mặt trời.
Bên cạnh việc đánh giá hình thức và hành vi sử dụng của người dùng tại khu vực ban công, nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng phạm vi khảo sát để hiểu rõ hơn cách các yếu tố thiết kế này tác động đến không gian bên trong và tiện nghi nhiệt tổng thể của công trình.
KTS. Huỳnh Hữu Bách
TS.KTS. Lê Thị Hồ Vi
Khoa Kiến trúc, ĐH Kiến trúc TP. HCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 05-2025)
Tài liệu tham khảo
1. Vietnam, G.S.O., The 2014 Vietnam Population and Housing Census, Hanoi, T.c.T. kê, 2015.
2. Shamseldin, A., Adaptation opportunities for balconies to achieve continuity of their environmental functions. Alexandria Engineering Journal, 2023. 67: p. 287-299.
3. Smektała, M. and M. Baborska-Narożny, The use of apartment balconies: context, design and social norms. Buildings & Cities, 2022. 3(1).
4. Ultav, Z.T., Balcony railings as a representative element of collective memory: Balcony railings of Ankara apartment blocks. Athens Journal of Architecture, 2019. 5(1): p. 111-126.
5. Wing Chau, K., S. Kei Wong, and C. Yim Yiu, The value of the provision of a balcony in apartments in Hong Kong. Property Management, 2004. 22(3): p. 250-264.
6. Vietnam, G.S.O., Completed Results of the 2019 Viet Nam Population and Housing Census. 2022, Statistical Publishing House: Hanoi, Vietnam.
7. Ribeiro, C., N.M. Ramos, and I. Flores-Colen, A review of balcony impacts on the indoor environmental quality of dwellings. Sustainability, 2020. 12(16): p. 6453.
8. Downes, N.K., et al., Assessing Peri-Urbanisation and Urban Transitions between 2010 and 2020 in Ho Chi Minh City using an Urban Structure Type Approach. Urban Science, 2024. 8(1): p. 11.
9. Mirabi, E. and N. Nasrollahi, Balcony Typology and Energy performance in Residential Buildings. IJETR, 2019. 9: p. 2454-4698.

























