Nắng Ba Đình

Người về đem tới ngày vui, mùa thu nắng toả Ba Đình…” – Đó là câu hát trong bài “Ca ngợi Hồ Chủ Tịch” của cố nhạc sỹ Văn Cao. Câu hát có ca từ như một câu thơ, và tác giả mang tinh thần của người chép sử. Bao nhiêu năm qua, hình ảnh Ba Đình trong nắng mùa thu trở thành một hình ảnh đẹp điển hình mà vẫn chân thực. Nắng lung linh trên quảng trường Ba Đình lịch sử, làm xao xuyến những con tim, gợi nhắc về một ngày mùa thu – ngày 2/9/1945; tại nơi đây, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Vườn hoa Rond Point Puginier nhìn từ phía Đông Nam, sau là Vườn hoa Ba Đình rồi trở thành Quảng trường Ba Đình lịch sử. Công trình phía trên là phủ Toàn quyền (nay là phủ Chủ tịch). Ảnh tư liệu.

Lịch sử

Đầu thế kỷ 20, khu vực phía tây cổng thành Hà Nội là một khoảng trống. Đó là một khu đất hoang, cùng hồ ao mới được san lấp. Công trình phủ Toàn quyền là một trong những công trình đầu tiên người Pháp xây dựng ở khu vực này; tiếp theo là một số công trình khác. Cùng với việc phát triển xây dựng công trình, khu vực này đã được quy hoạch thành một vườn hoa kiểu gần như giao lộ, đặt tên là Rond Point Puginier, còn gọi là quảng trường tròn (rond point: điểm tròn) hay vườn hoa Puginier (Puginier là tên một vị cha cố).

Cho tới trước năm 1945, vườn hoa Puginier không thay đổi nhiều so với sự khởi đầu của nó. Nó có nằm trong dự án quy hoạch nhưng không được triển khai. Tuy vậy, về kiến trúc công trình có sự đóng góp một vài công trình đáng kể sau công trình phủ Toàn quyền, đó là trường Albert Sarraut ở phía bắc và Sở Tài chính ở phía nam.

Cách mạng tháng tám thành công, chính tại nơi này Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cái tên Quảng trường Ba Đình được biết đến từ đó. Nhưng phải nói rằng, không phải vào thời điểm 2/9/1945, nơi đây mới mang tên Quảng trường Ba Đình. Tên vườn hoa Ba Đình được bác sỹ Trần Văn Lai – thị trưởng Hà Nội của chính phủ Trần Trọng Kim đặt thay cho tên cũ Rond Point Puginier. Chỉ trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi từ 20/7 đến 19/8/1945 – thời điểm chính quyền về tay nhân dân, thị trưởng Trần Văn Lai đã có công đổi tên rất nhiều địa danh và đường phố Hà Nội từ tên Pháp sang tên các anh hùng, danh nhân nước Việt. Tên Ba Đình được đặt để tưởng nhớ cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nghĩa quân Đinh Công Tráng ở vùng Ba Đình, huyện Nga Sơn, Thanh Hoá (năm 1886-1887). Đã có rất nhiều sự lựa chọn địa điểm cho cuộc mít tinh ngày 2/9/1945, nhưng cuối cùng vườn hoa Ba Đình được chọn, và trở thành Quảng trường Ba Đình.

Và cái tên Quảng trường Ba Đình đã đi khắp thế giới cùng với sự ra đời của nước Việt Nam độc lập!

Sau đó, Quảng trường Ba Đình có tên là Quảng trường Độc lập. Và trong thời gian Pháp tạm chiếm Hà Nội (1947-1954), Phủ Toàn quyền Pháp đổi tên là Vườn hoa Hồng Bàng. Năm 1954, quân ta về tiếp quản thủ đô và nơi đây lại được trả lại tên Quảng trường Ba Đình; cạnh đó Phủ Toàn quyền trở thành Phủ Chủ tịch.

Sau này có nhiều ý kiến đổi tên Quảng trường Ba Đình thành Quảng trường Độc lập hay Quảng trường 2/9 để gắn liền với sự kiện hơn, song Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ tên này vì nó đã đi vào lịch sử và có tính phổ cập.

Cho tới bây giờ, Quảng Trường Ba Đình vẫn là trung tâm chính trị, nơi đã diễn ra bao nhiêu sự kiện trọng đại của đất nước. Và đây cũng là nơi có quy hoạch và quần thể kiến trúc đẹp nhất ở Hà Nội.

Quy hoạch – Kiến trúc

Quảng trường Ba Đình được giới hạn bởi: Đường Hoàng Văn Thụ ở phía Bắc, đường Độc lập ở phía Đông, đường Hùng Vương ở phía Tây (đây là trục chính mang tính nghi lễ của Quảng trường), đường Chùa Một cột ở phía Nam. Không gian quảng trường còn mở rộng ra các hướng bắc – nam đường Hùng Vương, hướng Đông với trục đường Bắc Sơn, hướng Đông Nam với trục đường Điện Biên Phủ. Kiến trúc của Quảng trường Ba Đình trải qua nhiều thời kỳ và chịu nhiều ảnh hưởng của những trường phái khác nhau. Tuy nhiên, cho tới bây giờ, tất cả vẫn hài hoà, bổ sung cho nhau để tạo nên một tổng thể thống nhất mà đa dạng. Về mặt lịch sử, có thể chia ra làm hai thời kỳ:

– Thời kỳ trước 1954: Các kiến trúc do người Pháp xây dựng, trong đó có các công trình lớn có ảnh hưởng và tạo nên bộ mặt Quảng trường là:

  • Công trình Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch), xây dựng năm 1902. Đây là một công trình điển hình của phong cách Tân cổ điển, với quy tắc đối xứng nghiêm ngặt, nhấn mạnh hai khối hai bên và có nhiều chi tiết trang trí cổ điển
  • Công trình Trường Albert Sarraut – là trường bảo hộ (nay là Cơ quan Trung ương Đảng), xây dựng năm 1919. Công trình này là một tổ hợp khá nhiều khối kiến trúc mà khối chính quay mặt ra phía quảng trường, mang phong cách cổ điển
  • Công trình Sở Tài chính (nay là Trụ sở Bộ Ngoại giao), xây dựng năm 1925. Công trình do kiến trúc sư Ernest Hébrard – người để lại nhiều dấu ấn cho kiến trúc Hà Nội, thiết kế. Đây là một công trình tiêu biểu cho phong cách kiến trúc Đông Dương, khai thác nhiều yếu tố bản địa truyền thống, chú ý tới các điều kiện khí hậu địa phương.

– Thời kỳ sau 1954:

Các kiến trúc mới ở đây do các kiến trúc sư Liên Xô (cũ) và kiến trúc sư Việt Nam thiết kế. Công việc thiết kế xây dựng các công trình ở đây không nhiều song trải qua một thời gian dài.

  • Công trình Hội trường Ba Đình, hoàn thành xây dựng năm 1963. Hội trường Ba Đình nằm phía đông Quảng trường; do các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Trần Hữu Tiềm thiết kế. Hội trường Ba Đình được sử dụng là nơi họp Quốc hội và tổ chức các hoạt động mít tinh khác của Đảng và Nhà nước. Kiến trúc công trình mang dáng dấp điển hình của thể loại này, có bố cục cân xứng, tỷ lệ vừa phải. Năm 2008, Hội trường Ba Đình bị phá dỡ để nhường chỗ cho toà nhà Quốc hội mới trong tương lai.
  • Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Lăng Bác): Dự án này được chuẩn bị sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, với mục đích bảo vệ lâu dài thi hài của Bác. Lăng được khởi công ngày 2/9/1973, nằm ở phía Tây, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, và khánh thành ngày 29/8/1975. Công trình được thiết kế và thi công với sự trợ giúp của các chuyên gia Liên Xô. Về mặt bố cục tổng thể, đây là công trình chủ thể, quan trọng nhất Quảng trường Ba đình. Quy hoạch, kiến trúc, không gian Quảng trường Ba Đình được định hình cơ bản sau khi xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh: Nằm phía nam, gần Lăng Bác, được lập kế hoạch ngay sau khi Bác qua đời. Nhưng từ khi bắt đầu, sau 20 năm (từ 1970 đến 1990), Bảo tàng Hồ Chí Minh mới được khánh thành. Công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh mang phong cách hiện đại với những mảng lớn, hình khối, đường nét mạnh mẽ; cũng được thiết kế và thi công với sự trợ giúp của các chuyên gia Liên Xô. Bảo tàng Hồ Chí Minh không hiện diện cùng quần thể kiến trúc “có mặt” trực tiếp trên Quảng trường Ba Đình nhưng là thành phần không thể thiếu trong mối quan hệ các công trình nơi đây.
  • Đài Tưởng niệm Anh hùng liệt sỹ hy sinh vì Tổ Quốc: Là công trình xây dựng gần muộn nhất trong quần thể kiến trúc ở Quảng Trường Ba đình. Đài tưởng niệm liệt sỹ nằm cuối đường Bắc Sơn, là trục đường thẳng với Lăng Bác phía đông quảng trường. Tác giả công trình là kiến trúc sư Lê Hiệp. Kiến trúc được xây dựng như bây giờ là kết quả của phương án dự thi trong một cuộc thi tuyển. Đài Tưởng niệm liệt sỹ có hình thức kiến trúc và tỷ lệ hài hoà với cảnh quan chung. Công trình được hoàn thành năm 1994.
  • Công trình Nhà Quốc hội: Là công trình xây dựng mới nhất trong quần thể kiến trúc trên Quảng Trường Ba Đình. Nhà Quốc hội được xây trên nền cũ của Hội trường Ba Đình, với quy mô lớn hơn. Công trình được khởi công xây dựng năm 2009 và hoàn thành năm 2014, do các kiến trúc sư người Đức thiết kế. Công trình có mặt bằng hình vuông 102x102m, cao 39m, gồm 5 tầng nổi và 2 tầng hầm. Đây là công trình có quy mô lớn nhất trên Quảng trường Ba Đình. Kiến trúc công trình theo phong cách hiện đại kết hợp với những yếu tố dân tộc.

Một số kiến trúc khác:

Trên khu vực Quảng trường Ba Đình có một số kiến trúc khác, tuy không lớn và không nhìn thấy được từ quảng trường nhưng có giá trị kiến trúc và lịch sử. Đó là Chùa Một cột, nằm giữa Lăng Bác và Bảo tàng Hồ Chí Minh, quần thể Nhà sàn Bác Hồ, nằm giữa Lăng Bác và phủ Chủ tịch, thuộc khuôn viên phủ Chủ tịch.

Hiện nay, Quảng trường Ba Đình vẫn là quảng trường lớn và đẹp nhất Việt Nam. Với kích thuớc 100m x 320m, có 210 ô cỏ, nơi đây có thể chứa được 20.000 người tham dự mít tinh.

 Nắng Ba Đình và chốn thiêng liêng của Hà Nội

Mùa thu sang. Ba Đình nắng toả. Hồi ức về những ngày mùa thu lịch sử có mới nguyên trong trái tim nhiều người. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nơi đây đã chứng kiến bao sự kiện lịch sử của Đất nước, và đều gắn với mùa thu: Mùa thu cách mạng năm 1945, mùa thu trở về Hà Nội năm 1954; và mùa thu năm 1969, tại Hội trường Ba Đình, Việt Nam và bạn bè quốc tế đã thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ba Đình trở thành đất mảnh đất thiêng liêng những dấu ấn lịch sử không bao giờ phai mờ, cùng những kiến trúc tâm linh hiện hữu: Lăng Bác, Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ. Và đặc biệt hơn nữa, với việc phát lộ Hoàng Thành Thăng Long ngay bên quảng trường; Ba Đình càng trở nên ý nghĩa và thiêng liêng hơn bao giờ hết.

Mùa thu sang. Đi qua những con đường quanh Quảng trường Ba Đình hay đứng giữa quảng trường, nhìn bầu trời xanh, đón nắng, đón làn gió mùa thu thổi nhẹ, thấy được âm hưởng từ xưa vọng về, nghe lòng bồi hồi xao xuyến.

Bài & ảnh: Hà Thành