Không cắt tỉa, chăm sóc, vườn nhà sẽ thành vườn hoang

Nhà văn Mark Twain từng nói:
“Sự đánh giá tốt đẹp là kết quả của kinh nghiệm và kinh nghiệm là kết quả của việc bị phán xét tồi” (Good judgement is the result of experience and experience the result of bad judgement). Tức là chúng ta chỉ có thể hoàn thiện hơn khi nhận được những đánh giá về những gì chưa hoàn thiện.

Một số VẤN ĐỀ về LÝ LUẬN và PHÊ BÌNH PHÊ BÌNH KIẾN TRÚC hiện nay

Cũng như các ngành liên quan đến nghệ thuật khác như: Sân khấu điện ảnh, hội hoạ, mỹ thuật, nhiếp ảnh thì với ngành kiến trúc công tác lý luận và phê bình là hết sức quan trọng.

Thế nhưng gần đây công tác này đang có xu hướng mờ dần, cụ thể là thiếu vắng các bài viết, trên các mục lục của các tạp chí chuyên ngành và gần như không xuất hiện tác giả mới, trẻ nào nổi lên trong vòng 10 năm trở lại đây, trong khi các cây bút già đã dần mỏi mệt theo tuổi tác hoặc đã đi xa.

Điều gì làm cho một điều cần thiết như hiển nhiên vậy lại đang dần mất đi trong hoạt động chuyên môn đang rất sôi động như hiện nay, khi thị trường bất động sản đang đạt đỉnh với quy mô chưa từng có?

Theo góc nhìn cá nhân, vấn đề này có thể có những nguyên nhân sau:

1. Chưa có hệ thống đào tạo bài bản về công tác lý luận phê bình kiến trúc: Trong khi các trường đào tạo nghệ thuật có các Ngành và Môn học về lý luận và phê bình, ví dụ như: Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh có các môn lý luận và phê bình sân khấu, ngành lý luận và phê bình múa; Trường Đại học Mỹ thuật Yết Kiêu có Khoa lý luận, Lịch sử và Phê bình Mỹ thuật; Trường Đại học Mỹ thuật TP HCM có Khoa Lý luận, Lịch sử Mỹ thuật. Trong khi ở các trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Kiến trúc HCM, Đại học Xây dựng … không có môn Lý luận Kiến trúc, chưa nói đến về Phê bình và ngành học về lý luận và phê bình kiến trúc.

2. Nhận thức chưa thật chính xác về lý luận và phê bình: Những bài lý luận về kiến trúc của các tác giả còn thiên về nội dung tổng kết các trào lưu kiến trúc thế giới cũng như của Việt Nam trong các thời kì cận đại hay đương đại. Đây là nội dung đúng và cần thiết nhưng chưa đủ, đó chỉ là một phần của công tác lý luận.
Do đó cần xem xét lại kĩ hơn các định nghĩa, ở đây chỉ làm rõ trên phạm vi:

– Đối với lí luận: Trước những công trình mới, hay lớn hơn là các phong cách kiến trúc đang hiện hành thì các bài lý luận là việc phát hiện ra tính hệ thống, vị trí của các tác phẩm trong các trào lưu, hay các phong cách đương đại đang thuộc trào lưu nào của thế giới, đâu là tính kế thừa, đâu là tính phát triển, đâu là tính mới, tính sáng tạo…

– Đối với phê bình: Mục tiêu của phê bình phải mang tính tích cực và để rút kinh nghiệm, do đó các bài phê bình không nên có tính chất “chê bai” mà phải là sự đóng góp cho tác giả những yếu tố chưa hoàn thiện, nhắc nhở tác giả tránh các lỗi không phù hợp, ví dụ như sao chép, khiên cưỡng, sa đà hình thức… Việc phê bình cần được hỗ trợ của “văn hoá ứng xử của người Việt” – Đó là sự chân thành, thẳng thắn nhưng tế nhị phù hợp với nếp nghĩ “trọng tình” hơn “trọng lý” của người Việt.

Bác Hồ cũng từng nói “Phê bình là không phải để mỉa mai, nói xấu. Phê bình là để giúp nhau tiến bộ”.

3. Do thiếu văn hoá phản biện và phê bình: Do vẫn còn ảnh hưởng ý thức hệ phong kiến, nên văn hoá phản biện và phê bình vẫn chưa được hoàn thiện như trong môi trường các nước phát triển, đề cao quyền tự do cá nhân là thượng tôn pháp luật. Việc phản biện và phê bình từ cực hữu (sợ động chạm người khác nhất là những người có danh tiếng sẽ bị hiểu là ‘kèn cựa”, hay làm mất lòng những người có địa vị hơn mình trong xã hội), rất dễ chuyển sang cực tả (phê phán phủ định hoàn toàn, chê bai quá lời, không còn sáng suốt công bằng, công tâm). Hiện nay, các KTS quan tâm và phối hợp chặt chẽ với giới truyền thông khá chặt chẽ. Các KTS có năng lực sáng tác bên cạnh việc gửi các đồ án đi dự thi giải thưởng quốc tế và trong nước thì đã quan tâm chuẩn bị kĩ hình ảnh và thông tin làm nền cho các dự án. Tuy nhiên, việc này lại hơi thiên về khen ngợi, cố gắng tạo ấn tượng tốt cho người đọc. Việc xây dựng các “idol” kiến trúc mà không có các góp ý phản biện làm ảnh hưởng đến nhận thức của dư luận, tạo ra các chuỗi kiến trúc kiểu phong trào bằng việc theo đuổi hay bắt chước các phong cách của KTS đó một cách thái quá, thiếu đi sự tỉnh thức.

4. Thiếu môi trường để trao đổi, bình luận, phản biện và phê bình: Trong một môi trường sống đa phương tiện như hiện nay, việc đa dạng của việc bày tỏ quan điểm cá nhân được hỗ trợ bởi các công cụ mới như Internet, mạng xã hội, thì môi trường để có thể trao đổi, bình luận trong đó có cả việc phản biện và phê bình chỉ gói gọi trong các tạp chí chuyên ngành, hay bài trình bày tại các buổi hội thảo hay tọa đàm về Kiến trúc. Bên cạnh đó, việc đưa ra ý kiến có tính một chiều, không có sự tương tác với chính tác giả của công trình đó hay cộng đồng người xem khiến cho việc trao đổi không có cơ hội để bổ sung, đào sâu hay rút được kết luận mà thường chìm vào yên lặng. Bên cạnh đấy cũng cần kể đến văn hoá đọc của trí thức nói chung và đặc biệt KTS đang có chiều hướng thiếu tích cực, các thông tin chính thống mang tính hàn lâm không còn được quan tâm và coi trọng, xu hướng thích đọc thông tin “bề nổi” và mang tính giải trí, đã làm cho các bài viết có tính lý luận bị bỏ rơi.

5. Yêu cầu đòi hỏi của người đọc/nghe đối với các tác giả của các bài viết bình luận và phê bình. Tâm lý chung đó là “muốn nói được thì phải làm được đã” hay”trăm nghe không bằng một thấy” đã ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của các nhà lý luận kì cựu, các tác giả cao cấp của giới nghề về việc này. Mặc dù được đào tạo bài bản ở nước ngoài, kiến thức uyên bác, với học hàm học vị cao nhưng do điều kiện công tác quản lý quá bận rộn dẫn đến ít có cơ hội tham gia sáng tác đồ án – dự án thực tế. Nếu đem so sánh với một số nhà phê bình của các ngành nghệ thuật khác như Phan Cẩm Thượng của hội hoạ, Hoài Thanh – Hoài Chân, Vương Trí Nhàn, Hà Minh Đức… trong văn học, họ đều vừa là những tác giả của các tác phẩm nổi tiếng vừa là những tác giả của các bài viết, tác phẩm phê bình có giá trị và thu hút bạn đọc. Kiến trúc có những đặc thù riêng và điều này đem đến những hạn chế nhất định.

6. Các yếu tố khác mang tính thị trường:

Thực tế cho thấy hiện nay, không ai hào hứng với việc tham gia Lý luận – Phê bình, ví dụ cụ thể là trên các tạp chí chuyên ngành chính thống của Bộ Xây dựng và Hội KTS Việt Nam đã không còn Chuyên mục “Lí luận và Phê Bình”. Không quá khó khăn để tìm ra câu hỏi tại sao như vậy? Đó là vì:

– Không tăng thu nhập: Không hấp dẫn người viết bởi nhuận bút không tương xứng với việc phải viết khó hơn, mất công sức nhiều hơn so với các thể loại khác;
– Không tăng thêm uy tín chuyên môn: Thậm chí có thể tác động ngược lại;
– Không khẳng định được quan điểm mới: Do không nhận được phản hồi, bình luận về bài viết.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

1. Bổ sung môn lý luận và phê bình kiến trúc trong các trường có đào tạo KTS, cần có một lứa KTS được đào tạo về lý luận kiến trúc;

2. Tạo ra các môi trường có tính tương tác cao để mọi người có thể tham gia ý kiến đối với các chủ đề liên quan đến kiến trúc, đặc biệt là các môi trường liên quan đến không gian mạng;

3. Tách rời lí luận và phê bình: Các chuyên mục nên tách riêng để định hướng người viết và cả người đọc ngay từ ban đầu. Có thể đổi “Phê bình” thành “Bình luận” vì kiến trúc có lượng khán giả đông hơn và phù hợp với nếp ứng xử của cộng đồng.

Bên cạnh đó, trong kiến trúc đã xuất hiện các thủ thuật mới, hiện đại và ấn tượng (nghệ thuật sắp đặt, các hiệu ứng công nghệ và kĩ thuật) phá vỡ những khuôn phép và tạo ra những trào lưu mới. Kinh tế thị trường ảnh hướng đến thị hiếu kiến trúc của khách hàng, không nên ép mọi công trình kiến trúc phải tuân theo những lề lối kinh viện, giống như chỉ cho nghe nhạc giao hưởng mà ko chấp nhận nhạc Rock, nhạc Rap, hoặc ngược lại không thể cấm sử dụng các hình thức kiến trúc cổ. Nhiệm vụ bình luận chuyên môn sẽ không nặng như phê phán, nhưng vẫn định hướng cho được cho dư luận.

Như vậy, ta có thể thấy: Đối với kiến trúc đương đại, lý luận và phê bình là không thể thiếu, cũng như muốn có vụ mùa tốt không thể không chăm sóc ruộng vườn.

*KTS Nguyễn Huy Khanh
Phó TGĐ – Tổng công ty Tư vấn và Xây dựng Việt Nam (VNCC)

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2018)