Sự biến đổi vị thế xã hội của kiến trúc sư Việt Nam qua một thế kỷ (1926-2026)

Một trăm năm trước đây, Ban kiến trúc (Section d’Architecture) Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (l’École des Beaux-Arts de l’Indochine-EBAI) tuyển sinh khóa sinh viên kiến trúc đầu tiên ở Việt Nam. Bài viết này xem xét sự biến đổi vị thế xã hội của người kiến trúc sư (KTS) Việt Nam trong suốt một thế kỷ qua, từ những người thợ thủ công vô danh của cộng đồng đến tầng lớp trí thức tinh hoa của xã hội. Xuyên suốt các giai đoạn lịch sử, từ thời kỳ thuộc địa, kinh tế kế hoạch hóa cho đến bối cảnh mở cửa, vai trò của người thiết kế đã dịch chuyển linh hoạt giữa hình ảnh trí thức dấn thân, chuyên gia kỹ thuật của thể chế cho đến những con người đa năng trong nền kinh tế thị trường. Trong tiến trình chuyên nghiệp hóa đó, di sản đào tạo từ EBAI với trọng tâm là năng lực lý luận, trật tự cú pháp và tư duy bố cục vẫn tồn tại như một phương pháp luận xuyên suốt, giúp giới nghề thích nghi và định hình gương mặt thời đại trước những biến động về thể chế và tư duy xã hội.

Kiến trúc dân gian và những người thợ vô danh của cộng đồng

Trong giai đoạn trước năm 1900, kiến trúc Việt Nam (đặc biệt là nhà ở và đình làng) vận hành theo mô hình kiến trúc dân gian/vô danh. Toàn bộ cộng đồng chia sẻ chung một vốn từ vựng mang ngữ nghĩa chung về không gian (vị trí gian thờ tổ tiên, các quan niệm về phong thuỷ). Người dân không cần một bản vẽ để hiểu “một ngôi nhà” là gì, ý niệm về “cái nhà” đã được mã hóa sẵn trong đời sống vật chất và văn hóa dân gian. Cộng đồng nắm giữ Cái được biểu đạt (ý nghĩa của sự an cư và trật tự của xã hội), còn người thợ cung cấp Cái biểu đạt thông qua vật chất xây dựng (vật liệu xây dựng, kỹ thuật dựng bộ khung vì kèo công trình, chạm khắc trang trí…).

Danh tự KTS Nguyễn Duy Đạt ở ấp Thái Hà năm 1915

Những người thợ không phải là người kiến tạo ra mô thức không gian hoặc những ngữ nghĩa mới. Họ là người nắm giữ những tinh hoa kỹ thuật, hiện thực hóa một văn bản kiến trúc mà cả cộng đồng đã cùng viết sẵn [1]. Họ giao tiếp với nhau thông qua những kinh nghiệm được truyền dạy qua thực hành và truyền khẩu. Trong sản phẩm cuối cùng, tính tác giả bị triệt tiêu vì bản thiết kế đã nằm trong tâm thức cộng đồng.

Ngay kể cả với dòng kiến trúc cung đình do những cơ quan chuyên biệt lo việc xây cất của triều đình phong kiến như Bộ Công với Cục Bách tác, Tượng cục, nhưng ta cũng chỉ thấy phảng phất vài cái tên như Nguyễn An, Vũ Như Tô.

Trường Mỹ thuật Đông Dương và thế hệ chuyên nghiệp đầu tiên

Trong giai đoạn 1900-1925, sự xuất hiện của các người thiết kế chuyên nghiệp ở những vai trò khác nhau Lê Trung Châu (thầu khoán) hay Đỗ Văn Y, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Duy Đạt (hoạ viên) [2], [3] phản ánh quá trình mờ dần đi của mô thức không gian đồng nhất trong một xã hội có nhiều biến chuyển. Họ xuất hiện để giúp người sử dụng phiên dịch những nhu cầu mới thành một hệ thống ký hiệu hữu hình. Tầng lớp chuyên môn mới này không chỉ nắm kỹ thuật, mà quan trọng hơn, họ nắm giữ và xây dựng một hệ hình ngữ pháp mới cho những nguyên tắc thổ mộc xây cất đã tồn tại hàng trăm năm. Lần đầu tiên, một công trình gắn liền với tên tuổi một cá nhân cụ thể, dù là các bia đá hay trên các hồ sơ xây cất.

Tuy nhiên, sự ra đời của Ban Kiến trúc của Trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1926 đánh dấu vị thế mới của những người hành nghề thiết kế xây dựng ở Việt Nam. Đó là bước chuyển từ người thợ thủ công vô danh sang người trí thức tinh hoa. Trong quan điểm truyền thống đào tạo hàn lâm các trường Beaux-Arts của Pháp, KTS được định nghĩa là một nghệ sĩ và nhà tổ chức tổng hợp, chịu trách nhiệm toàn bộ từ ý tưởng đến hình thức nghệ thuật của công trình. KTS phải nắm vững trật tự cú pháp, xác lập các ý tưởng hạt nhân (parti), biểu đạt rõ ràng tính cách và ngữ nghĩa của công trình cũng như tiếp nối những tiền lệ lịch sử. Các lý thuyết kiến trúc là một tập hợp nguyên tắc quy phạm đã được kiểm chứng trong lịch sử kiến trúc phương Tây, để rồi phải gắn chặt với thực hành thiết kế. Kiến trúc, trong tư duy này, là biểu hiện của trật tự xã hội, quyền lực nhà nước và sự tinh hoa văn hoá trong xã hội [4]. Tuy nhiên, khác với quan điểm trí thức theo nghĩa hàn lâm, kinh điển của phương Tây, thế hệ KTS trẻ người Việt từ Trường EBAI lại chọn con đường trí thức dấn thân cùng xã hội.

Cô nhi viện Tong, Văn phòng KTS Luyện – Tiếp – Đức
Nguồn: Trung tâm lưu trữ quốc gia 1

Nếu trước đây, người thợ dân gian sử dụng vốn từ vựng truyền khẩu của cộng đồng để xây dựng sự ổn định, thì thế hệ KTS người Việt mới này bắt đầu sử dụng bản vẽ như một công cụ để trừu tượng hóa tư duy và truyền tải các thông điệp về lối sống và danh tính xã hội mới. Bước chuyển từ người thợ sang KTS cũng là sự chuyển dịch từ kỹ năng thực hành sang năng lực lý luận. Các KTS thế hệ đầu như Nguyễn Cao Luyện hay Hoàng Như Tiếp đã từ chối vai trò thụ động của những họa viên cho người Pháp. Với họ, kiến trúc không còn dừng lại ở việc xây dựng cấu trúc vật lý, mà trở thành công cụ để cải tạo xã hội. Những phong trào Nhà Ánh Sáng, xoá bỏ nhà Hang Tối, Cô nhi viện Tong của Văn phòng Luyện-Tiếp-Đức không chỉ là những dự án kiến trúc hiện đại, mà xa hơn, đó là phương tiện xóa bỏ sự lạc hậu và thúc đẩy tiến bộ dân tộc [5].

Dấu ấn cá nhân và Mô hình tập thể

Giai đoạn 1954-1986 tại Việt Nam chứng kiến một cuộc chuyển đổi căn bản trong cấu trúc hành nghề. Sự thay đổi về thể chế chính trị đã dẫn đến việc giải thể mô hình văn phòng kiến trúc tư nhân ở miền Bắc. Thay vào đó, KTS được tập hợp vào các thiết chế kiến trúc quốc doanh (Các viện thiết kế chuyên môn của các Bộ, ngành và địa phương). Các KTS thế hệ EBAI (như Nguyễn Cao Luyện, Trần Hữu Tiềm, Tạ Mỹ Duật…) đã giữ các vị trí chủ chốt trong các viện thiết kế và Đoàn KTS Việt Nam. Họ đóng vai trò là những người gác cổng về thẩm mỹ, tìm cách đưa những tư duy về tỉ lệ và bố cục Beaux-Arts vào trong những đồ án mang tính quyền lực quốc gia, biểu đạt tinh thần của một giai đoạn Xây dựng-Quốc gia, kiến tạo tương lai mới. Di sản lớn nhất của đào tạo kiểu Beaux Art ở giai đoạn này là khả năng xác lập các ý tưởng cốt lõi (parti) với trật tự cú pháp và đặc trưng riêng biệt cho từng công trình. Dù phục vụ chế độ mới, theo định hướng: Hình thức dân tộc, nội dung XHCN của đường lối hiện thực XHCN, các đồ án như Hội trường Ba Đình hay các trụ sở cơ quan nhà nước vẫn tuân thủ nghiêm ngặt tính đối xứng, các trục chính phụ và tính hoành tráng của kiến trúc Beaux Arts. Ngôn ngữ kiến trúc này đồng nghĩa với tính chính thống và nghiêm túc, tạo ra một ngôn ngữ đủ mạnh để biểu đạt vị thế của một quốc gia mới hồi sinh.

Khung bản vẽ thiết kế Tháp truyền hình Giảng Võ
Nguồn: Trung tâm lưu trữ quốc gia 3

Tuy nhiên, vị thế các KTS trong xã hội có sự thay đổi nhanh chóng. Từ những trí thức dấn thân thời thuộc địa được hành chính hoá, trở thành những chuyên gia kỹ thuật trong chế độ XHCN. Giai đoạn xây dựng XHCN ở miền Bắc và sau này là giai đoạn Tái thiết thống nhất đất nước, với chủ trương Nhanh – Nhiều – Tốt – Rẻ và Đẹp trong điều kiện có thể, nhu cầu xây dựng khổng lồ với nguồn lực hạn chế đã thúc đẩy tính hệ thống lên cao nhất. Trong bối cảnh đó, một công trình kiến trúc trở thành một sản phẩm tập thể, của một đơn vị hành chính. Trên các hồ sơ bản vẽ, chữ ký của người chủ trì thiết kế nằm cạnh chữ ký của tổ trưởng, lãnh đạo phòng và viện trưởng. Quyền quyết định hình thức nghệ thuật không còn nằm hoàn toàn trong tay KTS mà phải thông qua các cấp duyệt đồ án của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, nơi hiệu quả công năng và kinh tế được đặt lên hàng đầu, theo những bản kế hoạch 5 năm chặt chẽ. Thay vì sáng tạo những phương án duy nhất, KTS tập trung vào việc tạo ra các Mẫu thiết kế điển hình. Tính sáng tạo của người KTS lúc này không nằm ở việc tạo ra cái mới lạ, mà nằm ở việc tối ưu hóa hệ thống lưới trục, bước cột, hệ modul và kích thước panel đúc sẵn. Nếu ở giai đoạn trước đây bản vẽ là Tuyên ngôn lối sống cá nhân, thì giai đoạn này đó là Quy chuẩn sống của tập thể, thông qua các văn bản quy phạm kỹ thuật, tạo nên một sự đồng nhất về không gian trên quy mô toàn quốc.

Trong khi miền Bắc chuyển đổi theo mô hình quốc doanh, thì tại miền Nam giai đoạn 1954-1975, vị thế của KTS lại phát triển theo một quỹ đạo khác biệt gắn liền với nền kinh tế tự do. Các KTS tiếp tục duy trì và phát triển mạnh mẽ mô hình văn phòng kiến trúc tư vụ. Thay vì phục vụ các thiết chế tập thể, những tên tuổi lớn như Ngô Viết Thụ, Nguyễn Quang Nhạc hay Nguyễn Hữu Thiện đã khẳng định vị thế của những chuyên gia tự chủ, độc lập trong sáng tạo. Sự cởi mở trong giao lưu quốc tế đã giúp họ tiếp thu trào lưu Kiến trúc Hiện đại của thế giới, đồng thời địa phương hóa thành công để tạo ra những công trình Kiến trúc Hiện đại nhiệt đới đặc sắc. Tính tác giả và dấu ấn cá nhân trong giai đoạn này ở miền Nam không bị triệt tiêu mà ngược lại, trở thành yếu tố cốt lõi định hình khung cảnh kiến trúc các đô thị miền Nam.

Lớp Trung cấp kiến trúc đầu tiên ở miền Bắc năm 1958. Hiệu trưởng là KTS Nguyễn Nghi, hàng đầu tiên bên phải
Nguồn Lưu trữ cá nhân của KTS Nguyễn Ngọc Sơn

Cùng với đó, ở miền Bắc, mô hình đào tạo KTS kiểu Beaux-Arts không hoàn toàn biến mất mà được chuyển về làm nền tảng phương pháp luận. Dù mô hình giáo dục đại học giai đoạn này chuyển sang hệ thống Bách khoa của Liên Xô (nhấn mạnh tính kỹ thuật và thực dụng), nhưng di sản mang tính nghệ thuật từ thế hệ đầu tiên vẫn hiện diện trong chương trình đào tạo. Từ môn thi vẽ tượng đầu vào, đến cấu trúc môn học như việc dạy vẽ ghi, diễn họa mực nho, màu nước tỉ mỉ, nghiên cứu đồ án chú trọng vào tính vần luật, nhịp điệu vẫn là những dấu ấn không mờ từ Trường Mỹ thuật Đông Dương.

Thế hệ tung cánh sáng tạo và di sản từ EBAI

Sau năm 1986, chính sách Đổi mới và việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã tạo ra một sự chuyển đổi mạnh mẽ về nhu cầu xây dựng, đồng thời phá vỡ cấu trúc độc quyền của các Viện thiết kế nhà nước. Vị thế của KTS trong xã hội không còn bị đóng khung trong hình ảnh người cán bộ kỹ thuật mà bắt đầu phân hóa mạnh mẽ, tạo nên một diện mạo đa sắc thái và phức tạp hơn bao giờ hết.

Trước hết, đó là sự trở lại của dấu ấn cá nhân của KTS trong sản phẩm thiết kế, sau nhiều năm ẩn dưới danh nghĩa tập thể. Một thế hệ vàng mới nổi lên với các tên tuổi như các KTS: Lê Hiệp, Nguyễn Tiến Thuận, Vũ Hoàng Hạc, Nguyễn Văn Tất. Nhiều công trình của họ đã trở thành những tượng đài của kiến trúc Hiện đại Việt Nam những năm cuối của thế kỷ 20. Sau đó, việc cho phép thành lập các công ty tư nhân đã mở đường cho sự quay lại của mô hình văn phòng kiến trúc tư nhân, nhưng với một quy mô và áp lực thương mại hoàn toàn khác. KTS lúc này không chỉ lo bản vẽ mà còn phải lo bài toán sinh tồn của doanh nghiệp như tìm kiếm khách hàng, quản lý nhân sự và marketing. Cũng bối cảnh đó, sự phụ thuộc vào các tập đoàn bất động sản lớn khiến nhiều KTS ngày nay đôi khi bị biến thành người thợ vẽ phục vụ cho các dự án thương mại hoặc ý thích của chủ đầu tư, mất đi quyền chủ động của nghề nghiệp.

Cùng với sự bùng nổ của khối tư nhân trong kiến trúc, vai trò chuyên gia kỹ thuật kiến trúc vẫn được tiếp nối vai trò trong các cơ quan quản lý của nhà nước. Một phần lớn cũng chuyển từ trực tiếp thiết kế sang quản lý và phê duyệt, duy trì và phát triển sự ổn định của hệ thống. Họ cũng phải đối mặt với những khó khăn phức tạp hơn. Đó là sự điều tiết xung đột lợi ích giữa nhà nước, cộng đồng và các nhà đầu tư tư nhân. Sự mở cửa cùng với cơn lũ thông tin từ Internet đã chấm dứt giai đoạn kiến trúc Việt Nam chỉ xoay quanh ảnh hưởng của khối XHCN. Một thế hệ KTS mới, được đào tạo bài bản trong nước và nước ngoài, đã bắt đầu hành trình tìm kiếm chỗ đứng của mình thông qua việc học hỏi và tiếp cận các trào lưu kiến trúc trên thế giới. Một phân khúc mới xuất hiện gắn liền với tác động của thương mại tự do và thế giới phẳng, đặc biệt là sau những năm 2000. Đó là đội ngũ các KTS thực hiện công đoạn triển khai bản vẽ và đóng vai trò tư vấn địa phương cho các cho các tập đoàn kiến trúc lớn của nước ngoài. Mặc dù tính tác giả ở đây bị triệt tiêu hoàn toàn dưới tên tuổi của các đối tác nước ngoài, nhưng vai trò này lại giúp các KTS trẻ Việt Nam tiếp cận nhanh nhất với các quy trình công nghệ và tiêu chuẩn xây dựng khắt khe nhất của thế giới.

Tái thiết làng Nủ – KTS Hoàng Thúc Hào. Nguồn ảnh: 1+1>2

Điểm sáng của các KTS Việt Nam đầu thế kỉ 21 là tinh thần Trí thức dấn thân của thế hệ EBAI khi xưa một lần nữa được tái sinh ở những con người như Võ Trọng Nghĩa, Hoàng Thúc Hào, Đoàn Thanh Hà… Trước sức ép của thế giới phẳng, những KTS thuộc nhóm này chủ động viết ra ngôn ngữ kiến trúc thông qua các tiếp cận từ những yếu tố văn hoá và khí hậu địa phương. Những vật liệu truyền thống như tre, đất nện, đá ong, gạch đất được nghiên cứu và ứng dụng với sự trợ giúp của kỹ thuật hiện đại. Những tư tưởng của Kiến trúc Hạnh phúc, Kiến trúc Vị dân sinh không chạy theo kiến trúc hoành tráng biểu tượng, sang trọng diễn ngôn mà tập trung vào giúp đỡ những người dân bình thường, những cộng đồng còn gặp khó khăn. Những KTS, một lần nữa trở thành những người khám phá, dấn thân trên con đường đưa kiến trúc Việt lên bản đồ kiến trúc quốc tế.

Trong lĩnh vực đào tạo, những quan điểm từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tưởng chừng đã mờ dần vào quá khứ. Tuy nhiên, không khó để nhận thấy những di sản của phương cách đào tạo khi xưa vẫn còn xuất hiện trong các trường đào tạo kiến trúc ở Việt Nam – Đó là mô hình xưởng thiết kế với các giảng viên hướng dẫn và các đồ án kiến trúc, những môn học về bố cục tạo hình và tham khảo các công trình lịch sử.

Lời kết

Nhìn lại chặng đường 100 năm, từ 1926 đến bối cảnh 2026, miêu tả và đánh giá về chân dung các KTS Việt Nam trong khuôn khổ một bài báo là điều bất khả thi. Trong phạm vi cho phép, những cứ liệu lịch sử cho thấy được vị thế của KTS Việt Nam đã trải qua những tiếp nối, xáo trộn và biến động sâu sắc, đã dịch chuyển linh hoạt qua từng thời kỳ: Từ những người thợ vô danh bước lên thành tầng lớp trí thức dấn thân, từ những chuyên gia kỹ thuật của thể chế hóa thân thành các chủ thể sáng tạo đa dạng trong nền kinh tế thị trường. Dù ở bất kỳ hình thái xã hội nào, họ vẫn luôn làm tròn sứ mệnh hiện thực hóa tinh thần thời đại thông qua việc kiến tạo không gian sống cho người Việt.

Bước sang thế kỷ tiếp theo, trước những áp lực khổng lồ từ quá trình biến đổi vũ bão của thời cuộc, sự quá tải của đô thị và đặc biệt là sự trỗi dậy của công nghệ trí tuệ nhân tạo, vị thế của KTS sẽ đứng trước những thách thức không nhỏ. Tuy nhiên, chính trong thách thức đó, tinh thần dấn thân vì cộng đồng và tư duy không gian sắc bén kế thừa từ di sản quá khứ sẽ là nền tảng cốt lõi để KTS Việt Nam một lần nữa sẽ tái định vị chính mình. Họ sẽ không chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp dịch vụ kỹ thuật, mà tiếp tục vươn lên thành những nhà tư tưởng, đánh dấu kiến trúc dân tộc trên bản đồ kiến trúc toàn cầu. Như Nguyễn Trãi đã từng viết “Tuy thời thế mạnh yếu khác nhau/song hào kiệt đời nào cũng có” – Chúng ta hoàn toàn có thể bình thản nhìn về một tương lai tươi sáng cho kiến trúc nước nhà.

KTS Nguyễn Mạnh Trí 
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2026)


Tài liệu tham khảo
[1] A. Rapoport: House form and culture – New Jersey: Prentice-Hall, 1969;
[2] C. Herbelin: Architectures du Vietnam colonial: Repenser le métissage- in L’art et l’essai, no. 16. Paris: CTHS-INHA, 2016;
[3] M. T. Nguyen: “Những “Nhà thiết kế Kiến trúc” Việt Nam đầu tiên: Họ là ai?” – Tạp chí Kiến trúc, no. 5, pp. 39–43, 2019;
[4] R. Middleton, Ed: The Beaux-arts and nineteenth-century French architecture – 1st MIT Press ed. Cambridge, Mass: MIT Press, 1982;
[5] C. Herbelin: “Les architectes Vietnamiens diplômés de l’école des beaux-arts de l’indochine,” in Architectures et villes de l’Asie contemporaine: Héritages et projets – Paris: Mardaga, 2015. [Online]. Available: https://www.amazon.com/s?k=Architectures+et+villes+de+l%27Asie+contemporaine%3A+H%C3%A9ritages+et+projets+%28French+Edition%29&rh=n%3A133140011