Trên đỉnh Ba Vì

(c) Ảnh: Nguyễn Công Thiện
(c) Ảnh: Nguyễn Công Thiện

Từ truyền thuyết xa xưa

Thưở bé, nhà tôi ở một căn hộ tầng 5 trong một khu tập thể thuộc huyện Từ Liêm – phía tây Hà Nội. Căn hộ nhà tôi cũng hướng tây luôn. Hồi đó, tầng 5 là tầng cao nhất, ở đó có thể nhìn bát ngát bốn phương trời. Những buổi chiểu mùa hè, đứng ở hành lang trước cửa ngắm hoàng hôn, thấy xa xa một dãy núi xanh mờ. Người lớn bảo đấy là Núi Ba Vì, nơi có thần Sơn Tinh ngự. Trong suy nghĩ non trẻ của một đứa trẻ con, tôi chỉ cảm thấy truyền thuyết kia như gần hơn, thật hơn.

Câu chuyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh ai ai cũng biết. Đó là một câu chuyện vừa lãng mạn vừa bi hùng của hai nhân vật – đại diện cho con người và thiên nhiên. Cuộc chiến đấu bền bỉ giữa con người và thiên nhiên, giữa sức lao động và sự tàn phá của bão lụt kết thúc có hậu thuộc về con người. Cuộc chiến đấu được cho là xảy ra dữ dội nơi con sông Đà hung hãn vấp phải núi Ba Vì, bị chặn đứng và thuần phục bởi những bờ đê, trở thành dòng nước tưới mát cho đồng bằng châu thổ sông Hồng. Và khi thuỷ điện sông Đà hoàn thành, một lần nữa khẳng định sức mạnh cuả con người cùng khả năng chế ngự thiên nhiên.

Câu chuyện không có thật, nhân vật cũng không có thật. nhưng hình như tất cả những gì còn lại là rất… thật.  Và còn mãi Sơn Tinh – Đức Thánh Tản Viên, được suy tôn là một trong Tứ Bất Tử trong dân gian.

(c) Ảnh: Nguyễn Công Thiện
(c) Ảnh: Nguyễn Công Thiện

Những ngọn núi chung một cái tên

Ba Vì là một dãy núi phía tây Hà Nội thuộc huyện Ba Vì (Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội), Lương Sơn và Kỳ Sơn (Hoà Bình). Ba Vì trải trên một diện tích khoảng 5000ha. Đây là một dãy núi đá vôi có nhiều ngọn núi. Cái tên Ba Vì được gọi chung cho ba đỉnh núi lớn, quan trọng và ý nghĩa nhất: núi Vua (1296m), núi Tản (1281m) và núi Ngọc Hoa (1120m). Núi Tản, (còn gọi là  Ngọc Tản, Tản Sơn, hoặc Phượng Hoàng Sơn) – dù không phải cao nhất nhưng là ngọn núi nổi tiếng và quan trọng nhất. Núi mang tên Tản Viên vì ngọn núi có hình thù khá đặc biệt – gần đỉnh thắt lại, trên xoè ra. Trong truyền thuyết dân gian, đây được coi là nơi ngự của Đức Thánh Tản Viên Sơn Tinh, và trên núi có Đền Thượng – là nơi thờ Ngài. Đền Thượng có từ bao giờ thì khó có thể biết đích xác. Nhưng trong chính sử đã có những ghi chép liên quan rất cụ thể. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi có ghi “Vua Lý Nhân Tông sai thợ làm đền thờ trên đỉnh núi cao nhất có đến 20 tầng lầu”. Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã chép: “Vào triều Lý Nhân Tông, bấy giờ mưa dầm, rước Phật Pháp Vân về kinh để cầu tạnh, cúng Thần Tản Viên”. Điều đó cho thấy rằng Đền Thượng đã được xây dựng từ thời Lý và tín ngưỡng thờ Tản Viên có ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian.

Qua thời gian, chiến tranh và thiên tai, dấu tích về một Đền Thượng đượm màu truyền thuyết không còn nữa. Năm 1993, khi vườn Quốc gia Ba Vì được thành lập; đền Thượng đã được khởi công xây dựng lại – mới hoàn toàn. Đền toạ bên vách đá dưới đỉnh núi Tản, nơi được cho là trên dấu tích cũ của đền xưa. Công trình do kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính thiết kế. Đền Thượng quay hướng Nam, chính điện có bức hoành phi với bốn đại tự “Tản Lĩnh Linh Thần”.  Hai cột bên ngoài có đôi câu đối:

Núi Tản tựa trời cao, ba đỉnh lừng danh từ vạn cổ
Sông Đà trừ thác dữ, một dòng rực sáng đến mai sau

Đền thờ Bác Hồ – một dấu ấn của thời đại

Nếu như ở núi Tản Viên, có đền Thượng thờ Đức Thánh Tản – Sơn Tinh, là một nhân vật trong truyền thuyết dân gian, thì trên đỉnh núi Vua kế bên có một ngôi đền thờ khác mang dấu ấn của thời đại, thờ một con người – một nhân vật có thật. Đó là đền thờ Bác Hồ.

Đền thờ Bác Hồ được xây dựng theo nguyện vọng của nhân dân để tưởng nhớ vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Có thể là một sự sắp đặt khéo léo, cũng có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi ngôi đền của một anh hùng dân tộc bậc nhất được đặt ở ngọn núi này. Đền được khởi công ngày 01/3/1999 và hoàn thành ngày 29/8/1999, nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày mất của Người và 40 năm ngày Bác phát động Tết trồng cây. Công trình do kiến trúc sư Nguyễn Trực Luyện và kiến trúc sư Hoàng Phúc Thắng thiết kế.

Đền thờ Bác Hồ được xây dựng trên mặt bằng khoảng 150m2, quay hướng nam. Công trình sử dụng hệ kết cấu bê tông cốt thép nhưng vẫn theo theo phong cách kiến trúc truyền thống với 2 tầng mái, cùng đầu đao uốn cong. Các chi tiết kiến trúc đơn giản, mạch lạc; khai thác theo những mô típ, hoạ tiết dân tộc.

Chính điện là một không gian mở với ba bề là hiên thông thoáng, không có cửa. Ở bệ thờ có một bức tượng Bác Hồ đúc bằng đồng, trong tư thế ngồi, tay cầm tờ báo Nhân dân, phía trên là bức hoành phi ghi dòng chữ: “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”. Trước đền ở lối vào là có một tấm bia đá ghi công ơn và di chúc của Bác Hồ. Ở diện tường khối hậu cung phía sau chính điện là một phù điêu có hình bản đồ Việt Nam trên mặt trống đồng và lời kêu gọi đoàn kết dân tộc của Bác: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”.

Đền thờ là một loại hình kiến trúc mang tính văn hoá – tín ngưỡng cổ xưa. Đền thờ Bác Hồ – một ngôi đền thờ được dựng thời hiện đại để thờ một nhân vật của thời đại cũng là một dấu ấn độc đáo.

Nơi Hà Nội dựa vào

Chiếu dời đô của Thái Tổ Lý Công Uẩn năm 1010 viết rằng:

“…Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời…”

(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993)

“Núi sông sau trước” hay “nhìn sông dựa núi” trong phong thuỷ có ý nghĩa tương tự. Ngọn núi mà Thăng – Long Hà Nội dựa vào chính là Ba Vì.

Tôi không phải là một chuyên gia phong thuỷ, nhưng là người Hà Nội và quan tâm đến các vấn đề quy hoạch – kiến trúc nên có đọc nhiều bài viết liên quan khi Hà Nội mở rộng. Hà Nội được mở rộng hơn vẫn kèm một luận thuyết về phong thuỷ, mà trong nhiều báo cáo, nhiều bài viết người ta vẫn hay ca ngợi địa thế của mảnh đất ngàn năm là “Rồng cuộn, hổ ngồi”. Một đồng nghiệp vong niên của tôi, cũng là một chuyên gia phong thuỷ; người Hà Nội, sống ở trời Nam, ngóng về phương Bắc nói rằng: Đúng ra phải là”Rồng chầu, hổ phục”; đó mới là tư thế của sức mạnh tiềm tàng… Loại bỏ yếu tố chi li khi chiết tự và ý nghĩa của những chữ có thể lẫn lộn Hán-Việt; thì rõ ràng vấn đề địa hình sông núi là một yếu tố quan trọng không chỉ trong quá khứ mà còn có ý nghĩa của cả hiện tại và tương lai.

Tôi thì đang nghĩ về điều gì khác hơn là mấy vấn đề câu chữ đó…

Hà Nội cũ, Hà Nội mới; núi sau sông trước, rồng cuộn hổ ngồi hay rồng chầu hổ phục… sẽ vẫn là một câu chuyện dài. Tự nhiên tất cả trong tôi nhoà dần và hiện lên dãy núi xa xa của ký ức tuổi thơ.

(c) Ảnh: Nguyễn Công Thiện
(c) Ảnh: Nguyễn Công Thiện

Gió núi Ba Vì và nỗi sợ hãi mơ hồ

Tôi đã lên Ba Vì theo một cách bình thường nhất với mong muốn được đặt chân lên dãy núi của tuổi thơ, chạm vào truyền thuyết; và đi tìm những ngọn gió khoáng đạt, trong lành chứ không phải tìm hiểu một điều gì quá sâu xa thuộc về hình sông thế núi.

Khi xe vừa qua cổng giới hạn phạm vi của ban quản lý Vườn quốc gia Ba vì, không ai bảo ai chúng tôi đều hạ kính xuống, hít sâu lồng ngực không khí mát lạnh trong veo, bù lại cho sự ngột ngạt khi qua những con đường đầy bụi. Ở giữa núi rừng, giữa thiên nhiên, ở sát trời cao; tôi đã thấy, đã chạm vào những ngọn gió, đơn giản thế thôi. Bỏ mặc thành phố bụi bặm sau lưng, tôi đã đến đây, lên núi Ba Vì.

Những ngọn gió trên núi bao giờ cũng lạnh hơn
Những ngọn gió trên núi bao giờ cũng mạnh mẽ và phóng khoáng hơn.
Gió thổi trên những tầng cây, xuyên qua những vách núi
Gió bứt lá phủ đầy xuống con đường núi quanh co
Gió luồn qua những công trình kiến trúc hoang tàn trên sườn núi
Gió theo bước chân qua những bậc thang lên tới những đền thờ trên đỉnh

(c) Ảnh: Nguyễn Công Thiện
(c) Ảnh: Nguyễn Công Thiện

Những năm gần đây, xung quanh phạm vi núi Ba Vì phát triển nhiều khu du lịch sinh thái, khu nghỉ dưỡng; nào Suối Hai, Khoang Xanh, Suối Tiên, Ao Vua, Vườn Quốc gia Ba Vì…; gần đây, quy mô nhất là Tản Đà Resort. Bên cạnh đó còn có những dự án đang có nhiều vấn đề bất ổn về cả quy hoạch và pháp lý… Con người đã có mặt và chiếm hữu dần những nơi hoang sơ của rừng núi. Biết rằng phát triển du lịch, phát triển kinh tế là tất yếu nhưng tôi vẫn không muốn điều đó. Có thể tôi mâu thuẫn và cực đoan bởi tôi đang tới đây bằng một cách thức phổ cập nhất là du lịch. Nhưng trong thâm tâm tôi không muốn dãy núi Ba Vì và những đỉnh núi linh thiêng trở nên ồn ào, xô bồ như nhiều điểm du lịch – di tích khác.

Đứng trên đỉnh núi, nhìn xuống thấy đồng bằng mịt mờ trong mây khói, sông Đà chỉ là một dải nhỏ bé; tự nhiên dâng lên một nỗi sợ hãi mơ hồ. Gió thổi rất mạnh…

KTS Nguyễn Trần Đức Anh
© Tạp chí kiến trúc

Xem thêm: Tọa đàm: Phát huy giá trị phế tích Pháp tại núi Ba Vì