Mô hình đào tạo kiến trúc tại Việt Nam

Thực trạng – vị thế và công tác đào tạo KTS tại Việt Nam hiện nay

Có thể nói, ngành Kiến trúc (hay nghề Kiến trúc) là một nghề tương đối được coi trọng ở Việt Nam. KTS sau khi tốt nghiệp ra trường, nguồn nhân lực này có mặt rộng khắp ở tất cả các môi trường làm việc của xã hội, từ cơ quan Quản lý nhà nước, Viện nghiên cứu, Trường đại học, Doanh nghiệp, Hội nghề nghiệp… Tuy nhiên, ngoài sứ mệnh sáng tác thiết kế, KTS còn thực hiện, đảm nhiệm nhiều lĩnh vực có liên quan như: Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật thông qua Nghị định, Quy chuẩn, Tiêu chuẩn… ; thực hiện các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng có tính định hướng, chiến lược, mục tiêu hoặc trọng điểm… ; nghiên cứu về Bảo tồn di sản và Lý luận phê bình kiến trúc; giảng dạy trong các cơ sở đào tạo… Đó là chưa kể đến việc tương tác giải quyết các công việc có liên quan đến xây dựng cơ bản như thẩm định, khảo sát, kiểm định, giám sát, quản lý dự án đầu tư xây dựng, tư vấn đấu thầu, giám sát quyền tác giả, phản biện xã hội…

Đại học Công nghệ Delft

Như vậy, có thể khẳng định, một KTS khi tốt nghiệp ra trường tại Việt Nam, có rất nhiều sự lựa chọn môi trường làm việc của mình tùy theo khả năng, trình độ chuyên môn và cả sự yêu thích lựa chọn của chính bản thân. Tuy nhiên, thực tế làm nghề của họ thực sự còn nhiều điều đáng bàn:

Tại các cơ quan Quản lý nhà nước: Phần lớn các KTS khi công tác ở môi trường này đều tham gia vào công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản dưới luật mang tính kiến tạo các cơ chế chính sách; thẩm định, kiểm định, cấp phép… Tuy nhiên, thực tế là họ thiếu năng lực, ít có phương pháp lý luận, thiếu sắc bén và tư duy khoa học, tạo ra nhiều lớp thế hệ ỷ lại; nguy hiểm hơn khi họ đóng vai trò ở công tác thẩm định, kiểm định, kiểm soát, thanh kiểm tra… Do thiếu năng lực nên họ thiếu nguồn lực mang tính chiến lược, định hướng, làm chủ lĩnh vực ngành, từ đó dẫn đến việc ban hành, công bố các quy định, thông tư, nghị định thiếu khả thi, không đi vào cuộc sống…

Tại các Viện nghiên cứu: Vì mới ra trường, lại về trong môi trường nghiên cứu với đồng lương thấp, do vậy, KTS chỉ xoay quanh việc phải lo cơm áo gạo tiền. Thiếu căn bản phương pháp luận nghiên cứu, thiếu thực hành dẫn đến nghiên cứu xa rời thực tiễn, chủ yếu mang tính đối phó. Đặc biệt, lực lượng này, do ít có cơ sở đào tạo phương pháp luận nghiên cứu nên rất khó đáp ứng công tác nghiên cứu xây dựng hệ thống Quy chuẩn, Tiêu chuẩn, Bảo tồn di sản, Lý luận và phê bình kiến trúc… nên phần lớn các kết quả nghiên cứu ít tính khả dụng, ứng dụng, áp dụng vào cuộc sống. Tại các viện thực sự thiếu vắng các KTS có trình độ hàn lâm về lý luận và phản biện xã hội.

Tại các cơ sở đào tạo: Một thực tế dễ thấy nhất đối với SV ngành kiến trúc là học chay quá nhiều, gần như không có môn học phương pháp luận nghiên cứu nên thiếu kỹ năng thuyết trình, trình bày. Các môn học nhiều nhưng hạn chế kiến thức mang tính tổng hợp trong một đồ án nên khó nhận biết, khó tìm cách giải quyết một vấn đề có liên quan đến các bộ môn khác như kết cấu, điện, nước, vật lý kiến trúc, vật liệu xây dựng… Rất khó tiếp cận với nền văn minh, kiến trúc thế giới do thiếu liên kết đào tạo nước ngoài, thiếu các xưởng thực hành, labo thí nghiệm…

Hình 1: Xưởng mô hình – Đại học công nghệ Delft – Hà Lan

Hệ thống giảng viên nếu không được trải qua ở các môi trường thực hành, thực tiễn sẽ ít kinh nghiệm, thiếu cả tính hàn lâm và tính ứng dụng. Nhiều trường có đào tạo chất lượng cao nhưng chưa đúng với yêu cầu và thực chất, nặng về hình thức do chỉ có thêm yếu tố về ngoại ngữ. Việc kết hợp, liên kết đào tạo giữa Trường, Viện nghiên cứu, Doanh nghiệp tuy đã có nhưng còn ít.

Tại các Doanh nghiệp, Hội nghề nghiệp: Ít có KTS có cá tính, có phương pháp nghiên cứu sáng tác và tự lập ngay từ lúc trẻ: Lối cũ tư duy đi theo kiểu hiệp thợ, người đi trước dìu dắt người đi sau: Thiếu bản lĩnh nghề nghiệp và phương pháp luận, phương pháp diễn đạt ý tưởng; nặng về kỹ năng thể hiện kỹ thuật, thể hiện ảnh 3D. Rất ít KTS đầu đàn, hiểu biết và làm chủ tích hợp các yếu tố về công nghệ và kỹ thuật trong một tác phẩm, một công trình… Càng thiếu vắng hơn là các KTS có trình độ lý luận, phản biện xã hội.

Xu thế đào tạo KTS ở Việt Nam

Hình 2: Xưởng thiết kế tập trung- Đại học Harvard
Hình 3: Xưởng mô hình- Đại học Kiến trúc Manchester
Hình 4: Phòng thí nghiệm VLXD – Đại học Công nghệ Kỹ thuật Đài Loan

Với những nét chính thực trạng trên, việc đưa ra một cách thức nhìn nhận và mô hình đào tạo cho KTS tại Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết, có thể khái quát ở các giải pháp chính sau đây:

1. Trước hết, trong giai đoạn hiện nay, cần và rất cần phải có KTS công nghệ (Hay nói đúng nghĩa là KTS thực hành). Trong khi chưa xây dựng và tích hợp được các yêu cầu, các yếu tố, tiêu chí, chỉ tiêu về xanh, tiết kiệm năng lượng, thông minh… vào hệ thống Quy chuẩn, Tiêu chuẩn xây dựng thì các cơ sở đào tạo cần phải tạo dựng cơ sở vật chất với đủ các phòng mô hình, xưởng thực nghiệm, phòng thí nghiệm về vật lý kiến trúc như ánh sáng, khí, nước, nhiệt…như mô hình đào tạo của các nước (H1,2,3,4)- Để SV có thể làm quen với việc học, tích hợp, mô phỏng, diễn đạt ý tưởng trong đồ án chuyên ngành kiến trúc với các bộ môn kỹ thuật và công nghệ khác. Công việc này cũng chính là những viên gạch đầu tiên, tạo nền móng cho chức danh Tổng công trình sư sau này, với ý nghĩa người KTS đóng vai trò chính trong sáng tác, chủ trì, chủ nhiệm và tác nghiệp;

2. Đào tạo theo mô hình CDIO: Viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Conceive – Design – Implement – Operate (Hình thành ý tưởng – Thiết kế – Triển khai thực hiện và Vận hành). Đây là một mô hình nếu tham chiếu và ứng dụng vào việc đào tạo KTS ở Việt Nam sẽ vừa tích hợp được chuỗi quá trình đào tạo gắn kết giữa thời gian đào tạo và nhu cầu nguồn nhân lực, ở đó giải quyết căn bản giữa thang trình độ năng lực (Thể hiện qua học tập kiến thức và sáng tạo), đồng thời xây dựng, đào tạo, phát hiện những kỹ năng bẩm sinh (Thiên về trí huệ) trong nhận thức từ đơn giản đến phức tạp của sinh viên để có quy trình đào tạo phù hợp theo hình chóp với số đông là KTS thực hành (Đào tạo khoảng 4 năm), có thể đầu ra ở các hệ thống Doanh nghiệp; Số còn lại, với yêu cầu cao hơn (Đào tạo khoảng 6 năm) sẽ là các KTS chủ trì sáng tác, quản lý, tổ chức, lãnh đạo nhóm…cung cấp cho các cơ quan Quản lý nhà nước, Viện nghiên cứu, Cơ sở đào tạo, Doanh nghiệp…(Hình 5).

Hình 5: Sơ đồ thang trình độ năng lực và kỹ năng nhận thức gắn liền với thời gian đào tạo KTS theo các yêu cầu và nhu cầu từ thấp đến cao

3. Cần liên kết đào tạo giữa Trường Đại học-Viện nghiên cứu – Doanh nghiệp và liên kết đào tạo quốc tế. Đây chính là yếu tố then chốt, đáp ứng các yêu cầu và nhu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực của xã hội và thị trường. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các cơ sở đào tạo KTS cần phải xây dựng hoàn chỉnh và đồng bộ chuỗi quy trình đào tạo từ xác định mục tiêu và chuẩn đầu ra, đến việc xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo, và cuối cùng là đánh giá chương trình đào tạo thông qua kiểm chứng theo định kỳ. (Hình 6).

Hình 6: Sơ đồ xây dựng chương trình đào tạo KTS đáp ứng chuẩn đầu ra theo yêu cầu và nhu cầu của xã hội và thị trường nguồn nhân lực

4. Cũng nên thay đổi các môn thi khi tuyển sinh. Chẳng hạn, có thể tổ hợp 4 môn thi Toán, Văn, Vẽ mỹ thuật, Ngoại ngữ. Thực tế cho thấy, KTS rất cần các kỹ năng về thuyết trình, viết thuyết minh hoặc xây dựng các văn bản pháp luật…, môn Văn có thể khéo léo kết hợp với sự hiểu biết của ứng viên về văn hóa, di sản kiến trúc Việt Nam; môn vẽ mỹ thuật không nên cứng nhắc chỉ là tĩnh vật đơn thuần, bởi đó là mẫu có sẵn, hạn chế và không phát hiện được nhiều sự sáng tạo. Có thể là sự tổ hợp từ các hình dạng hình học phẳng, đoạn thẳng, đường thẳng hoặc hình không gian sao cho có ý nghĩa kết hợp màu sắc…

5. Sau cùng, ngoài việc thay đổi theo các hình thức đào tạo và tuyển sinh nói trên, rất nên cần bổ sung một số môn học như: Văn hóa và kiến trúc Việt Nam; Phương pháp luận nghiên cứu; Phương pháp thuyết trình và tác nghiệp; Hệ thống Luật và Quy chuẩn, Tiêu chuẩn ngành Xây dựng. Đây là những môn học vốn dĩ lâu nay chỉ dành cho đào tạo sau Đại học như bậc Thạc sỹ, Tiến sỹ. Những môn học này có thể dành cho các SV học hệ 6 năm, nhằm trang bị, nâng cao khả năng tiếp cận, nhận diện, thuyết trình, quản lý tổ chức, phản biện, tích hợp ý tưởng sáng tác với công nghệ và kỹ thuật… Cũng đồng thời giúp SV có những nhận thức nhất định về các cặp phạm trù đối lập nhưng ít nhiều vẫn có tính Tương đồng và Dị biệt giữa Tiên tiến và Bản sắc, Truyền thống và Hiện đại trong sáng tác; Đáp ứng nhu cầu đa dạng nguồn lực KTS theo yêu cầu và nhu cầu của xã hội và thị trường.

*TS.KTS Nguyễn Tất Thắng
Nghiên cứu viên Cao cấp-Viện Kiến trúc Quốc gia-Bộ Xây dựng

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2018)

––––––––––––––––––––––––––––

Tài liệu tham khảo:
1. CDIO – Wikipedia tiếng Việt.
2. Dự thảo “Khung chương trình đào tạo ngành khoa học và công nghệ kiến trúc đổi mới theo CDIO” – Trường Đại học Xây dựng -2018
3. Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH 13.