Thành phố sáng tạo: Động lực thúc đẩy phát triển bền vững và có bản sắc

Mạng lưới các Thành phố (TP) sáng tạo được thành lập năm 2004 do tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận với mục đích tăng cường hợp tác giữa các TP của các nước trên thế giới để phục vụ phát triển bền vững các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, dùng sự sáng tạo làm cốt lõi trong kế hoạch phát triển. Tính đến tháng 10/2019, mạng lưới TP sáng tạo đã có 246 TP được UNESCO công nhận.

Ảnh: KTS Nguyễn Phú Đức

Trong các nước Đông Nam Á, Hà Nội không chỉ là TP đầu tiên mà còn là thủ đô của Việt Nam được công nhận nên có thể nói Hà Nội là TP – Thủ đô sáng tạo của Đông Nam Á. Trong 7 lĩnh vực sáng tạo gồm: Thủ công – nghệ nhân dân gian, Nghệ thuật truyền thông nghe nhìn, Điện ảnh, Thiết kế sáng tạo, Ẩm thực, Văn học, Âm nhạc, Hà Nội đã lựa chọn lĩnh vực thiết kế sáng tạo để lập hồ sơ đệ trình UNESCO và được công nhận ngày 30/10/2019. Để có được kết quả này là cả quá trình chuẩn bị, cố gắng nỗ lực của Trung ương, các ngành, đoàn thể và nhân dân. Trước đó Quyết định 1755/QĐ – TTg ngày 08/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định Hà Nội cần trở thành Trung tâm sáng tạo của cả nước nhằm tạo bước tiến mới trong chiến lược phát triển văn hóa nhằm nâng cao vị thế của Thủ đô Văn hiến.

Việc Hà Nội lựa chọn lĩnh vực thiết kế sáng tạo và được UNESCO công nhận không chỉ là kế thừa truyền thống mà còn là quyết tâm lớn với tầm nhìn đồng bộ. Đây cũng là niềm tự hào của những người sáng tạo trong đó có các KTS, nhà quy hoạch.

Thiết kế sáng tạo là lĩnh vực bao trùm là động lực cho phát triển Quy hoạch kiến trúc và các nội dung khác như: Thủ công, nghệ thuật truyền thống, điện ảnh, âm nhạc, ẩm thực… Để thực hiện được yêu cầu này, cùng với việc thực hiện các chương trình hành động, trước hết cần nhận diện đồng bộ các giá trị truyền thống của thiết kế sáng tạo trong quá trình phát triển Thủ đô từ Cổ Loa – Đại La – Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội và nhất là trong thời đại Hồ Chí Minh – Luôn xứng danh là Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người – TP vì hòa bình.

Dấu ấn đầu tiên để nhận biết về sáng tạo là việc chuyển dịch kinh đô Văn Lang ở vùng đồi núi trung du Phú Thọ về vùng đất Cổ Loa ở trung tâm đồng bằng sông Hồng màu mỡ, khai phá vùng đất hoang sơ thành nơi trù phú, dân cư đông đúc. Cấu trúc thành Cổ Loa thuộc loại độc đáo trong xây dựng thành lũy của nước ta. Qua các nghiên cứu của khảo cổ và đấu tích còn lại 3 vòng thành hiện nay cho thấy đây là minh chứng về sáng tạo, tài năng, trí tuệ của tổ tiên ta thuở trước. Trải qua nhiều biến động đến vua Lý Thái Tổ khi mới chỉ lên ngôi vua được 5 tháng đã quyết định dời đô ra Đại La và đặt tên mới là Thăng Long. Trong Chiếu dời đô có nêu: “Đất ấy rộng mà bằng phẳng cao ráo mà sáng sủa, dân cư không phải các nạn tối tăm, ẩm thấp, muôn vật cực kỳ giàu thịnh, đông vui… Xem khắp đất Việt đó là đất danh thắng, là đô hội trọng yếu để bốn phương sum họp và là đô thành bậc nhất đáng mặt làm kinh sư muôn đời”. Sự sáng suốt của Lý Thái Tổ về vị thế Thăng Long đã tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội mà trước hết thấy rõ là về quy hoạch. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử với các vương triều đã xây dựng ở kinh đô Thăng Long, tuy có biến động nhưng các di tích còn lại như ngày nay đã tạo nên quỹ di sản đô thị phong phú mà ít đô thị trên thế giới có được, trong đó phải kể đến các khu đặc thù, nhất là Khu Trung tâm Hoàng Thành – Thăng Long năm 2010 đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới – Đây là tài sản vô giá của Việt Nam minh chứng cho sự phát triển sáng tạo của kinh đô Thăng Long về quy hoạch – kiến trúc.

Trải qua thời kỳ Pháp thuộc, Thăng Long cũng đã có nhiều biến đổi về diện mạo, cấu trúc đô thị song đã nổi rõ với yếu tố hội nhập, tiếp thu văn hóa phương Tây tạo nên TP có bản sắc riêng, từ tổng thể quy hoạch đến một số công trình kiến trúc như: Nhà hát lớn, Bảo tàng Lịch sử, Nhà Bưu điện, các biệt thự… với yếu tố nổi trội là sự kết hợp hiện đại và truyền thống, phù hợp điều kiện khí hậu địa phương. Từ sau hòa bình lập lại, năm 1954 đến nay, Hà Nội đã có 4 lần điều chỉnh địa giới và 7 lần Quy hoạch chung được phê duyệt. Quy mô TP đã có sự phát triển, hài hòa với từng giai đoạn lịch sử. Năm 1954, khi tiếp quản Hà Nội, chỉ với diện tích 152 km2, dân số 37 vạn ở nội thành và 16 vạn ở ngoại thành, sau 4 lần điều chỉnh địa giới, đến năm 2008 Hà Nội đã có divện tích 3344 km2 (gấp hơn 22 lần năm 1954) với dân số 6,3 triệu người (đến nay là ≈ 8 triệu).

Đây cũng là giai đoạn có những công trình xây dựng mới hiện đại, sáng tạo trong thiết kế như: Bảo tàng Hà Nội, Cầu Nhật Tân, Tòa nhà Quốc hội… các công trình kiến trúc xanh, khu đô thị xanh thân thiện, nhiều khu vực đặc trưng, mang đậm bản sắc Việt Nam đã được nhận diện, bảo tồn và phát huy giá trị như: khu vực trung tâm Ba Đình, khu phố Cổ, khu phố Cũ, Khu vực Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, các làng nghề truyền thống, làng cổ… Quá trình phát triển Hà Nội đã để lại gần 6000 di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc, đã kiểm kê phân loại gần 1800 di sản phi vật thể (Trong đó có nghề thủ công, nghệ thuật trình diễn). Sự đa dạng di sản vật thể và phi vật thể đã tạo nên sức hút với bạn bè quốc tế. Các di sản này là minh chứng cho sáng tạo bền vững và đa dạng trong kết hợp văn hóa truyền thống với văn minh thế giới.

Hà Nội luôn là mảnh đất ươm mầm, thu hút sáng tạo từ mọi miền đất nước. Nhiều không gian sáng tạo được hình thành từ các không gian lịch sử và không gian hiện đại như không gian kết nối về điện ảnh, về nghệ thuật thực hành, mỹ thuật tạo hình, thời trang và nhất là sáng tạo về kiến trúc với các không gian công cộng tại các công viên, vườn hoa, sân chơi tại các khu đô thị mới hiện đại thân thiện với con người bên cạnh đó cũng còn phải kể đến các không gian sáng tạo về thủ công, nghệ nhân dân gian tại các làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc…đã thu hút các nghệ nhân, giới trẻ khám phá, sáng tác mới nhằm nâng tầm giá trị nghề thủ công truyền thống.

Các sáng tạo về ẩm thực, âm nhạc cũng đã có những đột phá được cả trong và ngoài nước công nhận, các không gian sáng tạo đa ngành, đa lĩnh vực đã và đang hình thành ở Hà Nội đang phục vụ tích cực tiềm năng sáng tạo, gia tăng nhận biết giá trị truyền thống và mức độ hưởng thụ văn hóa tạo nên hình ảnh mới hấp dẫn cho Thủ đô.

Trở thành thành viên mạng lưới TP sáng tạo của UNESCO không chỉ là niềm tự hào của thủ đô Hà Nội, mà quan trọng hơn chuyển hóa điều này thành động lực để phát triển. Rất cần thực hiện các chương trình hành động như xây dựng trung tâm các khu Đô thị sáng tạo, các không gian sáng tạo, các quỹ hoạt động tôn vinh sáng tạo, các chính sách tạo điều kiện cho sáng tạo mà bước đi đầu tiên là từ Quy hoạch – Kiến trúc, từ khởi nghiệp. Đây là công việc đang được nhiều đô thị quan tâm nhất là Hà Nội, TP HCM. Những thay đổi này cùng với nỗ lực của những người thiết kế sáng tạo sẽ tạo nên các đô thị có bản sắc phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sống của người dân và nâng tầm vị thế của Việt Nam với khu vực và thế giới.

TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 07-2020)