Tiềm năng vườn hoa đô thị – Nâng cao tiện nghi nhiệt và gắn kết cộng đồng ở Hà Nội

Tóm tắt

Quá trình đô thị hoá nhanh tại Hà Nội trong những năm gần đây đã làm gia tăng mật độ xây dựng và thu hẹp đáng kể quỹ đất xanh, dẫn tới suy giảm chất lượng vi khí hậu và gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị. Trong bối cảnh quỹ đất khan hiếm, vườn hoa, vườn dạo (hay công viên nhỏ) được coi là giải pháp khả thi và linh hoạt, vừa cải thiện tiện nghi nhiệt, vừa tăng khả năng tiếp cận không gian xanh và thúc đẩy gắn kết cộng đồng. Nghiên cứu này kết hợp cơ sở lý thuyết và phân tích kinh nghiệm thực tiễn để đánh giá tiềm năng của vườn hoa trong việc giảm căng thẳng nhiệt, mở rộng không gian tương tác xã hội và kết nối cư dân với thiên nhiên. So với công viên lớn, mô hình vườn hoa có ưu thế trong việc hạn chế vùng phân bố nhiệt cực đoan và có lợi thế trong đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất tích hợp vườn hoa vào quy hoạch Hà Nội dựa trên việc lựa chọn vị trí, thiết kế đáp ứng nhu cầu cộng đồng và phân tích bối cảnh đô thị – vi khí hậu. Nếu triển khai đồng bộ, mạng lưới vườn hoa có thể trở thành “lá phổi xanh” phân tán, góp phần thực hiện Mục tiêu Phát triển Bền vững số 11 và nâng cao chất lượng sống, cũng như sức khỏe thể chất lẫn tinh thần cho cư dân đô thị.

Từ khoá: Vườn hoa đô thị, hạ tầng xanh, gắn kết cộng đồng, tiện nghi nhiệt, vi khí hậu đô thị.

1. Dẫn nhập

Hà Nội đang trải qua quá trình đô thị hoá nhanh chóng trong những năm trở lại đây. Dân số ngày càng gia tăng kéo theo mật độ dân cư ngày càng cao, trong khi xây dựng ồ ạt khiến quỹ đất ngày càng khan hiếm, đặc biệt là đất cây xanh và không gian công cộng. Tỉ lệ bê tông hoá bề mặt tăng cao trong khi không gian công cộng, cây xanh thu hẹp đã và đang tác động đến chất lượng vi khí hậu đô thị. Điển hình là hiện tượng đảo nhiệt đô thị (Urban Heat Island) làm tăng nhiệt độ vùng đô thị [1], tạo căng thẳng nhiệt [2], ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như đời sống xã hội của người dân [3].

Hình 1: Bản đồ phân loại vườn hoa khu vực nội đô Hà Nội theo quy mô [3]
Rất nhiều giải pháp đã được đề cập và thực hiện với mục tiêu giảm thiểu nhiệt cực đoan, cải thiện môi trường tiện nghi nhiệt, và qua đó thúc đẩy gắn kết người dân với các hoạt động ngoài trời [4]. Trong đó, cơ sở hạ tầng xanh như công viên, vườn dạo, vườn hoa… được xem là một giải pháp bền vững vừa cung cấp bối cảnh linh hoạt cho các hoạt động giải trí, tương tác xã hội giúp tăng cường sức khỏe, giảm căng thẳng, nâng cao khả năng hồi phục cho người dân, vừa góp phần cải thiện tiện nghi vi khí hậu, hỗ trợ đa dạng sinh học [5], [6], [7]. Tuy nhiên, việc xây dựng các công viên quy mô lớn ở những khu vực đô thị mật độ cao, nơi tài nguyên đất đai khan hiếm và chi phí bất động sản cao là một nhiệm vụ đầy thách thức [8]. Trong bối cảnh này, các công viên, vườn dạo quy mô nhỏ đang trở thành yếu tố quan trọng của cơ sở hạ tầng xanh, và là phương tiện chính để mở rộng không gian giải trí ngoài trời ở các khu vực đô thị đông dân cư [9].

Tại Hà Nội, các công viên, vườn hoa vườn dạo hiện phân bố không đồng đều, nhiều khu vực đông dân cư nhưng lại thiếu không gian xanh nghiêm trọng. Theo khảo sát của Lê Quân và Nguyễn Thái Hiên (2020), hệ thống các công viên, vườn hoa của Hà Nội gồm 3 loại hình chủ yếu là công viên văn hóa tổng hợp, công viên chuyên đề và vườn hoa, trong tổng số 30 vườn hoa trong khu vực nội đô lịch sử Hà Nội được khảo sát, và chỉ có 14 vườn hoa với diện tích nhỏ hơn 0,4 ha, 11 vườn hoa có diện tích từ 0,4 đến 1ha và 5 vườn hoa có diện tích lớn hơn 1ha, đồng thời chúng phân bố không đồng đều tại các khu vực ở Hà Nội (hình 1) [3]. Trong khi đó, việc tạo ra những công viên trung tâm với diện tích lớn như các công viên: Thống Nhất, Yên Sở, Bách Thảo… là vô cùng khó khăn do quỹ đất hạn chế. Trong bối cảnh đó, vườn hoa, vườn dạo hay các không gian xanh có diện tích nhỏ được xây dựng, phân bố rải rác trong các khu dân cư được xem như một giải pháp khả thi cho các đô thị chật hẹp như Hà Nội, và cũng đã được áp dụng nhiều trong các đô thị lớn trên thế giới. Nhờ khả năng tích hợp vào các khu vực dân cư đông đúc hoặc không gian trống nhỏ, đây là giải pháp có tiềm năng để giải quyết những vấn đề về cải thiện vi khí hậu, tiện nghi nhiệt trong bán kính phục vụ và nhu cầu tương tác xã hội giúp cải thiện sức khoẻ đô thị, góp phần hướng tới phát triển đô thị bền vững.

Nghiên cứu này hướng tới việc đóng góp các lý thuyết và phân tích kinh nghiệm thực tế của nhóm tác giả khi thực hiện dự án tại TP Đài Bắc, Đài Loan, trong việc đánh giá tiềm năng của vườn hoa ở Hà Nội trong việc cải thiện sức khoẻ đô thị thông qua giảm căng thẳng nhiệt, cung cấp không gian tương tác xã hội cũng như khả năng tiếp cận không gian xanh. Qua đó, nhóm tác giả muốn đề xuất loại hình vườn hoa vào công tác quy hoạch và thiết kế đô thị, như một giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sống cho người dân đô thị, tiệm cận mục tiêu số 11 của Mục tiêu Phát triển Bền vững (Sustainable Development Goals) nằm trong Chương trình Nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc, với nội dung chính là “Xây dựng các đô thị và cộng đồng bền vững, an toàn, thích ứng và có khả năng chống chịu” [10].

2. Tổng quan mô hình vườn hoa đô thị

2.1. Các khái niệm liên quan

Theo định nghĩa của Hiến chương không gian công cộng, không gian công cộng là các khu vực trong đô thị hoặc ngoài đô thị, có thể tiếp cận bởi tất cả mọi người mà không bị hạn chế, phục vụ cho các hoạt động xã hội, văn hóa, kinh tế, và giải trí. UN-Habitat cũng khẳng định rằng, không gian công cộng là nơi mang lại sức sống của thành phố; là nơi giải trí, rèn luyện thể chất và tái tạo sức khỏe cho tất cả mọi người [11]. Là một loại hình trong đó, vai trò của các loại hình công viên trong đô thị là vô cùng quan trọng. Công viên nhỏ hay công viên bỏ túi (pocket parks), công viên tiền sảnh (vestibule parks), túi xanh (green pockets), hoặc vườn hoa, vườn dạo đô thị, có nguồn gốc từ quá trình tái thiết các thành phố châu Âu sau Thế chiến thứ II và trở nên nổi tiếng qua thiết kế của Zion ở Manhattan, Mỹ vào những năm 1950 (Hình 2) [12].

Khái niệm về vườn hoa đô thị được nêu lên theo nhiều quan điểm dựa trên vị trí, quy mô, thuộc tính. Seymour [14] miêu tả vườn hoa đô thị là loại có diện tích nhỏ hơn nửa mẫu Anh và thường được xây dựng trên các khu đất trống giữa các khu nhà (< 2000m2). Black [15] nhắc đến vườn hoa đô thị là các khu vườn được thiết kế ẩn giấu và rải rác khắp kết cấu đô thị, phục vụ trực tiếp nhu cầu hàng ngày cho cư dân địa phương. Gần đây, mô hình vườn hoa đô thị còn xuất hiện dưới dạng các “khu vườn chia sẻ”, nơi người dân được giao hoặc chia sẻ quyền sử dụng đất công cộng để canh tác, trồng trọt [16]. Ở Hà Nội, người dân ở một số khu vực đã bắt tay vào việc tự tạo ra một vườn cộng đồng trên các diện tích ít ỏi, hoặc đang chờ phát triển dự án [17]. Việc hình thành mô hình này cho thấy một nhu cầu cấp thiết về loại hình không gian xanh trong đô thị. Tóm lại, đặc trưng quan trọng của vườn hoa đô thị là quy mô nhỏ, có thể tồn tại dưới bất kể hình dạng, vị trí, bố cục linh hoạt, gần các dịch vụ, khả năng tiếp cận cao, chi phí thấp và bảo trì dễ dàng. Có thể nói, loại hình công viên này đủ khả năng lấp đầy khoảng trống do thiếu hụt các công viên lớn và cung cấp không gian cho cư dân tham gia các hoạt động giải trí ngoài trời, hình thành kết nối xã hội và tự nhiên đa dạng [18], [19].

Hình 2: Công viên Paley (Zion) ở Manhattan, Mỹ [13]
So với các loại hình công viên lớn ở trung tâm đô thị hay công viên bảo tồn ở khu vực, vườn hoa đô thị được coi là một khu sinh hoạt chung ngoài trời, tạo điều kiện cho cư dân tham gia các hoạt động giải trí ngoài trời, đáp ứng nhu cầu hàng ngày của họ để tiếp xúc với thiên nhiên và cải thiện quan hệ xã hội. Winter và cộng sự [20] chứng minh rằng, vườn hoa đô thị tạo ra một không gian sống động trong một khu vực chưa được tận dụng hết chức năng, và được nhiều người tận hưởng theo các cách khác nhau, như trẻ em vui chơi, gia đình thư giãn hoặc các hoạt động tương tác xã hội khác hàng ngày. Cohen và cộng sự [21] phát hiện ra rằng việc sử dụng vườn hoa đô thị có hiệu quả tương đương so với các không gian công viên lớn trong việc thúc đẩy hoạt động thể chất, và hiệu quả hơn về mặt chi phí.

Nếu như trên thế giới, vườn hoa đô thị (pocket park) đã được nghiên cứu rộng rãi dưới nhiều lợi ích gắn với sức khỏe và đời sống sinh hoạt cộng đồng, thì tại Việt Nam, loại hình này thường được biết đến với những không gian xanh có diện tích nhỏ, hình thành và phát triển cùng với hệ thống cảnh quan đô thị. Ở Hà Nội, hệ thống vườn hoa đô thị bắt đầu xuất hiện từ thời Pháp thuộc, chủ yếu tập trung tại khu vực nội đô lịch sử [3]. Do vậy, tác giả sử dụng thuật ngữ “vườn hoa đô thị” khi việt hóa khái niệm “pocket park” vì tương đương về mặt chức năng và gắn với bối cảnh nghiên cứu tại Hà Nội.

2.2. Gắn kết cộng đồng và tương tác xã hội

Trong thiết kế đô thị, việc thiết lập không gian gắn kết cộng đồng là yếu tố cốt lõi nhằm thúc đẩy tương tác xã hội và củng cố bản sắc địa phương [22]. Nhìn chung, một vườn hoa được thiết kế tốt đó có thể thúc đẩy và khuyến khích người dân tham gia các hoạt động ngoài trời cần đảm bảo ba nhóm yếu tố chính sau đây: 1) các yếu tố nội tại của công viên (quản lý, an toàn, cảnh quan, cơ sở vật chất…); 2) các yếu tố phụ trợ (dịch vụ đi kèm, khả năng tiếp cận…); và 3) các yếu tố cá nhân người sử dụng (giới tính, độ tuổi, xu hướng lựa chọn hoạt động thư giãn…).

Các yếu tố nội tại thường bắt nguồn từ những vấn đề liên quan đến quản lý của chính quyền địa phương, cộng đồng, và sự hoàn thiện của thiết kế. [23] đề cập đến các dự án vườn hoa xen kẹp giữa các khu dân cư cần được quản lý tốt thông qua chính sách của các cơ quan quản lý địa phương kết hợp với sự tham gia, phối hợp của các đơn vị độc lập và người dân trong khu vực. Sự hấp dẫn của mô hình vườn hoa nằm ở hiệu quả trong thiết kế cảnh quan, tạo ra cấu trúc không gian tự nhiên mở và thân thiện cho người dân ngay trong một khu đô thị chật hẹp [24].

Đối với những yếu tố phụ trợ, loại hình vườn hoa phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc giải quyết các nhu cầu của người dân trong một không gian hạn chế. Do vậy, vị trí và khả năng tiếp cận đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến sự thu hút, thân thiện, và tăng tỷ lệ sử dụng công viên của người dân. Khác với các công viên lớn, vườn hoa cần được tiếp cận nhanh bằng việc đi bộ, hay sử dụng xe đạp hơn là sử dụng các phương tiện cơ giới hoặc giao thông công cộng. Vì vậy, lý thuyết và nguyên tắc “5 phút đi bộ”, còn được gọi là “vùng đi bộ” (pedestrian shed), được coi là cơ sở để tính toán vị trí cũng như kết nối giao thông tiếp cận đến các địa điểm công cộng mà con người sẵn sàng đi bộ trước khi lựa chọn sử dụng phương tiện giao thông. Dựa trên tốc độ đi bộ trung bình, quãng đường 5 phút đi bộ được biểu thị bằng bán kính khoảng 400 mét [25]. Từ đó, vườn hoa khi được coi là điểm đến hấp dẫn và an toàn, có thể tăng hoạt động thể chất bằng cách khuyến khích các gia đình có trẻ em đi bộ tới [26]. Ngoài ra những dịch vụ đi kèm như máy bán hàng tự động, nhà vệ sinh công cộng cũng mang lại những tác động tích cực đến sự hài lòng của cư dân khi đến công viên.

Cuối cùng, các yếu tố cá nhân của người sử dụng có thể dẫn đến sự khác biệt trong việc sử dụng vườn hoa. Nếu như các công viên trung tâm được thiết kế để phục vụ toàn bộ cộng đồng dân cư, thì vườn hoa thường được thiết kế mang tính cá nhân hóa, phục vụ cho một nhóm đối tượng chiếm đa số trong khu vực, như người cao tuổi, người thu nhập thấp… Nghiên cứu của Peschardt và cộng sự (2012) [27] cho thấy rằng, càng về già, người dân càng có xu hướng thích đến những vườn hoa đô thị để nghỉ ngơi và thư giãn ít nhất một lần một tuần, và tỷ lệ phụ nữ ưa thích công viên cao hơn nam giới. Trong quá trình khảo sát những người cao tuổi ở Pune, Ấn Độ, Gaikwad và Archana (2019) [28] phát hiện ra rằng, những người cao tuổi thích những không gian bình yên, an toàn, và sạch sẽ nằm trong các khu phố. Ngoài ra, những khu phố có người thu nhập thấp thường ưu tiên lựa chọn các vườn hoa đô thị thay vì các công viên có quy mô lớn và tiện nghi [29].

2.3. Cải thiện tiện nghi nhiệt trong đô thị

Vườn hoa bổ sung cho mạng lưới hạ tầng xanh đô thị mang lại nhiều lợi ích sinh thái như điều hòa vi khí hậu, giảm nhiệt cực đoan đô thị… Trong quá trình thực hiện dự án, nhóm tác giả nhận thấy rằng thành phố Đài Bắc, Đài Loan, nơi có đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới tương đồng với Hà Nội, có thể coi là một ví dụ tốt về việc sử dụng vườn hoa để cải thiện sức khỏe đô thị. Với mật độ dân số cao và quỹ đất hạn chế, thành phố này đã phát triển hệ thống vườn hoa phân bố đều bên cạnh các công viên lớn ở trung tâm, đảm bảo cư dân có thể tiếp cận không gian xanh trong khoảng 5 phút đi bộ. Nhiều vườn hoa được hình thành từ khu đất bỏ trống, đất tam giác ở ngã ba/ngã tư, hoặc khu đất không thể xây dựng công trình lớn. Các vườn hoa này được thiết kế đa chức năng, là chỗ nghỉ ngơi nhanh cho người đi bộ, vừa là không gian sinh hoạt cộng đồng (hát, tập dưỡng sinh, trò chuyện…), và là điểm đệm xanh giúp cải thiện chất lượng không khí đô thị. Các vườn hoa này có lối tiếp cận từ nhiều phía, không có rào chắn, và thân thiện với cả xe lăn lẫn xe nôi trẻ em. Cảnh quan đa phần bao gồm có cây tán lớn ở trung tâm, kết hợp với cây bụi và thảm cỏ, một số nơi có lắp hệ thống phun sương.

Hình 3: Minh họa sự phân bố công viên nhỏ và công viên trung tâm ở quận Đại An, TP Đài Bắc

Trong thực hành nghiên cứu thông qua ba giai đoạn: 1) Phân tích bối cảnh tại Đài Bắc: Xem xét các đặc điểm đô thị hóa, bao gồm tỷ lệ phủ xây dựng, tỷ lệ diện tích sàn và tỷ lệ phủ xanh dưới điều kiện khí hậu mùa hè (các thông số này được sử dụng làm dữ liệu đầu vào cho mô phỏng; 2) Thiết lập mô phỏng vi khí hậu cho hai mô hình công viên: công viên trung tâm (một công viên lớn) và vườn hoa (nhiều vườn hoa nằm rải rác với tổng diện tích bằng công viên lớn – đảm bảo tiếp cận thuận lợi cho người dân) trong khu vực có quy mô một đơn vị ở; 3) Đánh giá mức độ thoải mái nhiệt thông qua thang phân loại của Lin & Matzarakis (2008) [30] áp dụng cho vùng khí hậu nhiệt đới ẩm như rất nóng (>42°C), nóng (38-42°C), ấm (34-38°C), hơi ấm (30-34°C).

Hình 4: Tỷ lệ tương đối vùng phân bố nhiệt từ 12h đến 16h của hai mô hình [2]
Hình 4 cho thấy, vào ban ngày, vườn hoa có thể làm giảm nhiệt độ cảm nhận sinh lý (PET) khoảng 1°C so với công viên trung tâm trong các giờ nóng nhất (12:00 đến 16:00). Khi so sánh vùng phân bố nhiệt, đặc biệt trong khoảng 14:00 đến 16:00, Le và Chan (2023) [2] thấy mô hình vườn hoa tạo ra vùng nhiệt “rất nóng” thấp hơn hẳn so với mô hình công viên trung tâm. Trong khi đó, vùng nhiệt “ấm” của mô hình vườn hoa lại cao hơn đáng kể so với mô hình công viên trung tâm. Điều này cho thấy, tác động làm mát của mô hình vườn hoa tỏ ra hiệu quả hơn trong việc giảm nhiệt cực đoan cho khu vực nhờ sự phân bố rải rác trong các khu dân cư. Ngoài khung giờ nóng nhất trong ngày này, sự khác biệt giữa hai mô hình là rất ít, đặc biệt vào ban đêm [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy sự hạn chế trong hiệu quả làm mát của mô hình vườn hoa: khoảng làm mát xa nhất (xuôi theo gió) chỉ đạt khoảng 80m, so với 160m của mô hình công viên lớn.

3. Đề xuất giải pháp

Vườn hoa, hay các mô hình không gian xanh được thiết kế và phân bố linh hoạt trong đô thị nhằm cải thiện chất lượng sống và môi trường. Nhóm tác giả đề xuất một vài giải pháp tiềm năng để tối ưu hóa việc triển khai, dựa trên các cách tiếp cận đa dạng.

  • Học hỏi và điều chỉnh kinh nghiệm quốc tế: Tham khảo các mô hình vườn hoa đô thị thành công ở Đài Bắc (Đài Loan) và các thành phố châu Âu, nơi vườn hoa được thiết kế đa chức năng (nghỉ ngơi, sinh hoạt cộng đồng, cải thiện vi khí hậu). Tuy nhiên, cần điều chỉnh thiết kế để phù hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm của Hà Nội, như ưu tiên cây bản địa chịu được mưa bão (ví dụ: cây bàng, cây phượng) và bố trí hệ thống thoát nước hiệu quả. Đề xuất nghiên cứu thêm về các loại cây có khả năng làm mát cao trong điều kiện độ ẩm lớn, dựa trên dữ liệu từ các thành phố nhiệt đới khác như Singapore.
  • Quy hoạch dựa trên vùng đi bộ: Ưu tiên bố trí vườn hoa tại các khu đất trống nhỏ (< 2000m2) như đất tam giác ở ngã ba/ ngã tư hoặc khoảng trống trong khu dân cư đông đúc. Sử dụng nguyên tắc “5 phút đi bộ” để đảm bảo cư dân tiếp cận dễ dàng bằng xe đạp hoặc đi bộ. Đề xuất khảo sát các khu vực tiềm năng, như khu vực xung quanh các chung cư cũ đang được cải tạo, để tích hợp vườn hoa vào quy hoạch tái thiết đô thị của Hà Nội.
  • Thiết kế đa chức năng với sự tham gia cộng đồng: Vườn hoa cần được thiết kế linh hoạt, phục vụ các nhóm dân cư khác nhau (người cao tuổi, trẻ em, người thu nhập thấp). Ví dụ, bố trí ghế ngồi, khu vui chơi nhỏ, hoặc không gian cho hoạt động dưỡng sinh buổi sáng – một thói quen phổ biến ở Hà Nội. Khuyến khích cộng đồng tham gia vào quá trình thiết kế và bảo trì thông qua các chương trình như “khu vườn chia sẻ” (community garden), nơi cư dân có thể trồng rau hoặc cây cảnh. Đề xuất xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, và cư dân để đảm bảo quản lý bền vững.
  • Mô phỏng và thí điểm thực nghiệm: Mặc dù hạn chế về nguồn lực, Hà Nội có thể triển khai thí điểm một số vườn hoa tại các quận nội đô, sử dụng mô phỏng CFD (Computational Fluid Dynamics) để đánh giá tác động làm mát và luân chuyển không khí. Ví dụ, thí điểm tại một khu đất trống ở quận Ba Đình, đo lường nhiệt độ cảm nhận (PET) và khảo sát mức độ sử dụng của cư dân. Kết quả từ các dự án thí điểm này sẽ cung cấp cơ sở khoa học để mở rộng mô hình.
  • Kêu gọi nghiên cứu tiếp theo: Để khắc phục thiếu hụt dữ liệu địa phương, đề xuất các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả làm mát của vườn hoa trong khí hậu Hà Nội, đặc biệt trong mùa mưa. Đồng thời, cần khảo sát hành vi sử dụng không gian xanh của cư dân Hà Nội (ví dụ: liệu người dân có ưu tiên vườn hoa nhỏ gần nhà so với công viên lớn như Hồ Gươm?) để thiết kế phù hợp hơn.
Hình 5: Vườn hoa đô thị

4. Kết luận

Trong bối cảnh đô thị hoá diễn ra nhanh chóng và quỹ đất công cộng ngày càng hạn hẹp, vườn hoa đô thị (pocket parks) được xem như một giải pháp khả thi, linh hoạt và bền vững nhằm cải thiện sức khỏe đô thị, giảm thiểu vùng căng thẳng nhiệt và nâng cao chất lượng sống cho cư dân. Mặc dù phạm vi làm mát của vườn hoa hạn chế hơn so với công viên lớn, nhưng lợi thế về khả năng tiếp cận không gian xanh, tính đa dạng chức năng cùng tiềm năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và gắn kết cộng đồng. So với công viên lớn, vườn hoa đô thị có thể tích hợp vào các khu đất trống hoặc khu dân cư mật độ cao, lấp đầy khoảng trống về không gian xanh, với chi phí xây dựng và bảo trì thấp cho thành phố. Việc triển khai vườn hoa tại các đô thị lớn như Hà Nội cần được lồng ghép vào quy hoạch tổng thể, trên cơ sở phân tích bối cảnh, đặc điểm dân cư và điều kiện vi khí hậu. Đồng thời, cần chú trọng các yếu tố nội tại, phụ trợ và nhu cầu đặc thù người sử dụng, cũng như lựa chọn phương pháp thiết kế phù hợp để nâng cao giá trị và trải nghiệm người sử dụng. Nếu được thực hiện đồng bộ, vườn hoa không chỉ góp phần đạt mục tiêu số 11 của Mục tiêu Phát triển Bền vững, mà còn tạo ra những “lá phổi xanh” gần gũi, tăng tính khả dụng của không gian công cộng, thúc đẩy hoạt động thể chất, kết nối xã hội và nâng cao sức khỏe tinh thần của người dân đô thị.

TS.KTS Lê Anh Vũ
Trường ĐH Xây dựng Hà Nội
ThS.KTS Trần Trọng Tin
Trường ĐH Yersin Đà Lạt
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2025)


Tài liệu tham khảo
[1] Hoàng Thị Thuỷ, Trần Ánh Dương, Đỗ Lan Phương, Phạm Thị Hồng Minh, Trịnh Khánh Hoà, Trần Thị Nguyệt: “Nghiên cứu hiện tượng đảo nhiệt đô thị khu vực thành phố Hà Nội dựa trên dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat-9” – Tạp chí Trắc địa – Bản đồ, Feb. 2025, doi: 10.5281/zenodo.14955111.
[2] A. V. Le and Y. C. Chan; “Investigating the Role of Urban Parks Types as Microclimate Modifiers to Outdoor Thermal Comfort,” 2023.
[3] Lê Quân and Nguyễn Thái Huyền; “Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan vườn hoa công cộng trong khu nội đô lịch sử Hà Nội,” Tạp chí Kiến trúc, vol. Số 5, 2021, [Online]. Available: https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/to-chuc-khong-gian-kien-truc-canh-quan-vuon-hoa-cong-cong-trong-khu-noi-do-lich-su-ha-noi.html
[4] V. T. Srivastava, A. Sharma, and S. S. Jadon, “A review of the formation, mitigation strategies from 50 years of global urban heat island studies,” Environ. Dev. Sustain., May 2024, doi: 10.1007/s10668-024-04966-y.
[5] C. Zhou, Y. An, J. Zhao, Y. Xue, and L. Fu, “How do mini-parks serve in groups? A visit analysis of mini-park groups in the neighbourhoods of Nanjing,” Cities, vol. 129, p. 103804, Oct. 2022, doi: 10.1016/j.cities.2022.103804.
[6] F. Guo, R. Guo, H. Zhang, J. Dong, and J. Zhao, “A canopy shading-based approach to heat exposure risk mitigation in small squares,” Urban Clim., vol. 49, p. 101495, May 2023, doi: 10.1016/j.uclim.2023.101495.
[7] J. Dong, F. Guo, M. Lin, H. Zhang, and P. Zhu, “Optimization of green infrastructure networks based on potential green roof integration in a high-density urban area—A case study of Beijing, China,” Sci. Total Environ., vol. 834, p. 155307, Aug. 2022, doi: 10.1016/j.scitotenv.2022.155307.
[8] C. Zhou, Y. Zhang, L. Fu, Y. Xue, and Z. Wang, “Assessing mini-park installation priority for regreening planning in densely populated cities,” Sustain. Cities Soc., vol. 67, p. 102716, Apr. 2021, doi: 10.1016/j.scs.2021.102716.
[9] M. Naghibi, M. Faizi, and A. Ekhlassi, “Design possibilities of leftover spaces as a pocket park in relation to planting enclosure,” Urban For. Urban Green., vol. 64, p. 127273, Sept. 2021, doi: 10.1016/j.ufug.2021.127273.
[10] K. Yamasaki and T. Yamada, “A framework to assess the local implementation of Sustainable Development Goal 11,” Sustain. Cities Soc., vol. 84, p. 104002, Sept. 2022, doi: 10.1016/j.scs.2022.104002.
[11] P. Garau (trans), “Charter of Public Space.” Biennial of Public Space, in collaboration with United Nations Human Settlements Programme (UN-Habitat), 2013.
[12] C. Zhou, Y. Zhang, L. Fu, Y. Xue, and Z. Wang, “Assessing mini-park installation priority for regreening planning in densely populated cities,” Sustain. Cities Soc., vol. 67, p. 102716, Apr. 2021, doi: 10.1016/j.scs.2021.102716.
[13] G. Deganello, “A case history: Paley Park,” Watercube Design. Accessed: Aug. 15, 2025. [Online]. Available: https://www.watercubedesign.it/paley-park/
[14] W. N. Seymour, Small Urban Spaces: The Philosophy, Design, Sociology, and Politics of Vest-pocket Parks and Other Small Urban Open Spaces. New York University Press, 1969.
[15] Alison Blake, “Pocket Parks.”
[16] S. J. Winter et al., “A Mixed Method Study to Inform the Implementation and Expansion of Pop-Up Parks for Economic, Behavioral, and Social Benefits,” J. Urban Health, vol. 97, no. 4, pp. 529–542, Aug. 2020, doi: 10.1007/s11524-020-00434-w.
[17] Nguyễn Quốc Đạt and Nguyễn Vũ Bảo Minh, “Vườn cộng đồng tự phát tại các không gian công cộng ở Hà Nội – Khi người dân hành động,” Tạp Chí Kiến Trúc, vol. 4, 2024, [Online]. Available: https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/vuon-cong-dong-tu-phat-tai-cac-khong-gian-cong-cong-o-ha-noi-khi-nguoi-dan-hanh-dong.html
[18] P. Balai Kerishnan, S. Maruthaveeran, and S. Maulan, “Investigating the usability pattern and constraints of pocket parks in Kuala Lumpur, Malaysia,” Urban For. Urban Green., vol. 50, p. 126647, Apr. 2020, doi: 10.1016/j.ufug.2020.126647.
[19] D. A. Cohen et al., “The Potential for Pocket Parks to Increase Physical Activity,” Am. J. Health Promot., vol. 28, no. 3_suppl, pp. S19–S26, Jan. 2014, doi: 10.4278/ajhp.130430-QUAN-213.
[20] S. J. Winter et al., “A Mixed Method Study to Inform the Implementation and Expansion of Pop-Up Parks for Economic, Behavioral, and Social Benefits,” J. Urban Health, vol. 97, no. 4, pp. 529–542, Aug. 2020, doi: 10.1007/s11524-020-00434-w.
[21] S. Liu and X. Wang, “Reexamine the value of urban pocket parks under the impact of the COVID-19,” Urban For. Urban Green., vol. 64, p. 127294, Sept. 2021, doi: 10.1016/j.ufug.2021.127294.
[22] Jan Gehl, Đô thị vị nhân sinh. NXB Xây Dựng, 2020.
[23] Y.-C. Lee and K.-H. Kim, “Attitudes of Citizens towards Urban Parks and Green Spaces for Urban Sustainability: The Case of Gyeongsan City, Republic of Korea,” Sustainability, vol. 7, no. 7, pp. 8240–8254, July 2015, doi: 10.3390/su7078240.
[24] F. A.A., Z. Ponrahono, and K. Zakariya, “Quality of designs and features of small urban green spaces in Petaling Jaya town, Malaysia,” Plan. Malays., vol. 19, May 2021, doi: 10.21837/pm.v19i15.931.
[25] “The 5-minute walk,” MORPHOCODE. Accessed: Aug. 14, 2025. [Online]. Available: https://morphocode.com/the-5-minute-walk/
[26] D. A. Cohen et al., “The Potential for Pocket Parks to Increase Physical Activity,” Am. J. Health Promot., vol. 28, no. 3_suppl, pp. S19–S26, Jan. 2014, doi: 10.4278/ajhp.130430-QUAN-213.
[27] K. K. Peschardt, J. Schipperijn, and U. K. Stigsdotter, “Use of Small Public Urban Green Spaces (SPUGS),” Urban For. Urban Green., vol. 11, no. 3, pp. 235–244, Jan. 2012, doi: 10.1016/j.ufug.2012.04.002.
[28] A. Gaikwad and K. Shinde, “Use of parks by older persons and perceived health benefits: A developing country context,” Cities, vol. 84, pp. 134–142, Jan. 2019, doi: 10.1016/j.cities.2018.08.001.
[29] G. S. Macfarlane, T. Tapia, and C. T. Voulgaris, “City parks and slow streets: A utility-based access and equity analysis,” J. Transp. Land Use, vol. 15, no. 1, pp. 587–612, 2022.
[30] T.-P. Lin and A. Matzarakis, “Tourism climate and thermal comfort in Sun Moon Lake, Taiwan,” Int. J. Biometeorol., vol. 52, no. 4, pp. 281–290, Mar. 2008, doi: 10.1007/s00484-007-0122-7.