Ngành thiết kế nội thất tại thành phố Hồ Chí Minh: 50 năm hình thành và phát triển

Hơn 50 năm trước, khi Sài Gòn còn thuộc chế độ VNCH, ngành Nội thất chưa được xem là một ngành độc lập. Trong các Trường ĐH Kiến trúc hay Cao đẳng Mỹ thuật thời đó chưa hề có bộ môn Nội thất – Và, dĩ nhiên, cũng chưa có các nhà thiết kế nội thất. Trên thị trường dù một số vật liệu nội thất đã xuất hiện nhưng các nhà thầu nội thất thì chưa có tên gọi, họ thường là nhà thầu xây dựng kiêm thêm thi công trang trí trong các quán ăn, bar, café và nhà tư nhân giàu có. Ngay cả khi xây dựng Dinh Độc lập thì phần nội thất cũng do KTS Ngô Viết Thụ tự tay thiết kế, còn thi công thì do nhà thầu xây dựng cơ bản kết hợp một số họa sĩ đảm nhận.

Sau năm 1975 đến thập niên 90, đất nước khó khăn trong nền kinh tế bao cấp khiến tất cả các ngành đều như chậm lại và ngành nội thất chưa có cơ hội trỗi dậy, vẫn tiếp tục duy trì theo cách cũ. Giữa thập niên 1980, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa, các công ty nước ngoài bắt đầu vào Việt Nam. Khi đầu tư xây dựng tại Việt Nam, họ yêu cầu không chỉ có hồ sơ thiết kế kiến trúc, kết cấu, kỹ thuật điện, nước, điều hòa không khí mà còn đòi hỏi cả bản vẽ nội thất. Có lẽ chính thời điểm này là lúc ngành Nội thất mới bắt đầu được chú ý. Sang thập niên 1990, các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều gây nên sự bùng nổ nhu cầu văn phòng làm việc cho công ty nước ngoài. Khách nước ngoài vào Việt Nam nhiều kéo theo ngành du lịch phát triển, nhu cầu khách sạn nhà hàng cũng bùng nổ theo. Kinh tế của TP ngày một khởi sắc, người dân có tiền nhiều hơn và bắt đầu có nhu cầu làm đẹp cho ngôi nhà của mình. Cũng từ đó bên cạnh nhu cầu thiết kế kiến trúc công trình mới thì nhu cầu về một hồ sơ thiết kế nội thất (TKNT) nghiêm túc cho tất cả các thể loại công trình cũng bắt đầu xuất hiện. Vào thời điểm này các trường Kiến trúc cũng như Mỹ thuật tại TP. HCM chưa hề có khoa Nội thất, Việt Nam chưa có nhà TKNT nào được đào tạo bài bản. Do vậy các KTS, những người chưa được học nhiều về TKNT đã phải thay vai, tự mày mò, tìm hiểu, nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu mới mẻ này và dần hình thành một lực lượng KTS chuyên TKNT. Thời kỳ sơ khai của ngành TKNT tại TP. HCM đã bắt đầu như vậy. Trong quá trình phát triển, TKNT tại TPHCM nói riêng và Việt Nam nói chung dù khởi đầu chậm nhưng đã phát triển rất mạnh và cùng hòa nhập với các xu hướng nội thất thế giới, đồng thời cũng biến đổi theo các xu hướng mới về nội thất trên thế giới ở từng thể loại công trình.

Không gian làm việc mở
Không gian Pantry VP công ty Phillips Moris, sinh động và rộng rãi như một nhà hàng

Nội thất Văn phòng đã bắt đầu phát triển mạnh tại TP. HCM vào giữa thập niên 1990 khi các công ty nước ngoài ồ ạt vào đầu tư và mở văn phòng tại Việt Nam. Xu hướng văn phòng không gian mở bắt đầu hình thành tại TP. HCM và các nhà thiết kế tại đây cũng thích nghi với cách bố trí không gian làm việc hoàn toàn khác với trụ sở làm việc của các công ty nhà nước trước đây: Không còn ngăn chia nhiều phòng nhỏ cạnh một hành lang dài, không còn chia mỗi phòng ban một không gian riêng biệt mà hầu như tất cả ngồi chung trong một không gian rộng. Bàn ghế, trang thiết bị được chuẩn hóa, được lắp ráp từ những bộ phận nhỏ kết hợp các vách ngăn thấp (System partition) ngăn chia từng bàn làm việc với đầy đủ ổ điện, dây nối mạng có sẵn trong vách. Bên cạnh đó, một dạng văn phòng mini cũng xuất hiện lần đầu tại Việt Nam, còn gọi là Business center. Mô hình này tương tự như khu vực business center trong khách sạn nhưng quy mô lớn hơn, chia ra nhiều phòng làm việc nhỏ, có thể cho khách thuê 1 phòng với 1 hoặc vài chỗ làm việc. Khách có thể thuê theo ngày, theo tuần hay tháng thì tùy. Dù chỉ thuê 1 phòng nhưng khách vẫn có thể sử dụng các tiện ích đi kèm như in ấn, photocopy, pantry, phòng họp và có thể kèm cả thư ký.

Không gian Co-working dành cho các Freelancers – TOONG

Sang thập kỷ 2000, nội thất văn phòng lại biến đổi theo xu hướng đương đại, bàn ghế làm việc không còn vuông vức như cũ mà có thể cong lượn dù vẫn tiêu chuẩn hóa. Không gian trước đây được xem là phụ như pantry, chỗ nghỉ ngơi relax cho nhân viên được chú trọng hơn với nhiều thiết kế mới lạ, ấn tượng; màu sắc không gian văn phòng cũng phong phú hơn không còn đơn điệu như thời kỳ trước.

Không gian làm việc mở của VP công ty O&M – giai đoạn sau thập niên 2000: Bàn làm việc có đường cong tự do mềm mại hơn, vách ngăn riêng giờ đây đã thu hẹp để tăng tính kết nối giữa các nhân viên, màu sắc nội thất không còn đơn điệu như trước

Rồi đến cuối thập kỷ 2010, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 cùng với tác động của đại dịch Covid-19 khiến nội thất văn phòng lại biến đổi sang mô hình hybrid. Nhờ công nghệ wifi phát triển, nhiều nhân viên có thể làm việc từ xa mà không cần đến công ty nên không gian văn phòng đã giảm bớt số chỗ ngồi (so với tổng số nhân viên) nhưng số phòng họp tăng lên, chủ yếu là các phòng họp ít người, thậm chí chỉ dành cho 1 người để họp online với khách hàng hoặc nhân viên khác đang làm việc từ xa. Không gian pantry giờ đây trở thành 1 quán café có quầy phục vụ dành làm nơi vừa làm việc, vừa giao tiếp giữa nhân viên với nhau hoặc với khách hàng. Ở giai đoạn này, khi có thể làm việc từ xa thì số lượng người làm việc tự do (freelancers) ngày càng nhiều. Từ nhu cầu chỗ làm việc cá nhân, mô hình business center trước đây đã biến đổi thành mô hình Co-Working với các văn phòng cho thuê từng chỗ làm việc, ngồi chung trong không gian rộng, người sử dụng có thể thuê theo giờ, theo ngày hay theo tháng.

Nội thất nhà ở tại TP. HCM đã có từ thời phong kiến, phong cách nội thất hiện đại cũng đã xuất hiện trước 1975. Sau đó là một giai đoạn kinh tế khó khăn của TP nên việc chăm sóc đến nội thất trong ngôi nhà dường như bị bỏ quên. Đến giữa thập niên 1980, nội thất nhà ở mới bắt đầu phát triển trở lại, khi khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam và cần thuê nhà để ở. Nội thất giai đoạn này chủ yếu là cải tạo các biệt thự cũ thời Pháp nên phong cách chủ yếu là Neo Classic hoặc Indochine, cùng một vài phong cách hiện đại. Qua thập niên 1990, kinh tế tốt hơn, dân TP bắt đầu có tiền thì xây dựng nhà mới cùng với nội thất nhà ở hiện đại bắt đầu xuất hiện nhiều.

Nội thất nhà phố
Nội thất biệt thự

Sang thập niên 2000, mô hình nhà ở chung cư cao tầng bắt đầu xuất hiện tại TP và đến cuối thập niên thì bùng nổ. Do chủ sở hữu căn hộ không phải quan tâm đến mặt đứng nhà của mình nên họ tập trung nhiều vào nội thất, từ đó thiết kế nội thất căn hộ phát triển mạnh với nhiều phong cách mới mẻ bắt kịp các xu hướng nội thất nhà ở của thế giới. Bên cạnh đó các khu biệt thự cao cấp xuất hiện ngày càng nhiều tại TP với mức đầu tư ngày càng cao cũng giúp các nhà thiết kế nội thất có dịp phóng tay, để lại nhiều tác phẩm nội thất đẹp.

Nội thất ngành dịch vụ ăn uống, khách sạn, resort – TKNT các công trình dạng này cũng nhanh chóng phát triển theo sự phát triển của ngành du lịch, khi lượng khách nước ngoài vào Việt Nam ngày càng đông. Ở giai đoạn đầu, các thiết kế khách sạn cao cấp đều do các đơn vị thiết kế nước ngoài đảm nhận, kể cả kiến trúc lẫn nội thất, bởi thời điểm đó Việt Nam chưa có các tiêu chuẩn đầy đủ cho khách sạn ở cấp 4-5 sao, nhất là đối với nội thất. Đặc biệt resort – mô hình khách sạn nghỉ dưỡng hòa với thiên nhiên chỉ xuất hiện tại Việt Nam vào giữa thập niên 1990. Có lẽ phải mất khoảng hơn 1 thập kỷ, khi các nhà TKNT của Việt Nam học hỏi được các tiêu chuẩn khác nhau theo từng thương hiệu khách sạn, từ đó đội ngũ thiết kế Việt Nam đã dần đảm nhận được việc thiết kế khách sạn, resort một cách chuyên nghiệp.

Nội thất 1 căn hộ cao tầng – Penthouse
Quầy tiếp đón kết hợp quầy bar trong không gian công cộng mở kết hợp nhiều công nghệ tiện ích, phục vụ giới trẻ – KS SOJO Thanh Hóa

Cùng với sự phát triển của xã hội, của công nghệ, mô hình khách sạn cũng có nhiều thay đổi. Từ mô hình truyền thống, khách sạn biến đổi thành nhiều mô hình mới như resort kết hợp chăm sóc sức khỏe: Kết hợp thêm các dịch vụ spa, thiền, yoga, chữa bệnh…; Condotel – khách sạn kết hợp căn hộ; Khách sạn thông minh kết hợp nhiều tiện ích công nghệ cho khách; Khách sạn tự phục vụ dành cho giới trẻ với không gian công cộng mở; Home stay dành cho du lịch balo,… Mỗi loại hình có mặt bằng và không gian nội thất khác nhau đòi hỏi nhà thiết kế nội thất phải nắm rõ khi thiết kế.

Về lĩnh vực F&B – dịch vụ ăn uống, loại hình này đã phát triển từ trước 1975 tại Sài Gòn, do vậy sau này khi có điều kiện thì phát triển rất nhanh. Bên cạnh các kiểu nhà hàng truyền thống, mô hình nhà hàng buffet – tự phục vụ – đã xuất hiện tại TP cùng với khách sạn 4-5 sao vào thập niên 1990. Tiếp theo, các cửa hàng thức ăn nhanh, cafeteria cũng xuất hiện ngày một nhiều. Sang thập niên 2000, thêm nhiều mô hình nhà hàng kiểu mới như nhà hàng nướng, nhà hàng lẩu với HT hút khói trực tiếp tại bàn; nhà hàng băng chuyền với thức ăn luôn di chuyển dọc các bàn ăn; nhà hàng Sushi với bàn ăn thấp kiểu Nhật,… Các quán bar rượu với các loại rượu vang rượu mạnh rất phong phú về chủng loại và cách pha chế, cách phục vụ từ bình dân đến thật cao cấp đã làm làm đa dạng thêm các thể loại dịch vụ ăn uống. Tất cả các mô hình mới kể trên về dịch vụ ăn uống du nhập vào Việt Nam thực tế ít tác động nhiều đến thiết kế kiến trúc, tuy nhiên lại làm phong phú thêm rất nhiều cho không gian nội thất F&B bởi sự đa dạng từ nội dung đến hình thức. Điều này đòi hỏi nhà TKNT phải học hỏi, phải tự trải nghiệm rất nhiều cái mới để có thể nắm bắt và đáp ứng đúng yêu cầu của chủ đầu tư cũng như người sử dụng.

Bar Fashion
Café tự phục vụ Phindeli

Nội thất các thể loại công trình khác cũng đã phát triển đồng hành với từng thể loại công trình kiến trúc tương ứng tại TPHCM. Ở lĩnh vực giáo dục, mô hình trường quốc tế với nhiều khác biệt so với trường phổ thông ở Việt Nam. Từ hình thức học kiểu cũ học sinh ngồi tại lớp và các thầy cô sẽ đến lớp dạy đã đổi ngược lại khi thầy cô ngồi tại chỗ, còn học trò di chuyển đến học theo từng môn. Thay đổi này đòi hỏi không gian nội thất lớp học khác hẳn, mỗi lớp học là của riêng một môn học nên toàn bộ giáo cụ môn học đó được bày sẵn trong lớp giúp giáo viên dễ dàng sử dụng, học sinh dễ dàng tiếp thu hơn. Nhưng khi đó, nhà TKNT phải tốn nhiều công sức hơn để thiết kế mỗi phòng học theo một cách khác nhau tương ứng với từng môn học.

Các ngân hàng tại Việt Nam thời gian này cũng có nhiều chuyển đổi, từ mô hình cũ theo quan điểm là nơi giữ tiền an toàn nhất cho khách hàng nhà giàu với không gian nội thất thật uy nghi, nhưng lạnh lẽo, xa cách dần đổi thành không gian thân thiện, ấm cúng theo quan điểm mới: Ngân hàng luôn gần gũi với mọi nhà, mọi tầng lớp.

Nhà hàng buffet tại KS Sheraton
Nhà hàng Nhật với kiểu bàn ăn thấp- Sushitei

Một loại hình dịch vụ mới xuất hiện tại TP là trung tâm tiệc cưới. Giai đoạn từ 1990, kinh tế TP phát triển cũng là giai đoạn TP bùng nổ dân số từ 3 triệu lên 8 triệu dân rồi đến nay là 10 triệu dân chưa kể 2-3 triệu người không có hộ khẩu thường trú. Nhu cầu cưới hỏi gia tăng và văn hóa người Việt là thường mời rất đông khách đến dự. Với quy mô vài trăm khách tại tiệc cưới thì các nhà hàng thông thường không thể đáp ứng nổi, từ đó xuất hiện mô hình trung tâm tiệc cưới, nơi có thể phục vụ cùng lúc cho nhiều lễ cưới với số lượng lên đến 300-600 khách/tiệc. Ở loại hình này, hình thức kiến trúc chỉ có một nhưng phong cách nội thất thì phải nhiều kiểu khác nhau cho từng phòng tiệc, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của khách hàng. Nơi đây trở thành là đất diễn cho các nhà TKNT.

các phòng tiệc theo các phong cách khác nhau trong cùng 1 Trung tâm Tiệc cưới

Dịch vụ giải trí tại TP cũng phát triển mạnh, loại hình sân khấu được đầu tư nhiều, chất lượng nghe nhìn của nhà hát cũng được nâng cao hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khán giả. Trong TKNT nhà hát, giải pháp thiết kế chiếu sáng và trang âm đòi hỏi người TKNT phải trang bị đủ kiến thức về cả ánh sáng lẫn âm học.

Nội thất nhà hát Hòa Bình – Q10, TPHCM, cải tạo năm 2002 đã được thiết kế trang âm rất tốt với các vách gỗ hút âm được bố trí hợp lý

Vật liệu nội thất mới du nhập vào TP khá nhiều, đáp ứng cho nhiều loại hình mới trong không gian nội thất kể trên. Các loại vách thạch cao nhẹ và dễ tháo lắp thay thế dần vách tường xây trong không gian văn phòng; các tấm vật liệu MDF, MFC với bề mặt nhiều màu sắc thay thế ván ép; các lớp veneer – gỗ ghép dát mỏng thay thế dần các tấm gỗ đặc; sàn gỗ công nghiệp thay cho sàn gổ đặc giúp thi công nhanh hơn. Sơn nước thay vôi, sơn PU thay vernis; kính ghép trang trí, giấy dán tường, sơn giả kim loại, Laminate kim loại, Solid surface áp dụng cho các bề mặt lớn không mối nối…Đến năm 2010 xu hướng kiến trúc xanh bắt đầu du nhập vào Việt Nam thì nội thất xanh cũng phát triển, các vật liệu nội thất thân thiện môi trường, an toàn sức khỏe người sử dụng phát triển mạnh. Sơn, keo dán Low VOC, MDF MFC low formaldehyde, thảm tái chế; gạch tái chế… được sử dụng nhiều. Bên cạnh đó đèn LED tiết kiệm năng lượng được phát minh và trong thời gian ngắn đã thay thế hoàn toàn đèn nung sáng tiêu tốn nhiều điện năng. Công nghệ LED ngày một tiên tiến góp phần giúp nhà thiết kế dễ dàng kiểm soát các giải pháp chiếu sáng nội thất một cách hoàn hảo. Các vật liệu mới, thiết bị mới này đã thay đổi rất nhiều diện mạo không gian nội thất các năm qua và nhà TKNT phải cập nhật thường xuyên nếu không muốn bị lạc hậu.

Đội ngũ nhà TKNT chuyên nghiệp dù hình thành có chậm một chút nhưng vẫn đáp ứng kịp các chuyển đổi của ngành nội thất. Đến đầu thập niên 1990 các Trường ĐH tại TP. HCM mới bắt đầu đào tạo chuyên ngành TKNT để thay thế dần các KTS trước đó đang làm thay nhiệm vụ này. Trường Bách Khoa TPHCM có bộ môn Nội thất từ năm 1993 (thuộc Khoa Mỹ thuật Công nghiệp) rồi sau đó chuyển bộ môn này qua trường Kiến trúc khi Kiến trúc thành lập bộ môn TKNT năm 1996. Có nghĩa đến thập niên 2000 thì lực lượng TKNT mới bắt đầu thực sự phục vụ cho ngành của mình. Dù vậy ngành TKNT đã phát triển rất nhanh về chất lượng để đến nay cũng đã dần bắt kịp các nhà TKNT nước ngoài.

Nội thất văn phòng xanh TTT Architects với vật liệu xanh, phát thải thấp: Sơn nước Zero VOC, bàn tủ vách được làm bằng ván MDF low formaldehyde, phủ sơn PU low VOC

Vai trò của TKNT trong công trình kiến trúc dần dần hiện rõ theo sự phát triển của ngành TKNT. Qua thực tế triển khai thi công các dự án kiến trúc lớn nhỏ đã cho thấy sự quan trọng của TKNT đối với các bộ môn kỹ thuật như thiết kế cấp điện, cấp thoát nước, điều hòa không khí. Tất cả các bộ môn này chỉ có thể hoàn tất công việc của mình sau khi bản vẽ TKNT chi tiết được phê duyệt. Trên mặt bằng KS điện có thể định vị vị trí từng contact, ổ cắm điện nhưng chính xác ở đâu trên vách tường thì phải chờ TKNT chỉ định. Kỹ sư điện có thể thiết kế độ sáng đúng tiêu chuẩn cho từng không gian nhưng đặt đèn chính xác ở đâu, chọn loại đèn nào, kiểu gì, nhiệt độ màu và độ hoàn màu ra sao, chóa đèn kiểu gì, góc chiếu bao nhiêu lại phải do TKNT quyết định. Kỹ sư nước có thể bố trí sơ đồ cấp thoát nước hoàn chỉnh nhưng chính xác vị trí TB vệ sinh thế nào vẫn phải theo bản vẽ TKNT. Kỹ sư cơ điện có thể tính toán đủ công suất điều hòa không khí cho không gian phòng nhưng chọn miệng cấp và hồi hình thức thế nào, đặt ở đâu phải tùy thuộc giải pháp TKNT: Một số trường hợp, sau khi phương án TKNT được xem xét, chủ đầu tư phải yêu cầu thay đổi vật liệu sàn do TK kiến trúc đã chọn hoặc điều chỉnh TK kiến trúc để đảm bảo đáp ứng yêu cầu của nội thất, và đôi khi cả kết cấu cũng phải thay đổi nếu muốn không gian nội thất đẹp hơn. Ở góc độ người sử dụng thì không gian nội thất thường mang lại cho họ cảm xúc nhiều nhất bởi nó tác động trực tiếp đến họ thông qua các giác quan nhìn, nghe, chạm, ngửi… Nói chung, vai trò của TKNT là rất quan trọng, đóng góp không nhỏ vào giá trị của công trình kiến trúc.

Tuy nhiên, chính sách dành cho ngành TKNT hiện nay là chưa tương xứng với vai trò của nó. Trong các tiêu chuẩn kỹ thuật của thiết kế chưa có hạng mục riêng cho TKNT. Quy trình TK theo các bước từ TK phác thảo đến TK cơ sở, TK kỹ thuật, TK bản vẽ thi công không thấy yêu cầu bản vẽ nội thất dù các bản vẽ kỹ thuật các loại đều được nhắc đến. TKNT cũng chưa có chỗ đứng trong các quy chuẩn quy phạm quốc gia. Phân định hạng mục vật liệu do bộ môn kiến trúc chỉ định như hoàn thiện sàn, trần, vách trong nhà lại chồng lấn vào hạng mục mà đúng ra phải do nội thất quyết định. Đơn giá cho các hạng mục thi công nội thất hiện chưa hoàn chỉnh, và đặc biệt đến giờ vẫn chưa có đơn giá TKNT.

Ở góc độ hành nghề, còn có một nghịch lý khác: Theo Luật Kiến trúc thì hiện nay các KTS – là người không qua đào tạo về nội thất – khi thi sát hạch lấy chứng chỉ hành nghề kiến trúc có thể thi lấy thêm chứng chỉ hành nghề TKNT. Trong khi đó, luật không nhắc đến vai trò của nhà TKNT – người được đào tạo bài bản 4-5 năm, và do vậy khi hành nghề, họ lại không thể thi lấy bằng hành nghề cho chính ngành mình học như các KTS.

Đây có lẽ là những vấn đề rất mong được điều chỉnh trong giai đoạn sắp tới để sao cho nghề TKNT được xã hội nhìn nhận một cách chính thức, để nhà TKNT được coi trọng hơn, tương xứng với giá trị họ mang lại cho các công trình, cho xã hội.

KTS Trần Khánh Trung
Phó Chủ tịch Hội KTS TP HCM
Đồng sáng lập TTT Architects
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 04-2025)