Vùng đất ngập nước (Wetlands) là các hệ sinh thái tự nhiên, bán tự nhiên hoặc nhân tạo hình thành trong vùng chuyển tiếp giữa đất liền và mặt nước, đồng thời là một thành phần trong hệ sinh thái đô thị [1] – Đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thuỷ văn, cải thiện chất lượng nước, bảo tồn đa dạng sinh học, kiến tạo cảnh quan môi trường sinh thái, tạo lập không gian sinh hoạt cho con người [2]. Tuy nhiên, đô thị hoá và phát triển đô thị thiếu kiểm soát dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng của nhiều khu vực đất ngập nước tự nhiên, gây mất cân bằng sinh thái, gia tăng hiện tượng đảo nhiệt và nhiều vấn đề về môi trường phức tạp trong khu vực đô thị [3, 4].
Thành phố (TP) Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), là một đô thị có hệ sinh thái đặc thù với hồ tự nhiên và hệ thống sông ngòi phong phú. Trong đó, sông Vận Lương là một dòng sông quan trọng, đóng vai trò cung cấp nguồn nước cho hồ Điền Trì (thuộc lưu vực Điền Trì – một phần của hệ thống lưu vực sông Dương Tử) [4]. Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã khiến khu vực này đang chịu áp lực lớn từ ô nhiễm nguồn nước, suy giảm chức năng sinh thái và thiếu hụt không gian xanh công cộng. Việc thiết kế công viên đất ngập nước tại khu vực hạ nguồn sông Vận Lương không chỉ là giải pháp kiến tạo cảnh quan và cải thiện môi trường khu vực, mà còn hướng tới xây dựng một mô hình không gian công cộng bền vững, kết hợp hài hòa giữa phục hồi hệ sinh thái và giáo dục môi trường, phù hợp với định hướng phát triển cảnh quan đô thị gắn kết với tự nhiên [5].
Điều kiện tự nhiên thành phố Côn Minh , Trung Quốc
Côn Minh là TP nằm trên cao nguyên với độ cao trung bình khoảng 1.892 m so với mực nước biển, thuộc khu vực “karst” – bán khô hạn ở Tây Nam Trung Quốc, có địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam. Đặc điểm địa hình bị chia cắt mạnh khiến dòng chảy các con sông ngắn, độ dốc lớn và lưu lượng không ổn định theo mùa. Côn Minh có diện tích 21.012,53 km2, dân số khoảng 6,73 triệu người, là TP đông dân và phát triển kinh tế nhất tỉnh Vân Nam. TP nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ trung bình năm khoảng 15,5°C và lượng mưa trung bình vào từ 1.000 – 1.500mm. Khí hậu ẩm ướt vào mùa hè, khô ráo vào mùa đông tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quanh năm của thảm thực vật cận nhiệt đới, giúp Côn Minh được mệnh danh là “TP mùa xuân” và “TP hoa”. Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá nhanh chóng cùng với tác động của biến đổi khí hậu đã dẫn đến hiện tượng xói mòn đất và ô nhiễm môi trường nước ngày càng nghiêm trọng. Hồ Điền Trì với diện tích khoảng 340km², là hồ nước ngọt lớn nhất tỉnh Vân Nam và lớn thứ sáu của Trung Quốc, đóng vai trò quan trọng trong điều tiết thủy văn, cải thiện vi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất và tưới tiêu nông nghiệp cho toàn vùng. Tính đến năm 2021, TP Côn Minh có khoảng 624,52km2 đất ngập nước, với tỷ lệ bảo vệ đạt 69,43% [3, 7].
Hiện trạng cảnh quan công viên đất ngập nước Vận Lương
Công viên đất ngập nước Vận Lương nằm ở phía Tây Nam TP Côn Minh, cách trung tâm TP khoảng 7km, với tọa độ địa lý khoảng 25° vĩ độ Bắc và 102,7° kinh độ Đông. Phía Bắc giáp khu đô thị Mã Quan (quận Tây Sơn) – Khu đô thị mới có vai trò kết nối vùng lõi sinh thái hồ Cao Hải với các khu dân cư phía Bắc TP; phía Nam giáp hồ Cao Hải – một bộ phận quan trọng của hệ thống hồ Điền Trì. Công viên nằm trong chuỗi vùng đệm và vành đai sinh thái, góp phần ngăn cách và giảm thiểu tác động của phát triển đô thị đối với vùng lõi sinh thái hồ Điền Trì. Với tổng diện tích 55,6 ha, công viên được hình thành từ quá trình bồi lắng trầm tích tự nhiên ở hạ nguồn sông Vận Lương, có địa hình tương đối bằng phẳng, bao gồm bãi nổi chiếm khoảng 65,5% diện tích và hệ thống hồ nước, kênh rạch, đầm lầy xen kẽ chiếm khoảng 34.5% diện tích [7].
Sự kết hợp giữa đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới gió mùa và địa hình cao nguyên đã hình thành, duy trì một hệ sinh thái ngập nước đa dạng và ổn định. Hệ thực vật trong khu vực chủ yếu là các loài cây ngập nước và cây bụi ven bờ như lau, sậy, vẹt và nhiều loài thủy sinh, phát triển mạnh mẽ và phân bố dày đặc. Hệ động vật, đặc biệt là chim nước, rất phong phú với hơn 60.000 cá thể thuộc 105 loài khác nhau, bao gồm cả chim bản địa và chim di cư theo mùa. Sự đa dạng này được duy trì nhờ nguồn thức ăn dồi dào từ 23 loài cá sinh sống trong khu vực hồ Điền Trì, trong đó có loài đặc hữu Cá trắng Điền Trì và một số loài bản địa quý hiếm khác như Cá Bống vàng. Với điều kiện tự nhiên và hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng, công viên đất ngập nước Vận Lương không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thủy văn và cải thiện môi trường đô thị, mà còn là không gian sinh thái – cảnh quan tiêu biểu trong chiến lược phát triển bền vững mạng lưới không gian xanh của khu vực phía Tây Nam TP Côn Minh [7].
Hiện nay, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã tạo áp lực lớn lên hệ sinh thái hồ Cao Hải, đặc biệt là vùng đất ngập nước hạ nguồn sông Vận Lương. Trong khi đó, cảnh quan khu vực chưa được nghiên cứu, quy hoạch và thiết kế đồng bộ theo mô hình công viên đất ngập nước, dẫn đến giá trị cảnh quan và hiệu quả sinh thái còn hạn chế [7].
Thiết kế cảnh quan công viên đất ngâp nước Vận Lương
Quan điểm thiết kế cảnh quan
Cảnh quan công viên đất ngập nước Vận Lương được thiết kế trên cơ sở áp dụng các biện pháp thiết kế cảnh quan sinh thái, hạn chế tối đa sự can thiệp nhân tạo, ưu tiên sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường, bảo tồn hệ thực vật bản địa, tôn trọng địa hình và cảnh quan hiện hữu. Cụ thể:
- Về cảnh quan: Kết nối hệ thống không gian xanh liên vùng dọc theo sông Vận Lương và xung quanh hồ Cao Hải, hình thành hành lang sinh thái đô thị liên tục và bền vững;
- Về sinh thái: Phục hồi và duy trì hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên thông qua việc tái tạo các yếu tố cảnh quan đặc trưng của bãi nổi, đầm lầy, kênh nước và vùng thực vật thủy sinh bản địa;
- Về môi trường: Tăng cường khả năng điều tiết và lọc nước tự nhiên, góp phần giảm tải ô nhiễm và cải thiện chất lượng nước mặt trước khi chảy vào hồ Cao Hải;
- Về công năng: Tổ chức các không gian chức năng thoả mãn các nhu cầu hoạt động của con người, góp phần nâng cao trải nghiệm và giá trị sử dụng của công viên;
- Về giáo dục môi trường: Phát triển công viên thành không gian trải nghiệm sinh thái tự nhiên, phục vụ hoạt động giáo dục, nghiên cứu và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn tài nguyên nước và đa dạng sinh học.
Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan
Không gian kiến trúc cảnh quan công viên đất ngập nước Vận Lương được tổ chức theo cấu trúc “Ba khu – Bốn vùng – Đa điểm”, nhằm đảm bảo sự phân tầng chức năng rõ ràng, tăng cường tính liên kết sinh thái và nâng cao trải nghiệm cảnh quan.
Ba khu
Theo hướng dẫn thiết kế công viên đất ngập nước đô thị (Design Guidelines for Urban Wetland Parks) [1], việc thiết kế cảnh quan công viên đất ngập nước cần được tổ chức thành ít nhất ba khu chức năng, bao gồm 3 khu:
- Khu quản lý – dịch vụ tổng hợp là khu vực có đầy đủ cơ sở vật chất và dịch vụ tổng hợp phục vụ công tác quản lý, khai thác và vận hành công viên đất ngập nước;
- Khu bảo tồn sinh thái được quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt có chức năng sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, tạo môi trường sống tự nhiên cho các loài động thực vật;
- Vùng đệm sinh thái nằm giữa khu vực quản lý – dịch vụ tích hợp và khu bảo tồn sinh thái, các phương tiện cơ giới không được phép vào trừ các phương tiện phục vụ công tác duy tu, duy trì và quản lý. Khu vực này có các điểm cảnh quan phục vụ hoạt động tham quan ngắm cảnh, giải trí, khám phá tự nhiên, nghiên cứu khoa học,…
Bốn vùng chức năng
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các nhu cầu hoạt động con người trong không gian, các vùng chức năng được xác lập nhằm tổ chức chi tiết các hoạt động phù hợp với tính chất của từng khu chức năng, bao gồm 4 vùng:
- Vùng quản lý – dịch vụ tổng hợp là không gian bố trí các công trình phục vụ công tác quản lý và cung cấp các dịch vụ cho du khách. Khu vực này bao gồm: Bãi đỗ xe sinh thái, lối vào chính, quảng trường trung tâm, các điểm cảnh và trung tâm khai thác dịch vụ – trưng bày giới thiệu về công viên đất ngập nước;
- Vùng trưng bày khoa học đất ngập nước là không gian trải nghiệm và triển lãm thực địa, giới thiệu các các mô hình lọc nước sinh thái, các loài thực vật có khả năng hấp thụ chất ô nhiễm nước, trạm quan trắc thủy văn thông minh, đài quan sát đất ngập nước,… Qua đó, phổ biến kiến thức khoa học, công nghệ và kỹ thuật liên quan trong công viên đất ngập nước, phục vụ hoạt động nghiên cứu và giáo dục về môi trường;
- Vùng tham quan và ngắm cảnh là không gian trải nghiệm cảnh quan tự nhiên và nhân tạo. Cảnh quan tự nhiên bao gồm hệ thống sông, hồ, đầm lầy, cùng các loài động – thực vật đặc trưng của khu vực đất ngập nước thay đổi quanh năm theo mùa. Cảnh quan nhân tạo bao gồm hệ thống cầu gỗ, sân ngắm cảnh, đài quan sát và tháp ngắm chim;
- Vùng bảo tồn sinh thái là môi trường sống tự nhiên của các loài cá và chim trong khu vực. Khu vực này hạn chế tối đa sự tiếp cận của con người, chỉ phục vụ nghiên cứu khoa học và quản lý bởi nhân viên chuyên môn, nhằm bảo vệ và duy trì cân bằng sinh thái.
Đa điểm
Trong tổ chức không gian công viên đất ngập nước, đa điểm vừa đảm bảo chức năng bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái, vừa đáp ứng nhu cầu hoạt động của con người và mục tiêu giáo dục môi trường. Thuật ngữ này đề cập việc bố trí nhiều khu vực chức năng khác nhau, tạo nên trải nghiệm phong phú và đa dạng cho người sử dụng. Một công viên đất ngập nước được thiết kế hiệu quả không chỉ dựa trên yếu tố địa hình, thảm thực vật và mặt nước, mà còn phải đáp ứng nhu cầu hoạt động tập thể – cá nhân và các hình thức vui chơi trải nghiệm.
Đa điểm trong cảnh quan công viên đất ngập nước cần tuân thủ nguyên tắc hài hòa trong tổng thể, đảm bảo sự liên kết chặt chẽ và thông suốt giữa các khu vực chức năng thông qua hệ thống đường dạo, cầu đi bộ trên cao hoặc các tuyến tiếp cận sinh thái. Giải pháp tổ chức không gian này góp phần hạn chế tối đa tác động trực tiếp của con người lên các vùng sinh cảnh nhạy cảm, đồng thời duy trì sự ổn định của hệ sinh thái đất ngập nước.
Các điểm cảnh được bố trí hợp lý, kết hợp các tiểu phẩm kiến trúc mang tính biểu tượng, bồn hoa tạo điểm nhấn và hệ thống ghế ngồi đa dạng (từ không gian riêng tư đến không gian nhóm). Những thành phần này không chỉ tăng cường giá trị thẩm mỹ mà còn nâng cao chất lượng trải nghiệm và khả năng tiếp cận của người sử dụng đối với không gian cảnh quan.
Thiết kế cảnh quan
Phương án thiết kế cảnh quan
Quy trình xử lý nước mặt
Trong thiết kế cảnh quan công viên đất ngập nước, hệ thống xử lý nước mặt đóng vai trò then chốt trong việc xử lý và cải thiện chất lượng nước mặt theo cơ chế tự nhiên [9]. Quy trình xử lý nước thường được tổ chức theo chuỗi xử lý sinh học phân tầng, bao gồm:
Bể trầm tích → Bể khí hóa → Hệ thống đất ngập nước → Vùng đệm
Toàn bộ chuỗi xử lý được thiết kế dựa trên nguyên lý dòng chảy trọng lực, giúp tiết kiệm năng lượng, giảm yêu cầu vận hành cơ giới và duy trì hiệu quả xử lý ổn định, bền vững dài hạn.
a) Bể trầm tích (Sedimentation Zone) có vai trò xử lý nước mặt sơ cấp, thông qua quá trình lắng cơ học để loại bỏ các chất rắn lơ lửng như bùn đất, rác thải thô và hạt cát. Công đoạn này giúp giảm tải chất rắn và độ đục của nước trước khi chuyển sang giai đoạn xử lý sinh học.
b) Bể khí hóa (Biogas Reactor Zone) có chức năng tăng cường oxy hòa tan (DO) trong nước để hỗ trợ vi sinh hiếu khí phân huỷ các chất hữu cơ (BOD, COD), đồng thời giảm phát sinh mùi hôi từ khí H2S và NH3. Đây là bước quan trọng trong chuỗi xử lý nước mặt, chuẩn bị nước trước khi chuyển sang hệ thống đất ngập nước.
c) Hệ thống đất ngập nước (Wetland System Zone) đảm nhiệm vai trò xử lý sinh học các chất ô nhiễm như nitơ (N), photpho (P), BOD nhờ sự phối hợp giữa thực vật thủy sinh và vi sinh vật. Hệ thống bao gồm hai loại chính:
- Đất ngập nước kiểu dòng chảy mặt (Free Water Surface – FWS): Nước chảy nông trên bề mặt, trực tiếp tiếp xúc với rễ cây và sinh vật trong nước. Hình thức này thích hợp xử lý nước thải có tải lượng ô nhiễm trung bình.
- Đất ngập nước kiểu dòng chảy ngầm (Subsurface Flow – SSF): Nước thấm qua lớp vật liệu lọc như sỏi và cát, tiếp xúc trực tiếp với rễ cây và vi sinh vật trong lớp lọc. Hình thức này hạn chế mùi, côn trùng và bay hơi nước, hiệu quả xử lý cao hơn với tải lượng ô nhiễm lớn.
d) Vùng đệm (Buffer Zone) có chức năng lọc tinh nước trước khi xả ra môi trường tự nhiên, đồng thời ngăn xói mòn đất và điều hòa dòng chảy. Đây là lớp bảo vệ cuối cùng trong chuỗi xử lý sinh học phân tầng, góp phần nâng cao chất lượng nước và ổn định hệ sinh thái xung quanh.
Lựa chọn thực vật
Lựa chọn thực vật trong công viên đất ngập nước được tiến hành theo các tiêu chí sinh thái, cảnh quan và thẩm mỹ, tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Thích nghi với điều kiện sống ngập nước: Các loài cây được lựa chọn phải có khả năng chịu ngập nước định kỳ hoặc chịu ẩm tốt, phù hợp với đặc điểm thủy văn của công viên, đảm bảo sinh trưởng và phát triển ổn định.
- Ưu tiên cây bản địa: Sử dụng cây bản địa giúp dễ chăm sóc, tăng tính bền vững sinh thái và tạo môi trường sống thuận lợi cho các loài động vật địa phương.
- Đa dạng sinh học: Kết hợp nhiều tầng thực vật, từ cây gỗ, cây bụi, cây leo đến cỏ và cây thủy sinh, nhằm tạo nơi cư trú cho chim, côn trùng và các sinh vật thủy sinh, đồng thời tăng khả năng điều hòa vi khí hậu.
- Tính thẩm mỹ theo mùa: Lựa chọn cây ra hoa và thay lá theo mùa để cảnh quan luôn sinh động, hấp dẫn và thay đổi theo từng thời điểm trong năm.
- Hạn chế cây ngoại lai xâm hại: Tránh các loài có khả năng phát tán mạnh, gây ảnh hưởng tiêu cực tới hệ sinh thái tự nhiên.
Các loài thực vật trong công viên đất ngập nước Vận Lương bao gồm:
a) Cây trồng tạo cảnh quan được lựa chọn là các loài cây bản địa ra hoa, rụng lá theo mùa, có khả năng sinh trưởng và phát triển phù hợp với điều kiện sống của công viên. Cây có hoa theo mùa: Osaka đỏ, Phượng tím, Anh đào. Cây rụng lá theo mùa: Bách hói, Liễu, Ngân hạnh, Thuỷ sam, Dương. Những loài cây này vừa tạo giá trị thẩm mỹ, vừa thích ứng sinh thái với điều kiện tự nhiên của công viên đất ngập nước.
b) Cây trồng trong khu vực đất ngập nước là các loài cây có chức năng lọc nước theo cơ chế tự nhiên, ổn định đất và tạo môi trường sống cho động vật. Cây được phân loại theo ba khu vực chức năng chính:
- Khu vực 1 – Bể trầm tích là nơi lắng đọng bùn, chất rắn lơ lửng từ dòng chảy đầu vào, thường ngập nước nông hoặc tạm thời. Loại cây trồng thân thảo thủy sinh ngập nông giúp giữ đất, chống xói mòn bao gồm: Cỏ Lác, Cỏ Vetiver, Cỏ Năng. Loại cây bụi ngập nông và bán thủy sinh giữ phù sa, làm chậm dòng chảy và hấp thụ dinh dưỡng ban đầu bao gồm: Dừa nước, Muỗm.
- Khu vực 2 – Bể khí hóa tạo oxy và tăng cường chất lượng nước. Các loại cây trồng bao gồm: Cỏ Nến, Lau, Sậy, Thủy trúc, Sen, Súng.
- Khu vực 3 – Khu vực hệ thống đất ngập nước là khu vực chính, thực hiện chức năng lọc nước, xử lý chất hữu cơ và chất ô nhiễm. Cây trồng được bố trí theo 3 lớp sinh thái: (1) Lớp cây nổi (Floating plants) bao gồm: Bèo tây, Bèo cái, Rau muống nước, Lục bình, Sen, Súng; (2) Lớp cây ngập nước (Emergent plants) bao gồm: Cỏ nến, Cói, Lúa trời, Sậy; (3) Lớp cây chìm dưới nước (Submerged plants): Rong đuôi chó, Rong la hán, Thủy cúc.
Kết luận
Kết quả nghiên cứu đồ án “Thiết kế cảnh quan công viên đất ngập nước Vận Lương, TP Côn Minh, Trung Quốc” cho thấy mô hình công viên đất ngập nước có tính khả thi cao, mang lại hiệu quả đa mục tiêu về sinh thái, cảnh quan và xã hội cho khu vực hạ nguồn sông Vận Lương. Phương án thiết kế đã xác định rõ cấu trúc không gian theo hướng tôn trọng địa hình tự nhiên, phục hồi các vùng sinh cảnh bị suy thoái và tăng cường khả năng điều tiết nước, qua đó góp phần giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường nước. Đồng thời, tổ chức không gian cảnh quan theo mô hình “ba khu – bốn vùng – đa điểm” giúp cân bằng hợp lý giữa bảo tồn sinh thái và nhu cầu sử dụng công cộng, tạo nên một công viên mở, thân thiện và giàu tính trải nghiệm. Mô hình này cũng phù hợp với định hướng phát triển “TP sinh thái” của Côn Minh, khi kết hợp hài hòa giữa phục hồi môi trường, quản lý nước và phát triển không gian cảnh quan đô thị theo hướng bền vững. Những kết quả đạt được mở ra các hướng nghiên cứu tiếp theo trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa nhanh chóng.
Để nâng cao tính ứng dụng thực tiễn, nghiên cứu trong tương lai cần được mở rộng theo các hướng sau: (1) Hoàn thiện mô hình thiết kế dựa trên cơ sở dữ liệu thủy văn – sinh thái dài hạn nhằm tối ưu hóa khả năng điều tiết và phục hồi hệ sinh thái; (2) Đa dạng hóa hệ thực vật bản địa và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý, giám sát; (3) Tăng cường kết nối công viên với hệ thống hạ tầng xanh của đô thị; (4) Đánh giá hiệu quả phòng chống ngập theo các kịch bản biến đổi khí hậu; (5) Ứng dụng công nghệ số và hệ thống quan trắc thông minh trong vận hành và quản lý; (6) Nghiên cứu sâu hơn về trải nghiệm công cộng, giáo dục môi trường và tác động kinh tế – xã hội nhằm hướng tới một mô hình công viên đất ngập nước bền vững, thích ứng và đa chức năng.
TS Trần Đức Thiện – Nguyễn Thuý Hằng*
* Viện Kiến trúc cảnh quan và Cây xanh đô thị, Trường Đại học Lâm nghiệp
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 12-2025)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Song Song, Christian Albert, và Martin Prominski (2020): Exploring integrated design guidelines for urban wetland parks in China – Urban Forestry & Urban Greening, số 53, tr. 126712;
2. Gbolahan Olamide Isaac, Abdulmujeeb Bolaji Hamzat, và Oluwatosin Olaoluwa Daramola (2025): Ecological Importance and Functions of Wetlands (trong Wetland Ecosystems: Conservation Strategies, Policy Management and Applications. Babafemi Raphael Babaniyi, Sesan Abiodun Aransiola, Ebunoluwa Elizabeth Babaniyi, & Naga Raju Maddela, Editors) – Springer Nature Switzerland: Cham, tr. 23-42;
3. Dongmei Lei, Xiaoyong Xu, và Yuan Zhang (2021): Analysis of the dynamic characteristics of the coupling relationship between urbanization and environment in Kunming city, southwest China – Cleaner Environmental Systems, số 2, tr. 100018;
4. Yanmei Zhou, Jun Qi, Ruotong Tang, và Chunlan Du (2025): Evaluating the symbiotic interface for city-lake synergy: Evidence from Kunming city and Dianchi Lake in Southwest China (1990–2020) – Habitat International, số 156, tr. 103303;
5. Qian Wang, Xiayun Xiao, Alice Yao, Aubrey L. Hillman, Zhilong Jiang, Rong Wang, và Xiangdong Yang (2024): Unraveling the early human impacts on the ecosystem of Dianchi Lake: A 20,000-year diatom record from the southeastern Tibetan Plateau – Quaternary Science Reviews, số 337, tr. 108813;
6. Xinhui Ma (2024): Application of Sponge City Ecological Landscape Design in Residential District – International Journal of e-Collaboration, số 20(1);
7. Nguyễn Thúy Hằng (2025): Thiết kế cảnh quan công viên đất ngập nước Vận Lương, thành phố Côn Minh, Trung Quốc – Đồ án tốt nghiệp KTS cảnh quan, Viện Kiến trúc cảnh quan và Cây xanh đô thị, Trường Đại học Lâm nghiệp;
8. Kun Li, Junsan Zhao, Yongping Li, và Yilin Lin (2025): Identifying trade-offs and synergies among land use functions using an XGBoost-SHAP model: A case study of Kunming, China – Ecological Indicators, số 172, tr. 113330.
9. Carla S. S. Ferreira, Milica Kašanin-Grubin, Marijana Kapović Solomun, Svetlana Sushkova, Tatiana Minkina, Wenwu Zhao, và Zahra Kalantari (2023): Wetlands as nature-based solutions for water management in different environments – Current Opinion in Environmental Science & Health, số 33, tr. 100476.





























