Phát triển khu nông nghiệp công nghệ cao – Giải pháp phát triển Bắc Giang theo hướng bền vững

Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ với lợi thế là phát triển nông, lâm nghiệp, thương mại, dịch vụ, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Nông, lâm nghiệp Bắc Giang đang có sự chuyển dịch cơ cấu một cách năng động, tích cực. Công nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn có nhiều tiềm năng của tỉnh, các làng nghề truyền thống cũng được khôi phục và phát triển. Ngoài ra, Bắc Giang còn có tiềm năng du lịch phong phú với thảm rừng nguyên sinh, hệ thống sông, hồ cùng với hơn 100 di tích lịch sử văn hoá lớn. Với những tiềm năng đa dạng về kinh tế, văn hóa, môi trường giầu có, việc lựa chọn một hướng phát triển với tầm nhìn dài hạn cho đô thị Bắc Giang là một chủ trương hết sức có trách nhiệm của lãnh đạo tỉnh.

Thực tế xây dựng và phát triển đô thị, chúng ta đã phải chứng kiến những đô thị càng phát triển về kinh tế, càng bộc lộ rõ những bất cập về văn hóa, môi trường, trong đó có cả hai thành phố lớn nhất cả nước là Hà Nội và TP HCM. Việc khắc phục những bất cập đó vừa tốn kém, vừa có những vấn đề không thể khắc phục được trong thời gian dài. Hiện nay, bên cạnh những đô thị phát triển lên nhờ yếu tố tạo thị ban đầu là công nghiệp (đô thị công nghiệp), với nhiều nhược điểm như chúng ta đã biết, còn có những đô thị phát triển nhờ nông nghiệp và dịch vụ, du lịch tại các nước phát triển. Đó đang là các đô thị khắc phục được nhiều nhược điểm của đô thị công nghiệp, phát triển bền vững hơn cho kinh tế, môi trường và xã hội

Đứng trước thực trạng đó, việc lựa chọn một hướng phát triển mới theo hướng bền vững cho đô thị Bắc Giang là một việc làm cần thiết. Với tinh thần đó, tác giả muốn tham gia đóng góp về việc lựa chọn mô hình phát triển các của đô thị Bắc Giang – Hướng tới một đô thị phát triển bền vững.

1. Từ đô thị công nghiệp đến đô thị bền vững

Quá trình đô thị hóa từ tập trung sang phi tập trung là một hướng phát triển bền vững cho các đô thị. Gần đây còn xuất hiện mô hình đô thị nông nghiệp, đây là một giải pháp mới, có rất nhiều ưu điểm. Cấu trúc đô thị là một không gian phức hợp với các đô thị ở trung tâm, các vùng đệm, các đô thị vệ tinh. Dân số phân bố rộng khắp trên địa bàn, nhưng các hoạt động nông nghiệp lại rất tập trung và có tính thâm canh cao. Đặc trưng của loại đô thị này là các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp đan xen với nhau, có sự lồng ghép giữa làng quê và thị trấn. Trong đó, người ta có thể xây dựng những khu công viên quy mô lớn tích hợp với phát triển nông nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu giải trí và thư giãn, đồng thời cải thiện vi khí hậu trong đô thị.

Gần đây, GS.TS.KTS Tom Nielsen, Đại học Kiến trúc AARHUS, Đan Mạch đã phát biểu: Cách tốt nhất để phát triển đô thị là xây dựng dựa trên lịch sử phát triển của chính đô thị. Hãy phát triển lên từ các thành phố lớn trung tâm và các thành phố nhỏ đang tồn tại xung quanh chúng, có thể là các thị trấn, làng xã xung quanh và đặt tất cả vào một mạng lưới kết nối hiệu quả (Nguồn: Hội thảo Các giải pháp đô thị bền vững nhằm phục vụ công cuộc phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam. Tổ chức trong tuần lễ Đan Mạch, do Đại sứ quán Đan Mạch phối hợp với BXD, ĐH Xây dựng và ĐH Kiến trúc TP HCM”. Lịch sử phát triển các mô hình đô thị tiên tiến không chỉ do các ý chí chủ quan mà thành, mà nó còn liên quan tới các động lực khách quan khác. Chúng ta không thể nói tới đô thị nén, đô thị thông minh nếu như chúng ta chưa có hệ thống hạ tầng giao thông, thông tin tiên tiến… Nói cách khác, không thể tách rời mong muốn phát triển không gian đô thị với phần khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Vì vậy, để có một đô thị phát triển bền vững, chúng ta cần phải xem xét đến khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến trong đô thị, trong đó phát triển các KCN, cụm CN và tiểu thủ công nghiệp tại địa phương là các mô hình không gian đáp ứng cho việc triển khai các công nghệ đó

Hình 1. Sơ đồ minh họa sự phát triển của cấu trúc đô thị dưới tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp . (Nguồn Polycentric city and urban commuting 49th ISOCARP Congress 2013 và từ webside tapchikientruc.vn)

2. Xây dựng và phát triển các KCN, CCN, TTCN tại Bắc Giang hướng tới phát triển bền vững

Hiện nay, tỉnh Bắc Giang có 06 Khu công nghiệp (KCN) bao gồm: Đình Trám, Song Khê – Nội Hoàng, Quang Châu, Vân Trung, Việt Hàn và Hòa Phú, tổng diện tích 1.462 ha. Tỷ lệ lấp đầy của 4 khu khoảng 50%, trong đó có 2 khu đang xây dựng chưa có doanh nghiệp đầu tư. Ngoài ra, còn có 38 cụm công nghiệp với tổng diện tích 1.208 ha. Trong đó, UBND cấp huyện làm chủ đầu tư 21 cụm công nghiệp với tổng diện tích 314 ha. (https://www.bacgiang.gov.vn/). Chủ yếu các KCN phân bố ở phía Nam, gần TP Bắc Giang và Hà Nội, tại các huyện Hiệp Hòa, Yên Dũng và Việt Yên. Vị trí này thuận lợi hơn cho phát triển công nghiệp do có quan hệ kinh tế trực tiếp với Hà Nội, Bắc Ninh. Theo điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Bắc Giang đến 2030 sẽ có 1 đô thị loại 2, 03 đô thị loại 4, còn lại là 17 đô thị loại 5. Nhìn vào sự phát triển của công nghiệp Bắc Giang (thông qua khả năng lấp đầy) cho thấy: Đa số các doanh nghiệp đăng ký vào KCN là các doanh nghiệp nước ngoài, do đó các sản phẩm được làm ra chủ yếu là hàng hóa tham gia vào chuỗi hàng hóa toàn cầu. Vì vậy, các loại hình công nghiệp này chủ yếu tạo nguồn lực tăng trưởng kinh tế chung cho khu vực đô thị, trong khi đó ít có tác động tới 70% phần còn lại là nông dân và nông nghiệp.

Nhìn vào cơ cấu kinh tế Bắc Giang có thể thấy công nghiệp – xây dựng đóng góp nhiều nhất khoảng 42% ; dịch vụ 38%; 20% là nông nghiệp (số liệu từ webside bộ công thương, cục công thương địa phương http://arit.gov.vn/). Tuy nhiên, dân cư đô thị chỉ chiếm khoảng 15%, còn lại tới 85% dân cư số tại nông thôn. Thu nhập và sự tăng trưởng chủ yếu tại các đô thị lớn, cho nên đó chính là sự tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền vững. Có thể Bắc Giang vừa phát triển công nghiệp như hiện nay, đồng thời kết hợp theo một hướng khác bắng cách chuyển đổi một số KCN, CCN đô thị trở thành các KCN, CCN phục vụ nông nghiệp – Đó là các KCN, CCN chế biến và phục vụ cho các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh trở thành hàng hóa có chất lượng và giá trị gia tăng cao. Để có thể hiện thực hóa mục tiêu trên, việc nghiên cứu xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao (KNNCNC) làm động lực phát triển là rất cần thiết. Đây cũng là một cách phát triển công nghiệp giúp hình thành các đô thị đi lên từ lịch sử như chuyên gia Đan Mạch đã chia sẻ ở trên.

Phát triển công nghiệp để thúc đẩy nhanh hơn nữa phát triển kinh tế xã hội tại Bắc Giang là con đường tất yếu bên cạnh phát triển nông nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận các hoạt động kinh tế một cách đơn lẻ, thiếu sự kết hợp sẽ dẫn đến không phát huy được tổng hòa của sự phát triển. Nói cách khác, sự phát triển KCN, CCN hay TTCN, làng nghề… tại Bắc Giang phải được gắn bó với nhau để làm nền tảng cho sự phát triển đô thị. Chất “keo” dính cho sự gắn kết đó chính là khả năng áp dụng các công nghệ tiên tiến của giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0. Cần mạnh dạn từ chối các loại hình sản xuất, công nghệ sản xuất dựa trên tài nguyên, tập trung phát triển áp dụng các công nghệ dựa vào tài nguyên nhân văn hướng tới sự phát triển bền vững. Chính sự phát triển của công nghệ cao trong nông nghiệp trong 20 năm trở lại đây, hạt nhân là các khu nông nghiệp công nghệ cao (KNNCNC) đã làm xuất hiện các mô hình nông nghiệp đô thị, là mô hình trồng trọt trong các không gian nhỏ hẹp của đô thị nhằm tạo ra rau quả, hoa phục vụ cho nhu cầu đô thị, đồng thời cũng tạo ra cảnh quan nghỉ ngơi, kết hợp sử dụng các chất thải đô thị cho việc canh tác…tạo điều kiện giảm thiểu ô nhiễm đô thị, tiết kiệm năng lượng. Sự có mặt của nông nghiệp đô thị đã giúp cho cảnh quan, môi trường đô thị được cải thiện, trong đó người dân được hưởng những ích lợi từ đó. So với canh tác truyền thống, NNĐT hiệu quả hơn, bền vững hơn, sản phẩm hữu cơ trở nên dễ tiếp cận hơn, tạo không gian nhỏ thân thiện, cho phép thưởng thức sản phẩm tươi sống quanh năm. NNĐT đã và đang góp phần rất lớn trong việc tham gia giải quyết các vấn đề khó khăn của các quốc gia trong quá trình đô thị hóa. NNĐT sẽ tiếp tục là giải pháp và là hướng đi chiến lược cho sự phát triển nhanh, bền vững của các đô thị sinh thái trong tương lai. Khi nông nghiệp áp dụng công nghệ cao đã có chỗ đứng trong đô thị thì chúng ta cũng có thể nghĩ tới một đô thị được phát triển từ nền tảng nông nghiệp trên cơ sở phát triển công nghiệp. Đất nước ta nói chung và Bắc Giang nói riêng về cơ bản trong lịch sử cũng như hiện nay là một nước nông nghiệp, do đó việc phát triển các đô thị nông nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi cũng như tránh được các nhược điểm thiếu bền vững của đô thị công nghiệp gây ra.
Nông nghiệp đô thị là tập hợp các hình thức sản xuất nông nghiệp ở khu vực nội thị và ngoại thị với những đặc trưng chung về chức năng, tính chất, mục đích và trình độ phát triển, gồm các loại hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp du lịch… mà nhiều quốc gia trên thế giới đang khuyến khích phát triển.

Hình 3. Sơ đồ phân bố các KCN tại Băc Giang cho thấy công nghiệp chủ yếu chỉ tập trung quanh các vùng gần Hà Nội và Bắc Ninh. Các khu vực còn lại của tỉnh chủ yếu là đất nông nghiệp

Để tạo cơ sở cho sự phát triển đô thị nông nghiệp, Bắc Giang có thể hướng quy hoạch phát triển các KCN, CCN, TTCN, tạo tiền đề cho sự hình thành các đô thị nông nghiệp phát triển bền vững. Có thể lựa chọn một phần diện tích từ bên trong các KCN do tỉnh đầu tư cơ sở hạ tầng để phát triển thí điểm một khu vực KNNCNC. Khi phát triển tốt sẽ nhân rộng để chuyển hướng một phần diện tích phát triển công nghiệp hàng hóa sang công nghiệp phục vụ cho phát triển nông nghiệp

Hiện nay, với 06 KCN của Bắc Giang, mới chỉ có 01 KCN lấp đầy 100% (Đình Trám) còn lại 03 chưa lấp đầy được tới 50% và 02 còn đang xây dựng. Ngoài ra, còn kể đến 21/38 CCN do UBND các huyện là chủ đầu tư (17 CCN do doanh nghiệp đầu tư), trên tổng diện tích 314/1208 ha cho thấy việc thu hút đầu tư phát triển công nghiệp chưa hoàn toàn thuận lợi. Đây vẫn có thể coi là các dạng phát triển công nghiệp đô thị dựa vào hạ tầng kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, không tiết kiệm năng lượng và thiếu bền vững. Với tốc độ đô thị hóa như hiện nay, Bắc Giang nên chuyển hướng với các chính sách ưu tiên xây dựng KNNCNC, tạo tiền đề thu hút nhiều doanh nghiệp sản xuất phục vụ cho nông nghiệp, hình thành một chuỗi sản xuất công nghiệp với nguồn nguyên liệu đầu tiên từ các cánh đồng hoặc trang trại, tiếp theo đó là sự hình thành các cụm công nghiệp thu gom, bảo quản, sơ chế… để đưa được các sản phẩm đó tới các KCN có quy mô sản xuất lớn hơn, công nghệ cao, chế biến sâu để tạo thành các sản phẩm cuối cùng đáp ứng chất lượng tiêu dùng và xuất khẩu. Nếu hình thành được một chuỗi sản xuất như vậy, người nông dân sẽ là những công nhân nông nghiệp, họ không phải di cư, tập trung vào các thành phố mà vẫn có thu nhập tốt tại nơi mình đang sống. Khi thu nhập tại các vùng quê không quá chênh lệch so với đô thị tập trung thì đa số người dân sẽ có lựa chọn làm việc tại quê hương, đó là tiền đề cho sự hình thành các đô thị nông nghiệp – mô hình đô thị phát triển bền vững. Sự hình thành các đơn vị cư trú ổn định sẽ giúp cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật, xã hội và môi trường ổn định, không bị quá tải trong thời gian dài

Hình 4. Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa phát triển khu nông nghiệp công nghệ cao (KNNCNC) tới sự hình thành và phát triển làng nghề, TTCN, CCN và KCN theo hướng phát triển bền vững

Việc sử dụng công nghệ cao trong nông nghiệp sẽ giúp hình thành sự gắn kết giữa các hoạt động sản xuất kinh tế với nhau: Nông nghiệp công nghệ cao kết hợp du lịch; nông nghiệp công nghệ cao kết hợp xanh hóa đô thị; nông nghiệp công nghệ cao kết hợp nghỉ dưỡng; nông nghiệp công nghệ cao kết hợp với công nghiệp chế biến thực phẩm; nông nghiệp công nghệ cao kết hợp hạn chế ô nhiễm công nghiệp và đô thị… các mô hình này được kết hợp đa dạng tùy theo nhu cầu và thế mạnh của mỗi địa phương. Tuy nhiên, nông nghiệp công nghệ cao sẽ vẫn là chất keo gắn kết các thành phần khác để hình thành lĩnh vực công nghiệp hóa nông nghiệp giúp hình thành ĐTBV.

Với những phân tích nêu trên, tác giả nhận thấy các KCN, CCN của Bắc Giang nên tổ chức lại theo hướng kết nối với nhau, kết nối với sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và vùng sản xuất (gồm cả trồng trọt và chăn nuôi..) để từ đó hình thành một Bắc Giang với các đô thị phát triển từ nông nghiệp bền vững.

Với mô hình phát triển nêu trên, người nông dân có thể trực tiếp và gián tiếp trở thành thành viên của chuỗi sản xuất từ cánh đồng tới siêu thị, được hưởng lợi từ thành quả của sự phát triển. Đó cũng là sự bền vững xã hội, tiêu chí quan trọng của phát triển bền vững.

3. Quy hoạch xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao (KNNCNC)

Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là xu thế phát triển nhằm tạo ra những đột phá mới trong sản xuất nông nghiệp, tạo cơ sở chuyển nhanh nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghệ cao được tích hợp ứng dụng trong nông nghiệp công nghệ cao bao gồm: Công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến…), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học; các giống cây trồng, vật nuôi năng suất, chất lượng cao…; các quy trình canh tác tiên tiến, canh tác hữu cơ… cho hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị sản xuất.

KNNCNC tập trung thực hiện hoạt động ứng dụng thành tựu nghiên cứu và phát triển công nghệ cao vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ: Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; phòng, trừ dịch bệnh; trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao; tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong nông nghiệp; bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp; phát triển doanh nghiệp NNCNC và phát triển dịch vụ CNC phục vụ nông nghiệp. Vai trò chính của KNNCNC là nghiên cứu, nghiên cứu ứng dụng; thử nghiệm; trình diễn công nghệ cao; đào tạo nguồn nhân lực; sản xuất sản phẩm NNCNC. Trong đó 3 chức năng: nghiên cứu, SX thử nghiệm, trình diễn mang tính phổ biến, 2 chức năng còn lại tùy đặc điểm của từng KNNCNC.

Các KNNCNC thường được phân thành 02 khu vực chức năng chính: Đó là khu hành chính và trung tâm dịch vụ (chiếm khoảng 10%); khu thứ 2 là khu vực sản xuất và HTKT (60 dành cho sản xuất và 30% dành cho giao thông và HTKT)

  • Trong khu hành chính dịch vụ sẽ có thể bao gồm: Khu nghiên cứu ứng dụng-khu đóng: Đây là khu vực các phòng thí nghiệm với những điều kiện về cơ sở hạ tầng chất lượng cao phục vụ cho công tác nghiên cứu; Khu vực thử nghiệm: Là nơi bước đầu áp dụng các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm vào thực tế. Khu vực này được bố trí các loại nhà lưới, nhà kính, nhà màng… phù hợp với các điều kiện sản xuất nông nghiệp áp dụng công nghệ cao. Ngoài ra có thêm các khu đất sạch nhằm áp dụng các nghiên cứu ngoài nhà. Khu vực này yêu cầu có HTKT, hạ tầng thông tin đáp ứng yêu cầu thử nghiệm ; Khu trình diễn là khu vực giới thiệu các kết quả nghiên cứu áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Đây là một khu vực dân dụng, mang tính triển lãm nhằm thu hút người dân, doanh nghiệp quan tâm tới tìm hiểu. Đây là khu vực có thể phát triển thêm các chức năng du lịch; Khu vực đào tạo: Đây là khu vực mở các khóa đào tạo cho cán bộ, người dân, doanh nghiệp các địa phương. Không gian được tổ chức như một trường học; khu vực bán sản phẩm (dạng sàn đấu giá)
  • Khu vực sản xuất NNCNC: Đây là khu vực đất dành cho các nhà đầu tư NNCNC. Họ là nhà đầu tư thứ cấp, thuê đất trong KNNCNC để triển khai dự án nông nghiệp áp dụng CNC của mình. Khu vực này thường chiếm tới khoảng 50-60% tổng diện tích đất KNNCNC gồm: Khu sản xuất giống rau, hoa, cây ăn quả; Khu sản xuất hoa, cây cảnh giá trị cao; Khu sản xuất rau quả thực phẩm an toàn; Khu lưu giữ, phân phối giống vật nuôi; Khu sản xuất giống; Khu kho bảo quản lưu giữ sản phẩm; Các công trình hạ tầng kỹ thuật; Hệ thống giao thông và bãi đỗ xe

Có thể lấy ví dụ của KNNCNC ở Hà Nội, và khu nông nghiệp CNC ở Đan Mạch tác động vào quy hoạch khu đô thị nông nghiệp làm minh chứng cho vấn đề nêu trên. Trên hình 5a là khu nông nghiệp công nghệ cao phường yên nghĩa hà đông, Hà nội đang hoàn thiện và kêu gọi đầu tư. Đó là một khu vực sản xuất NNCNC ngay trong lòng đô thị (Quận Hà Đông). Hình 5b là khu đô thị Brondby Haveby (Brondby Garden City) nằm ở vùng ngoại ô Copenhagen, Đan Mạch, được thiết kế bởi kiến trúc sư Erik Mygind. Khu dân cư nông nghiệp đô thị này không chỉ cung cấp một không gian chăn nuôi, trồng trọt mà còn nhằm tăng cường tính tương tác giữa cộng đồng, xã hội giữa các cư dân trong khu dân cư. Hình 5c là các giải pháp trồng cây trong không gian hẹp của đô thị. Những ví dụ nêu trên phản ánh một sức mạnh mới trong PTBV

Kết luận

  • Công nghiệp hóa kéo theo quá trình đô thị hóa hình thành các đô thị công nghiệp thiếu bền vững, quá tải về hạ tầng kỹ thuật, xã hội và môi trường;
  • Cuộc cách mạng công nghiệp 3.0 và 4.0 đã và đang đem lại những cơ hội mới cho sự phát triển. Cụ thể, công nghệ đã làm thay đổi các phương pháp sản xuất nông nghiệp dẫn đến quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp (gọi tắt là công nghiệp nông nghiệp), hình thành nền sản xuất sạch hơn và hiệu quả hơn, tạo điều kiện cho sự hình thành quá trình đô thị hóa nhờ nông nghiệp. Cũng từ đó chúng ta có đô thị nông nghiệp;
  • Gắn phát triển các KCN với phát triển nông nghiệp của Bắc Giang theo hướng hình thành trong một số các KCN đã có hạ tầng kỹ thuật các cụm công nghiệp chuyên ngành chế biến nông sản và phục vụ sản xuất nông nghiệp (thay cho mô hình KCN đa ngành lắp ráp, dệt may, VLCD… đã có ở khắp mọi nơi), đồng thời xem xét việc xây dựng các KCN sinh thái hoặc các KNNCNC phục vụ phát triển nông nghiệp;
  • Trên cơ sở phát triển công nghiệp nông nghiệp sẽ giúp hình thành các đô thị nông nghiệp bền vững gồm 2 phần chính là phần NNCNC trong đô thị sẽ cung cấp thực phẩm sạch tại chỗ, còn phần NNCNC thâm canh vùng ven đô sẽ là nguồn nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy chế biến trong các KCN. Như vậy, mọi người dân đều được tham gia vào quá trình tăng trưởng kinh tế của tỉnh, giúp tăng trưởng đó trở nên bền vững với thời gian. Lợi ích của tăng trưởng đem lại cho mọi người dân địa phương;
  • Để có thể phát triển bền vững, Bắc Giang cần có các chính sách mang tính định hướng dài hạn, trong đó khuyến khích đầu tư vào một nền công nghiệp hóa nông nghiệp, trong đó vai trò then chốt là NNCNC, nhằm tạo ra các sản phẩm sạch, giá trị cao nhưng vẫn tiết kiệm tài nguyên để hướng Bắc Giang tới sự phát triển bền vững.

PGS.TS Nguyễn Nam-ĐHXD
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 01-2020)