1. Dẫn nhập
Trải qua nửa thế kỷ từ ngày đất nước hòa bình và thống nhất, 1975-2025, Việt Nam đã có nhiều bước tiến và thành tựu quan trọng. Đặc biệt là từ năm 1986, thực hiện đường lối Đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội của thời kỳ hậu chiến, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cùng với sự phát triển của đất nước, kiến trúc được xem là một lĩnh vực quan trọng bởi góp phần kiến tạo diện mạo kiến trúc đô thị thông qua các công trình, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội phục vụ các chủ trương, chính sách nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Kết nối với sự vận động của Việt Nam, kiến trúc cũng có những giai đoạn phát triển khác nhau tương ứng với những thời điểm có tính chất quyết định của đất nước, mà chúng ta có thể phân thành năm giai đoạn 10 năm cùng những chuyển hóa về đặc điểm thực hành kiến trúc tương ứng với mỗi giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 10 năm thứ nhất: Khó khăn trong thực hành kiến trúc đô thị thời hậu chiến trong giai đoạn 1975-1986 – từ thời điểm kết thúc cuộc chiến, thống nhất non sông đến quyết định thay đổi chính sách phát triển đất nước;
- Giai đoạn 10 năm thứ hai: Những đổi mới đầu tiên trong thực hành kiến trúc đô thị trong giai đoạn 1986-1995 – từ chính sách Đổi mới đến bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, mở rộng hợp tác thế giới;
- Giai đoạn 10 năm thứ ba: Hội nhập kiến trúc đô thị thế giới trong giai đoạn 1995-2007 – từ quan điểm “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” đến nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế;
- Giai đoạn 10 năm thứ tư: Đẩy mạnh trách nhiệm kinh tế – xã hội của kiến trúc đô thị trong giai đoạn 2007-2015 – Từ mở rộng cửa với thế giới đến hưởng ứng các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của nhân loại;
- Giai đoạn 10 năm thứ năm: Dẫn nhập các xu hướng bền vững hóa trong thực hành kiến trúc đô thị trong giai đoạn 2015-2025 – từ những Mục tiêu Phát triển bền vững đến kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Xét một cách toàn diện, chính sách Đổi mới đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy nhanh tốc độ xây dựng đô thị và nông thôn ở nước ta. Thị trường kiến trúc và xây dựng được định hình, đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ và tính chuyên nghiệp ngày càng cao. Trong bối cảnh đó, công tác đào tạo KTS cũng được mở rộng. Từ chỗ chỉ một vài cơ sở đại học công lập lớn trong những ngày đầu thống nhất đất nước như các Trường ĐH: Xây dựng Hà Nội, Kiến trúc Hà Nội, Kiến trúc TP.HCM… đào tạo ngành kiến trúc với chỉ tiêu tuyển sinh khiêm tốn; thì sau 50 năm, số lượng trường đại học đào tạo KTS đã lên đến hơn 40 trường với số lượng sinh viên tốt nghiệp mỗi năm lên đến con số hàng nghìn, góp phần tạo ra một lực lượng KTS hùng hậu cho đất nước.
2. Bức tranh toàn cảnh các cơ sở đào tạo ngành Kiến trúc tại Việt Nam
Dựa trên tổng hợp các thông tin giới thiệu từ các cơ sở đào tạo (CSĐT), chúng ta có thể thấy bức tranh toàn cảnh hệ thống đa sắc màu cả về không gian trên khắp ba miền của đất nước xuyên suốt thời gian năm thập kỷ phát triển cùng đất nước.

3. Nhìn lại hệ thống đào tạo KTS hiện nay tại Việt Nam
Về mặt thời gian, trải qua 50 năm, số lượng các CSĐT ngành Kiến trúc cũng như các ngành khác trong nhóm ngành Kiến trúc và Quy hoạch đã tăng lên đáng kể, và có thể chia thành 4 nhóm thế hệ như sau:
- Nhóm các CSĐT kiến trúc thế hệ thứ nhất: Ngoại trừ Trường ĐH Mỹ thuật Công nghiệp đào tạo ngành Thiết kế nội thất, cả nước có 3 trường ĐH công lập đào tạo ngành Kiến trúc có tuổi đời lâu nhất. Nếu như Trường ĐH Xây dựng Hà Nội và Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội được thành lập để đào tạo KTS (và các ngành kỹ thuật xây dựng) trong những năm 60 khi miền Bắc Việt Nam quyết tâm đẩy mạnh con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần một nguồn nhân lực lớn cho các hoạt động xây dựng và kiến thiết đô thị; thì Trường ĐH Kiến trúc TP HCM được thành lập ngay sau khi thống nhất đất nước nhưng dựa trên nền tảng của Trường ĐH Kiến trúc Sài Gòn do chế độ cũ thành lập từ năm 1957. Các trường này chính là những “viên đá tảng” quan trọng trong việc xây dựng nền móng cho hệ thống đào tạo KTS sau này.
- Nhóm các CSĐT kiến trúc thế hệ thứ hai: Trong suốt giai đoạn 1975-1986, đất nước vẫn còn phải đối mặt với những khó khăn thời hậu chiến cũng như những quan điểm cứng nhắc của nền kinh tế bao cấp, lĩnh vực kiến trúc nước nhà gần như không có nhiều cơ hội để phát triển. Mãi đến giữa những năm 1980, sau khi đất nước quyết định Đổi mới nền kinh tế, chấp nhận kinh tế tư nhân, và quan trọng nhất là ban hành Luật Đất đai 1993, thừa nhận quyền sử dụng đất như một loại hàng hóa kéo theo sự xuất hiện của thị trường bất động sản, các hoạt động xây dựng trở nên bùng nổ sau gần hai thập kỷ trầm lắng. Sau hai thập kỷ im ắng, hàng loạt các trường ĐH, chủ yếu là dân lập, ở hai trung tâm ĐH lớn là Hà Nội và TP HCM liên tục được thành lập và mở ngành Kiến trúc nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực. Đây được xem là thế hệ thứ hai các CSĐT KTS sau các trường ĐH công lập nói trên. Điều này cũng cho thấy việc đào tạo kiến trúc cũng thu hút sự chú ý của khu vực kinh tế tư nhân với sự đầu tư có bài bản vào việc thiết lập cơ sở vật chất, xây dựng quan điểm, chiến lược đào tạo riêng của mỗi trường.
- Nhóm các CSĐT kiến trúc thế hệ thứ ba: Sau năm 2000, khi thế giới bước vào thiên niên kỷ mới với tình trạng suy thoái kinh tế khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có phần chững lại dẫn đến các dự án xây dựng cũng giảm sút. Chỉ đến cuối những năm 2000, kinh tế dần phục hồi và qua đầu những năm 2010 thì mới khởi sắc trở lại, một lượng lớn các CSĐT trên cả nước cùng mở ngành Kiến trúc khiến số lượng KTS được đào tạo mỗi năm tăng vọt. Một trong những chuyển biến quan trọng là sự phân chia “đẳng cấp” trong đào tạo KTS giữa các trường thuộc các thế hệ khác nhau. Các CSĐT thuộc thế hệ thứ nhất vẫn giữ vai trò trọng yếu, trong khi đó, các CSĐT thuộc thế hệ thứ hai bắt đầu lớn mạnh và có những thời điểm cạnh tranh “ngang ngửa” với thế hệ thứ nhất, đặc biệt là các CSĐT ở miền Nam với nhiều tư duy đổi mới, cập nhật xu hướng của bối cảnh mới, trong khi các CSĐT thuộc thế hệ thứ ba mới thành lập nên vẫn loay hoay tìm kiếm hướng tiếp cận thị trường người học. Do xu thế cạnh tranh giữa các trường, các chương trình đào tạo kiến trúc cũng bắt đầu được đổi mới khi cập nhật những quan điểm hiện đại trên thế giới về đào tạo, các lớp chất lượng cao, tích hợp hợp tác quốc tế được mở ra tại nhiều CSĐT.
- Nhóm các CSĐT kiến trúc thế hệ thứ tư: Đây là thế hệ của những CSĐT mở ngành kiến trúc trong khoảng mười năm trở lại đây, khi thị trường đào tạo KTS bắt đầu có dấu hiệu “bão hòa”, nghĩa là nguồn cung số lượng KTS ra trường mỗi năm tiệm cận hoặc vượt quá nhu cầu của thị trường lao động, khiến cho các CSĐT bước vào một cuộc cạnh tranh mới để thu hút người học cũng như thuyết phục xã hội về chất lượng đào tạo. Các CSĐT mở ngành kiến trúc trong giai đoạn này cũng cho thấy mong muốn muốn đa dạng hóa lĩnh vực đào tạo theo xu hướng đa ngành hóa của các trường ĐH nên ngành Kiến trúc được mở trong những trường đa ngành hoặc trong những trường trước đây là đơn ngành (không liên quan nhiều đến kiến trúc). Với những CSĐT đã có ngành kiến trúc thì lại mở rộng thêm một số ngành khác thuộc nhóm ngành Kiến trúc và Quy hoạch nhằm tăng nhiều khả năng lựa chọn cho người học.

Về số lượng và phân bố địa lý, có sự đồng đều số lượng các CSĐT nhóm ngành Kiến trúc và Quy hoạch ở miền Bắc với 18 CSĐT và ở miền Nam cũng 18 CSĐT, và gấp đôi so với 9 CSĐT của miền Trung. Xét riêng từng miền thì sự phân bổ tương đối đồng đều về số lượng các CSĐT giữa đô thị trung tâm giáo dục của miền Nam (TP HCM) và miền Trung (TP. Đà Nẵng) với các tỉnh thành khác trong miền, trong khi đó, ở miền Bắc thì sự chênh lệch này khá rõ ràng khi Hà Nội hội tụ 14 CSĐT so với chỉ 4 CSĐT ở các tỉnh thành khác trong miền. Như vậy, có thể thấy Hà Nội là địa phương có số lượng CSĐT nhóm ngành Kiến trúc và Quy hoạch nhiều nhất (14 CSĐT), tiếp đến là TP HCM (10 CSĐT), TP. Đà Nẵng (4 CSĐT), Bình Dương (3 CSĐT), TP. Hải Phòng (2 CSĐT), TP. Cần Thơ (2 CSĐT), Lâm Đồng (2 CSĐT) và các tỉnh thành khác như Hưng Yên, Bắc Ninh, Nghệ An, TP. Huế, Phú Yên, Vĩnh Long, Long An, Đồng Nai (mỗi tỉnh thành có 1 CSĐT). Xét riêng ngành Kiến trúc thì Hà Nội cũng chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng 10 CSĐT so với TP HCM đứng thứ hai với 8 CSĐT và Đà Nẵng đứng thứ ba với 4 CSĐT. Điều này cũng dẫn đến số lượng KTS được đào tạo mỗi năm cũng nhiều nhất ở miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội.
Về cách thức đào tạo, mỗi CSĐT đều có những thế mạnh và triết lý đào tạo riêng, hướng đến những mục tiêu đào tạo khác nhau nên thật sự là khó so sánh, nhất là khi chúng ta vẫn chưa có một điều tra, đánh giá tổng thể trên toàn bộ hệ thống CSĐT nhóm ngành Kiến trúc và Quy hoạch. Tuy nhiên, nếu thống kê nhanh, dựa trên các đồ án SV nhóm ngành Kiến trúc và Quy hoạch đạt Giải thưởng Loa Thành, cũng như các cuộc thi uy tín thường niên khác do các tổ chức, doanh nghiệp xã hội tổ chức trong 05 năm trở lại đây cho thấy các CSĐT tại miền Nam, đặc biệt là Trường ĐH Kiến trúc TP HCM, tuy số lượng giải ít hơn so với các CSĐT tại miền Bắc nhưng giải lại ở thứ hạng cao hơn. Ngoài ra, có sự cân bằng nhất định cả về số lượng lẫn chất lượng đào tạo giữa các CSĐT công lập và dân lập ở miền Nam, trong khi đó ở miền Bắc thì 2 CSĐT công lập lớn là Trường ĐH Xây dựng Hà Nội và Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội gần như chiếm ưu thế tuyệt đối, trong khi ở miền Trung thì các CSĐT dân lập lại có phần sôi nổi hơn.

Về cơ cấu ngành đào tạo trong nhóm ngành Kiến trúc và Quy hoạch, ngành Kiến trúc gần như chiếm ưu thế tuyệt đối khi có 37/45 CSĐT. Ngành đứng thứ hai là ngành Thiết kế nội thất hoặc Kiến trúc nội thất, và kế đến là ngành Kiến trúc cảnh quan được các CSĐT mở chủ yếu trong khoảng một thập kỷ trở lại đây. Việc mở những ngành này là kết quả tất yếu khi đời sống kinh tế ngày càng cải thiện, xã hội ngày càng quan tâm nhiều hơn, không chỉ về kiến trúc mà còn cả nội thất bên trong lẫn cảnh quan bên ngoài công trình. Thậm chí, có một số CSĐT chỉ mở các ngành Thiết kế nội thất và Kiến trúc cảnh quan mà không mở ngành Kiến trúc do tính “phức tạp” hơn trong đào tạo của ngành này. Trong khi đó, các ngành thuộc về đô thị lại không được các trường quan tâm nhiều, đặc biệt là các CSĐT dân lập, khi mà hầu như chỉ có các CSĐT công lập đào tạo quy hoạch, quản lý hay thiết kế đô thị. Đặc biệt, ngành Đô thị học chỉ có duy nhất 01 trường (công lập) đào tạo, trong khi ngành Bảo tồn di sản kiến trúc – đô thị không có cơ sở nào đào tạo.

Về chương trình đào tạo, 3 trường công lập với bề dày lịch sử đào tạo nên có những định hướng phát triển chương trình đào tạo KTS tương đối độc lập, có bản sắc riêng và được xem là “nòng cốt” quan trọng, gây ảnh hưởng nhiều đến hệ thống. Nếu như chương trình đào tạo kiến trúc của Trường ĐH Kiến trúc TP HCM đề cao tính thực hành nghề nghiệp và diễn họa trình bày thiết kế; thì hai trường ở miền Bắc lại tiếp cận kiến trúc theo hai hướng khác nhau: Trường ĐH Xây dựng Hà Nội đề cao tính kỹ thuật trong kiến trúc nhằm mục đích các thiết kế có thể hiện thực hóa; Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội lại đề cao tính nghệ thuật thông qua sự sáng tạo hình khối và hình thức, ý tưởng và ý nghĩa của thiết kế công trình. Ngoài các chương trình đào tạo đại trà, đáp ứng nhu cầu chung của xã hội, 3 trường này cũng bổ sung thêm một số chương trình đào tạo chất lượng cao giúp sinh viên cọ xát nhiều hơn với thực tế lẫn trao đổi, học tập từ các chương trình đào tạo quốc tế khác. Do các giảng viên tham gia mở ngành Kiến trúc tại các CSĐT thành lập sau này chủ yếu là cựu sinh viên của 3 trường công lập nói trên, nên các chương trình đào tạo thường một mặt dựa trên hoặc chịu ảnh hưởng từ chương trình của 3 trường này, mặt khác có điều chỉnh lại để phù hợp với đặc điểm đối tượng người học cũng như điều kiện cơ sở vật chất, đặc thù đào tạo của trường mình. Cho đến hiện nay, chỉ duy nhất trường ĐH Xây dựng Hà Nội nâng cấp chương trình đào tạo KTS lên thành bậc 7 chuyên sâu theo Khung trình độ Quốc gia Việt Nam (tương đương với Thạc sĩ), trong khi tất cả các trường còn lại thì vẫn giữ bằng KTS tương đương với bậc 6.
4. Vai trò của Hội KTS Việt Nam trong hệ thống đào tạo KTS
Như vậy, có thể thấy trường ĐH Kiến trúc TP HCM ở phía Nam, trường ĐH Xây dựng Hà Nội và trường ĐH Kiến trúc Hà Nội ở phía Bắc được xem là những “anh lớn”, đóng vai trò chủ đạo và dẫn hướng về đào tạo KTS tại Việt Nam trong giai đoạn từ thời điểm thống nhất đất nước 1975 đến nay. Điều này không chỉ được giới chuyên môn công nhận mà còn được xã hội đồng tình dựa trên chất lượng của nguồn nhân lực được đào tạo bởi 3 trường – Một mặt cho thấy tính dẫn hướng của hệ thống, nhưng mặt khác tạo ra sự mất cân bằng đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng đào tạo KTS ở Việt Nam.
Chính vì vậy, Hội KTS Việt Nam với vai trò quan trọng trong việc góp phần vào sự phát triển của ngành Kiến trúc tại Việt Nam nói chung, và trong công tác đào tạo KTS nói riêng, đã nỗ lực thúc đẩy các hoạt động giao lưu, tương tác và tiến đến hợp tác giữa các CSĐT trong nước với nhau, cũng như với các CSĐT của các nước trong khu vực. Festival sinh viên Kiến trúc toàn quốc là một hoạt động như vậy khi được tổ chức hai năm một lần do Hội KTS Việt Nam chủ trì, lần lượt phối hợp cùng đơn vị đăng cai là các trường ĐH đào tạo ngành Kiến trúc trên cả nước. Với nhiều hoạt động sôi nổi, Festival đã trở thành sân chơi lớn và bổ ích dành cho sinh viên Kiến trúc thông qua những hoạt động sáng tạo, sôi nổi tại các phần thi thiết kế nhanh, ký họa, đồ họa, nhiếp ảnh, sắp đặt cùng những hội thảo, tọa đàm chuyên môn với sự góp mặt của các chuyên gia, KTS uy tín thông qua những hoạt động giao lưu, kết nối và khảo sát thực tế.
Bên cạnh đó, Giải thưởng Loa Thành được tổ chức bởi 4 cơ quan là Hội KTS Việt Nam, Tổng Hội Xây dựng Việt Nam,Trung ương Đoàn TNCS HCM và Bộ Xây dựng, được xem như thước đo về chất lượng đào tạo KTS của các CSĐT trong hệ thống. Đây là giải thưởng uy tín lâu năm nhất dành cho đồ án tốt nghiệp xuất sắc của sinh viên ngành xây dựng toàn quốc, trong đó có ngành Kiến trúc và Quy hoạch. Tính đến lần trao giải gần đây nhất vào năm 2024, Giải thưởng này đã có hành trình 36 năm, tạo nên dấu ấn quan trọng trong việc tuyên dương, động viên, khuyến khích phong trào học tập của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kiến trúc và xây dựng đất nước.
Có thể nói, ngành Kiến trúc, hay nghề Kiến trúc, là một ngành nghề tương đối được coi trọng ở Việt Nam. Nguồn nhân lực KTS sau khi tốt nghiệp ra trường có mặt rộng khắp ở tất cả các môi trường làm việc của xã hội, nhất là khi đất nước ngày càng có nhiều thành tựu mới trong tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng sống của người dân. Nửa thế kỷ phát triển trong bối cảnh đất nước hòa bình, thống nhất và đổi mới, hệ thống đào tạo KTS đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần khắc phục.
Nhìn lại toàn cảnh bức tranh đào tạo KTS nửa thế kỷ vừa qua – 1975-2025 – là để giúp Hội KTS Việt Nam cùng các cơ sở đào tạo có những chiến lược, quan điểm mới trong đào tạo những thế hệ KTS mới khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
PGS.TS.KTS Trần Minh Tùng
Bộ môn Kiến trúc dân dụng, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch
Trường ĐH Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2025)
























