Nhìn lại 30 năm thử thách và sáng tạo của Kiến trúc Hà Nội (từ 1954 đến 1986)

Mười năm sau ngày giải phóng Thủ đô, Hà Nội lại cùng cả nước dốc sức trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam. Rồi đất nước thống nhất, nhưng vẫn trong điều kiện bị bao vây cấm vận và ngăn giặc ở hai đầu biên giới…. bền bỉ cho đến ngày “mở cửa” và “đổi mới”… Hơn ba mươi năm đó là một khoảng thời gian đầy biến động.

123
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kiến trúc Hà Nội đã vượt qua rất nhiều khó khăn và phát triển từ phong cách Tiền Hiện đại của lớp KTS Trường Mỹ Thuật Đông Dương đến con đường của Kiến trúc Xã hội chủ nghĩa sau này. Trên thế giới, đây cũng là thời kỳ trào lưu Kiến trúc hiện đại phương Tây phát triển và lan tỏa tới hầu hết các châu lục, và rồi đã bộc lộc sự nhàm chán khô cứng mà người ta vẫn gọi là “kiến trúc quốc tế”. Cùng chung cách biểu hiện với Kiến trúc hiện đại, nhưng Kiến trúc Xã hội chủ nghĩa lại mang sự khác biệt về bản chất, dựa trên cơ sở của cơ cấu kinh tế kế hoạch hóa, sở hữu nhà nước và toàn dân, mà đối tượng phục vụ trước hết là nhân dân lao động, hướng tới thỏa mãn đời sống vật chất và tinh thần của xã hội ngày một nâng cao.

k1
Cung Văn hóa Thiếu nhi Hà Nội – 1976 (KTS Lê Văn Lân)

Kiến trúc xã hội chủ nghĩa thế kỷ 20 vốn được khởi đầu ở Nga, nơi từ những thập niên 20, nhà nước công nông xuất hiện như một chiếc gai khó chịu với thế giới tư bản. Đó cũng là nơi trong kiến trúc, thể hiện những tư tưởng tiến bộ xã hội cùng với chủ nghĩa cấu tạo Nga nổi tiếng, hiện đại trong công năng, rõ ràng giữa nội dung và hình thức, đã thu hút sự chú ý và dấy lên ham muốn mới của nhiều KTS lớn trên thế giới, góp phần không nhỏ vào sự ra đời của Kiến trúc hiện đại phương Tây. Những thập niên gần cuối, Kiến trúc xã hội chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ trên các quốc gia của hệ thống Xã hội chủ nghĩa dẫn đầu là Liên Xô đạt nhiều thành tựu to lớn, từ quy hoạch đô thị cho đến từng công trình xây dựng luôn được cân nhắc từ mặt bằng, công năng và kinh tế xây dựng, tuân thủ những chỉ tiêu sử dụng, coi trọng dùng thiết kế mẫu và thiết kế điển hình. Trong đô thị rất quan tâm kiến trúc tổng thể, gắng tạo những điểm nhấn, những kiến trúc mang tính biểu tượng, nhưng không tạo ra sự phô trương, mang tính ganh đua, thu hút sự chú ý, tránh quá tập trung ở phần trung tâm, tránh những khối cao tầng chen chúc. Kiến trúc cũng như con người đô thị biểu hiện sự văn minh mà không phô trương sự “sành điệu” hay “đẳng cấp”, từ mặt kính bày hàng, đến những biển quảng cáo, phần lớn đều được thiết kế, không dày đặc như đô thị của kinh tế thị trường, lại càng không xô bồ như ở ta hiện nay. Mặt khác, do quan niệm và cách làm dễ ẩn chứa tính giáo điều, yếu tố cạnh tranh trong sáng tạo chưa đến mức quyết liệt, hình thức kiến trúc thời kỳ này không tránh khỏi biểu hiện của sơ lược, trùng lặp, dễ dãi chấp nhận, hạn chế phần nào tính đa dạng và độc đáo của phong cách, sự đột phá của cá nhân… Để đánh giá lựa chọn một đồ án, tất nhiên có nhiều tiêu chí, nhưng công năng và sự cần thiết phải đầu tư thường được cân nhắc khá chặt chẽ, bởi lẽ chủ đầu tư là Nhà nước luôn có cách nhìn “bao quát” và “công bằng” theo lợi ích toàn cục, khó có chuyện cứ làm khác hơn vì mình có tiền.

k
Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc (KTS Nguyễn Ngọc Chân)

k
Bưu điện Bờ Hồ – 1975 (KTS Nguyễn Kim)

Trong xây dựng khu ở, khác với đô thị tư bản, phần hấp dẫn luôn ở tầng dưới với những cửa hàng và dịch vụ quay ra đường phố, trong những khu ở xã hội chủ nghĩa với hình thức tiểu khu và khu nhà ở, mua bán dịch vụ thường lại được tập trung vào những trung tâm theo cấp bậc. Người ta cố gắng đảm bảo cho trẻ em khi tới nhà trẻ, hay trường tiểu học phải có khoảng cách gần và không qua những luồng xe cộ đông đúc. Thay cho sự tấp nập bên ngoài khu nhà, là sự náo động với hình ảnh của trẻ nô đùa từ phía bên trong, nơi có vườn của nhóm nhà ở và vườn tiểu khu, có nơi nghỉ yên tĩnh cho người lớn, gắn với khu cây xanh chung, tạo khả năng tối đa cho sự giao tiếp. Không phải ít căn cứ khi mà người phương Tây, nhất là những người Mỹ bình thường luôn mong có được những nơi ở theo kiểu tiểu khu, phổ biến trong hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa, cách ở vốn được nghiên cứu và thí điểm ở Anh sau chiến tranh thế giới thứ 2 ở một số thành phố, mà về sau không có điều kiện thực hiện. Dù chưa phải đã giải quyết được mọi yêu cầu cuộc sống nơi ở một cách trọn vẹn, dù người ta còn vẫn nghĩ tiếp cách hoàn thiện, mới là chỉ dẫn mà chưa quy định áp dụng chặt chẽ, thì cách tổ chức ở này đã có những ưu điểm nổi trội đậm tính nhân văn. Trong đô thị, kiến trúc nhà biệt thự ít phát triển, thường được cân nhắc cẩn thận từ quy hoạch. Mọi người ít ai nghĩ về một dinh cơ cho riêng mình, càng không có khái niệm về “nhà ở xã hội” hoặc “nhà ở cho người thu nhập thấp”
Đều xuất phát từ hạ tầng kinh tế phát triển muộn, hoặc đã bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, Kiến trúc xã hội chủ nghĩa thế kỷ 20 chưa phải đã đến thời kỳ của thép và kính, dù một số nước như Hungary, Tiệp khắc, Cộng hòa dân chủ Đức đã đi trước một bước. Nhìn chung, bê tông vẫn là kết cấu chủ yếu trong những công trình xây dựng.

Riêng ở Việt Nam chúng ta, sự khác biệt với các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô và Đông Âu càng rất đáng kể khi mà điều kiện hòa bình và chiến tranh đan xen, điểm xuất phát lại thấp và lạc hậu. Dù cố gắng nhưng ở Việt Nam vẫn chưa đâu có được một tiểu khu ở xây dựng đồng bộ. Chúng ta đã cố gắng vận dụng những kinh nghiệm bên ngoài vào hoàn cảnh thực tế với nhiều sáng tạo, kiến trúc biết tranh thủ hướng tới hiện đại cũng như chú ý khai thác tính dân tộc. Tất nhiên, đô thị là một vấn đề tổng thể, một khâu không tốt đủ để làm hỏng những điều đã cố gắng, chưa kể đến những nguyên nhân của duy ý chí, cục bộ, mệnh lệnh và thành tích.

Từ phương châm của những ngày đầu: “Thích dụng, vững chắc, kinh tế và mỹ quan trong điều kiện có thể” tới phương châm của hai mươi năm sau: “Thích dụng, bền vững, tiết kiệm và mỹ quan” là bước đi dài đầy thực tế và trách nhiệm, phù hợp với điều kiện thực tế, vươn lên trong những điều kiện có lúc tưởng như không thể.

k
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (Thiết kế bởi nhóm KTS Liên Xô)

Từ năm 1955 tới năm 1965, những bước đi phơi phới ban đầu, rồi thời kỳ 1965-1975 và từ 1975-1986, hai thời kỳ của chiến tranh và hòa bình, chia cắt và thống nhất, nói chung tư duy và thể hiện kiến trúc ít sự khác biệt, vẫn chung dòng chảy cân nhắc và thận trọng. Công trình kiến trúc từ lúc thiết kế, tới ngày đưa vào sử dụng thường là dăm ba năm hoặc lâu hơn, chúng có thể mang dấu ấn của một thời đạn bom, cả dấu ấn của những ngày hòa bình… Bên những thành công đầy sáng tạo, tất nhiên cũng không tránh khỏi bộc lộ của yếu kém và sơ lược.

Ba mươi năm kế tiếp, Kiến trúc Hà Nội đã thực sự vươn lên đầy ấn tượng. Từ những công trình như Lễ đài trên quảng trường Ba Đình, đến các khu nhà ở tạm thời, Nhà hát nhân dân, trường Đại học Bách Khoa, Nông Lâm, Thương nghiệp, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc; Học viện Thủy Lợi, Cục thống kê Trung ương, Trụ sở Bộ Kiến trúc, Liên cơ Vân Hồ, Bưu điện Bờ Hồ, Hội trường Ba Đình, Nhà khách Chính Phủ; Nhà Văn hóa Thiếu nhi Hà Nội…; các khu nhà ở Kim Liên, Giảng Võ, Trung Tự…; các xí nghiệp công nghiệp như: Trung quy mô; 8 tháng 3, Cao Xà Lá, Bi khóa xích líp, Khăn mặt khăn tay…; các công trình trợ giúp của các nước bạn như Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách Khoa, Viện khoa học Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhi, Khách sạn Thắng Lợi, Cung Văn hóa Lao động… đã góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Miền Bắc và chi viện hiệu quả cho đấu tranh thống nhất đất nước. Đó là những nỗ lực và chắt chiu ở những thời khắc đáng nhớ suốt bao năm tháng hào hùng, là thời kỳ kiến trúc đã để lại những dấu ấn hết sức quan trọng:
– Ý thức và lòng tự hào là công dân của một nước Việt Nam độc lập, được khơi dậy trong thế hệ KTS Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương. Họ lao động hối hả như để bù đắp nỗi chờ đợi và khát khao của những ngày còn ở Chiến khu kháng chiến. Lực lượng KTS mới nhanh chóng được đào tạo từ trong và ngoài nước.
– Là thời kỳ chuyển đổi của hình thức Kiến trúc xây bằng gạch đá chuyển sang Kiến trúc với khung chịu lực bằng bê tông cốt thép, sàn lắp bằng panel.
– Kiến trúc lắp ghép phát triển nhất là trong xây dựng nhà ở. Từ block nhỏ sang tấm lớn, tấm bê tông xỉ khung bê tông cốt thép, tấm tường và sàn đúc tại hiện trường (tấm sàn polygon), tấm đúc tại nhà máy, thí điểm xây nhà bằng cốp pha trượt, bằng kích nâng sàn… Vào những năm cuối, giải pháp đúc bê tông tại chỗ được trộn tại nhà máy vận chuyển và bơm lên cao chiếm ưu thế.

Trân trọng quá khứ là nét đẹp của dân tộc ta. Nhà nước cũng đã có chủ trương gìn giữ những công trình Kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ người Pháp thống trị, không câu nệ dù công trình từng là công cụ bóc lột và đàn áp dân tộc ta một thời, song cũng không vì thế mà máy móc cái gì cũng giữ. Đó là cách nhìn tôn trọng quá khứ, tôn trọng di sản, biết chọn lọc, làm phong phú và liên tục cầu nối của chiều dài Hà Nội đô thị hóa, một Thành phố nhiều ký ức. Với tinh thần ấy, chắc chắn những công trình tiêu biểu của giai đoạn 1954 – 1986, mà nhiều người vẫn gọi là của Thời đại Hồ Chí Minh, trong tình cảm của người dân Thủ đô càng sâu nặng biết chừng nào.

Ba mươi năm ấy, với Kiến trúc thực sự là chuỗi thời gian đầy bất trắc và biến động, nhưng lại cũng đầy thử thách và khám phá, qua đó mà hình thành một Nền kiến trúc Việt Nam mới, vững vàng cho tới hôm nay – Những công trình Kiến trúc, mà hình ảnh đã đi cùng với bài ca chiến thắng cũng như gắn với sự gan góc hy sinh của một dân tộc.

KTS Lê Văn Lân