“Kiến trúc Việt Nam giai đoạn 1975 – 2020: Thực tiễn và triển vọng” (Phần 1)

Sau 45 năm Đất nước thống nhất, thời gian đủ dài để nhìn lại, đánh giá quá trình phát triển của kiến trúc nước nhà. Hơn nữa, trong 45 năm ấy, thế giới biến đổi không ngừng. Đất nước cũng trải qua các giai đoạn phát triển với nhiều khó khăn, thách thức. Đặc biệt là gần đây, sau hơn 30 năm Đổi mới, Đất nước phát triển nhanh về mọi mặt, có thể nói chưa từng có trong lịch sử. Tất cả đều được phản ánh qua kiến trúc.

Vì thế, bài viết mong muốn nhìn nhận, đánh giá thực tiễn 45 năm phát triển kiến trúc qua các giai đoạn, để qua đó nêu lên triển vọng phát triển của kiến trúc nước nhà theo hướng hiện đại và có bản sắc trong thế giới toàn cầu hóa.

Hình 1a. Mặt băng Khu chung cư Thanh Đa (1968-1972)
Hình 1a. Mặt băng Khu chung cư Thanh Đa (1968-1972)

Kiến trúc Việt Nam giai đoạn 1975-1986

Đây là giai đoạn đặc biệt khó khăn. Đất nước mới hòa bình, thống nhất nhưng không bình yên. Trong lúc cả dân tộc đang nỗ lực để khắc phục hậu quả của chiến tranh thì lại phải đối diện với vô vàn khó khăn do cấm vận, do buộc phải tiếp tục chiến đấu để bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc chống lại bọn bành trướng Trung Quốc. Trong bối cảnh khó khăn ấy, kiến trúc không có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển.

Tuy nhiên, để có thể hiểu thực trạng kiến trúc Việt Nam giai đoạn 1975-1986 không thể không tìm hiểu và đánh giá giá trị của quỹ di sản kiến trúc đã được hình thành ở 2 miền Nam Bắc trước năm 1975. Đây là những căn cứ thực tiễn quan trọng góp phần định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam hiện đại.

1. Miền Nam

Trước năm 1975, với thể chế TBCN, lại trong bối cảnh chiến tranh với sự có mặt của hơn nửa triệu lính Mỹ, chưa kể các đồng minh của Mỹ, kiến trúc có những đặc điểm cơ bản, là:

Về đô thị và nông thôn: Mạng lưới đô thị phát triển rộng, nhưng phần lớn không theo quy luật cơ bản và phổ biến của đô thị hóa, mà chủ yếu phục vụ nhu cầu của chiến tranh với các công trình như: Sân bay, cảng, căn cứ quân sự và hậu cần,… (được gọi là đô thị hóa giả tạo). Ví dụ, TP Đà Năng là căn cứ quân sự trọng yếu của miền Trung nhưng tập trung cả triệu người. Đặc biệt là TP Sài gòn, điển hình của hiện tượng đô thị hóa giả tạo. Số dân tập trung đông, khoảng 5 triệu người, không phải do nhu cầu của sản xuất công nghiệp mà chủ yếu là phục vụ nhu cầu của quân đội và là nơi để người dân trốn tránh chiến tranh.

Ở khu vực nông thôn, hiện tượng nổi bật là chính sách phát triển nông thôn theo mô hình “Khu trù mật” và “Ấp chiến lược”. Chiến lược này được chính quyền thực hiện không theo quy luật phát triển làng xã và thị tứ thông thường mà nhằm tập trung người dân để dễ quản lý, kiểm soát với ý đồ tách người dân khỏi lực lượng kháng chiến.

Hình 2. Dinh Độc lập – Hội trường thống Nhất hiện nay (1962-1966), KTS Ngô Viết Thụ thiết kế , được xây dựng trên nền của Dinh Norodom xưa
Hình 2. Dinh Độc lập – Hội trường thống Nhất hiện nay (1962-1966), KTS Ngô Viết Thụ thiết kế , được xây dựng trên nền của Dinh Norodom xưa

Về kiến trúc: Kiến trúc miền Nam trước năm 1975 phát triển khá đa dạng về xu hướng kiến trúc với nhiều quy mô và thể loại công trình khác nhau, tạo được bộ mặt kiến trúc mới, hiện đại, nhất là ở các TP lớn. Sau khi đất nước thống nhất, nhiều vấn đề nan giải ở đô thị và nông thôn cần phải được giải quyết, như: Chuyển đổi mô hình kinh tế, tổ chức lại sản xuất, phân bố lại dân cư và nhà ở,… Mô hình “Khu kinh tế mới” với lực lượng nòng cốt là thanh niên bấy giờ ở miền Nam là một ví dụ.Tuy nhiên, điểm tích cực của kiến trúc miền Nam thời bấy giờ là: Nhiều lý luận, xu hướng phát triển đô thị, kiến trúc, công nghệ và vật liệu xây dựng mới, tiến bộ của thế giới đã được du nhập, trước nhu cầu xây dựng nhiều thể loại công trình, các KTS có điều kiện thuận lợi để thể hiện tài năng. Họ đã tạo nên những giá trị của kiến trúc hiện đại miền Nam. Nổi bật nhất là phong cách kiến trúc nhiệt đới hiện đại. Điều đặc biệt là, các KTS ở miền Nam, kể cả các KTS những thế hệ đầu tiên do Pháp đào tạo, đã đoạn tuyệt với ngôn ngữ kiến trúc cổ điển Pháp mà sáng tác theo xu hướng hiện đại. Những công trình tiêu biểu, như: Đồ án mở rộng Sài Gòn của KTS Doxiadis, Làng Đại học Thủ Đức, Khu chung cư Thanh Đa, Dinh Độc Lập (Hội tường Thống nhât), Thư viện quốc gia, Bệnh viện Vì Dân, Chùa Xá Lợi,… (Hình. 1,2,3,4)

Hinh 3. Thư viện quốc gia (1968-1972), KTS Nguyễn Hữu Thiện, KTS Bùi Quang Hanh thiết kế và được xây dưng trên nền của Nhà tù trung tâm thời Pháp.
Hinh 3. Thư viện quốc gia (1968-1972), KTS Nguyễn Hữu Thiện, KTS Bùi Quang Hanh thiết kế và được xây dưng trên nền của Nhà tù trung tâm thời Pháp.
Hình 4. Bệnh viên Vì dân (1974), KTS Trần Đình Quyền thiết kế
Hình 4. Bệnh viên Vì dân (1974), KTS Trần Đình Quyền thiết kế

2.Miền Bắc

Đường lối xây dựng XHCN tiếp tục chi phối mọi hoạt động kinh tế và đời sống xã hội ở miền Bắc, trong đó có quy hoạch và kiến trúc. Trên thực tế, trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, nhưng nhiều thể loại công trình vẫn được xây dựng nhằm khắc phục hậu quả của chiến tranh và phục vụ công cuộc xây dựng xã hội XHCN.

Hình 5a. Khu tập thể Giảng Võ, Thiết kế của Viện Nhà ở Hà Nội (1980)
Hình 5a. Khu tập thể Giảng Võ, Thiết kế của Viện Nhà ở Hà Nội (1980)
Hình 5b. Kiến trúc nhà ở Khu tập thể Giảng Võ, Thiết kế của Viện Nhà ở Hà Nội (1980)
Hình 5b. Kiến trúc nhà ở Khu tập thể Giảng Võ, Thiết kế của Viện Nhà ở Hà Nội (1980)

Về phát triển đô thị và nông thôn: Phương pháp quy hoạch mới theo mô hình Trung Quốc và Liên Xô XHCN được áp dụng. Nhiều đô thị được thiết kế quy hoạch chung và nhiều khu nhà ở tập thể được xây dựng. Trong khi ở nông thôn, phong trào hợp tác hóa vẫn phổ biến và cấp huyện được coi là trọng tâm để phát triển nông nghiệp và nông thôn. (Hình 5,6,7)

Hinh 6a. Mặt bằng Khu tập thể Thanh Xuân Bắc, Hà Nội
Hinh 6a. Mặt bằng Khu tập thể Thanh Xuân Bắc, Hà Nội
Hinh 6b. Toàn cảnh Khu tập thể Thanh Xuân Bắc, Hà Nội
Hinh 6b. Toàn cảnh Khu tập thể Thanh Xuân Bắc, Hà Nội
Hình 7. Đồ án quy hoạch thủ đô Hà Nội, 1982 (Liên Xô giúp)
Hình 7. Đồ án quy hoạch thủ đô Hà Nội, 1982 (Liên Xô giúp)

Về kiến trúc: Điểm nổi bật là, tư tưởng thiết kế theo xu hướng Hiện thực XHCN Việt Nam do các KTS được Pháp đào tạo khởi xướng ở giai đoạn trước vẫn được các KTS tốt nghiệp trong nước và từ các nước XHCN về (như Liên Xô, Trung Quốc, Đông Âu và Cu Ba,…) tiếp tục phát triển như một dòng chủ lưu chính trong sáng tác kiến trúc. Đó là các công trình xây dựng mới, được thiết kế với triết lý giống như của các KTS ở miền Nam, là không lệ thuộc vào ngôn ngữ kiến trúc cổ điển Pháp mà có hình thức kiến trúc đơn giản, mạch lạc thể hiện tinh thần của kiến trúc hiện đại, tạo ấn tượng vững chãi, phù hợp với điều kiện kinh tế còn hạn chế ở miền Bắc thời bấy giờ (Hình 8,9,10,11) [1].

Hình 10. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1960), KTSĐoàn Văn Minh
Hình 10. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1960), KTSĐoàn Văn Minh
Hình 11. Cung Thiếu nhi Hà Nội (1970), KTS Lê Văn Lân
Hình 11. Cung Thiếu nhi Hà Nội (1970), KTS Lê Văn Lân

Có thể nói, giai đoạn 1975-1986 là giai đoạn khá đặc biệt đối với kiến trúc nước nhà, có nhiều kỳ vọng với sự nỗ lực tìm tòi và thể nghiệm đi cùng với thành công và thất bại, để lại những bài học đắt giá.

Sau khi đất nước thống nhất, một kỳ vọng thường trực về tương lai của Việt Nam XHCN hùng cường. Vì thế, nhiều ý tưởng quy hoạch, kiến trúc thể hiện tư duy duy ý chí, nôn nóng với những dự báo không sát với thực tiễn đã xuất hiện. Khi kỳ vọng vượt quá khả năng, cùng với trình độ chuyên môn còn hạn chế, chưa tương xứng, nên nhiều chương trình quy hoạch và kiến trúc, trên thực tế không thu được kết quả như mong đợi, nhất là ở miền Bắc, để lại nhiều bài học quý giá trên con đường xây dựng nền kiến trúc nước nhà. Chương trình phát triển đô thị toàn quốc mà mỗi đô thị có sự giúp đỡ của một nước XHCN hay chương trình phát triển nông thôn với 500 pháo đài huyện hoặc quy hoạch mở rộng thủ đô Hà Nội lên Vĩnh Yên,… là những ví dụ tiêu biểu. Xét về nguyên nhân, bên cạnh nguyên nhân khách quan, thì nguyên nhân chủ quan do cơ chế quan liêu, bao cấp là cơ bản nhất, đã kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Xem tiếp: Kiến trúc Việt Nam giai đoạn 1975 – 2020:Thực tiễn và triển vọng (Phần II)

GS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông
Hội KTS Việt Nam

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2020)