Nhà in Nguyễn Văn Của – Một “dấu vết” của ngành in ấn miền Nam

Khu nhà in của ông Nguyễn Văn Của khuất khỏi tầm nhìn của cư dân thành phố và khách du lịch suốt thời gian dài bị che lấp sau nhiều bảng hiệu và hàng quán. Tổ hợp kiến trúc thương mại này được xây dựng vào đầu thế kỷ 20 (tọa lạc tại số 57 đường Nguyễn Du, TP.HCM ngày nay), được sử dụng làm cơ sở sản xuất và phân phối sản phẩm in ấn. Ẩn sau vẻ ngoài đơn giản và tiết chế là những chi tiết trang trí thú vị và nhiều câu chuyện bị quên lãng. Khảo sát về cụm công trình này cung cấp một số góc nhìn thú vị về bối cảnh thương nghiệp cũng như kiến trúc thương mại của Sài Gòn đầu thế kỷ 20.

Lịch sử nhà in

Ban đầu nhà in vốn thuộc về ông Đinh Thái Sơn, một người gốc Nghệ An. Theo “Điếu Cổ Hạ Kim Thi Tập” của tác giả Nguyễn Liên Phong, gia đình ông Đinh Thái Sơn vốn theo Công giáo, thuở nhỏ đã theo thầy vào Nam học nghề đóng sách tại nhà in Thánh đường họ Tân Định (nhà thờ giáo xứ Tân Định trên đường Hai Bà Trưng bây giờ). Sau 4 năm kiên trì học nghề ra làm việc, ông Sơn được ông Trương Vĩnh Ký giúp đỡ giới thiệu công việc đóng sách tại kho sách của chính phủ. Sau một thời gian tích góp, ông thành lập một “Ấn thơ cuộc” là nơi dùng để in ấn, đóng sách và phân phối các sách viết bằng chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp với nhiều thể loại khác nhau, bên cạnh công việc sửa xe máy và sửa súng.

Ông Sơn đặt hiệu cho nhà in là “Phát Toán”, lấy tên của cha vợ mình để ghi nhớ công ơn, sau này ông nhường lại nhà in cho bạn là ông Joseph Nguyễn Văn Viết, người tiếp tục công việc in ấn và ngày càng phát đạt. Còn ông Sơn, sau khi tách ra đã hùn tiền với ông Lê Phát An (một trong số những phú hào giàu có nhất ở miền Nam, cậu ruột của Hoàng hậu Nam Phương) mua ba căn nhà lầu ở số 157 đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi) và mở ra một nhà in mới, lấy hiệu là “Imprimerie de l”Union”, dịch sang tiếng Việt là “Nhà in Đồng Hiệp”, tức là “hai người đồng lòng hiệp sức với nhau mà dựng thành cuộc buôn bán lớn”. Sau này ông Lê Phát An nhờ ông Lê Văn Nghi cùng ông Đinh Thái Sơn quản lý công việc in ấn và tiếp đón quan khách.

Tác giả Nguyễn Liên Phong đã ca ngợi ông Đinh Thái Sơn như sau: “Như ông Đinh Thái Sơn cũng phải là một người có trí độ, và có mạng vận, và có hiếu hạnh với cha mẹ, gương tốt nên tặng nên khen. Thi rằng: Đinh Thái Sơn lòng dạ rất bền/ Chịu siêng, chịu nhọc, lập thân nên/ Huân chương ba nước ngời ân thưởng/ Ấn cuộc ngàn thu vững cội nền/ Hiệp với phú ông nương thế mạnh/ So bề sanh ý thạnh thêm lên. Lâu dài vẹn giữ danh thơm tốt/ Cao vọi đượm nhuần phước đức trên” (Điếu Cổ Hạ Kim Thi Tập, Nguyễn Liên Phong, tr.241)

Năm 1918 nhà in đã được chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Của và đổi tên mới là “Imprimerie de l”Union Ng.-V.-Cua”. Tới năm 1919, ông Của trở thành chủ nhiệm của tòa soạn báo và mua lại tờ báo Lục Tỉnh Tân Văn. Ban đầu, nhà in vẫn ở số 157 đường Catinat, sau này dời về số 57 đường Lucien Mossard (Nguyễn Du ngày nay). Năm 1924, họ đã xây dựng một tòa nhà mới tại vị trí này, gồm hai khối nhà trước-sau nối liền với nhau. Năm xây dựng 1924 được khắc trên trán tường ở mặt tiền gian giữa tòa nhà. Khối nhà mặt tiền được dùng làm trụ sở cho tòa soạn báo, vừa là nơi làm việc, tiếp quan khách, khối nhà phía sau dùng làm xưởng in ấn.

Nhiều loại sách chữ Quốc ngữ đã được in tại nhà in này: “Phổ thông nhất là các truyện Tàu, tuồng hát bội như Tam quốc diễn nghĩa, Phi Long, Ngũ hổ bình tây, Long đồ công án, Mộng trung duyên, Nhạc Phi, Tiểu Đinh San, Chiêu quân cống Hồ, tuồng San hậu, tuồng Nhứt điện nhi điện, tuồng Phong Thần,… và các truyện dân gian như Trần Minh khổ chuối, Thạch Sanh Lý Thông, Thiên Nương, Nhị thập tứ hiếu, Truyện đời xưa… (Écho Annamite, 25/1/1923)” (Sài Gòn và Nam Kỳ trong thời kỳ canh tân 1875-1925, Nguyễn Đức Hiệp, tr.330).

Ngoài ra, cơ sở này còn in các tác phẩm quốc ngữ của nhà văn Hồ Biểu Chánh và Lê Hoàng Mưu. Các quyển sách nghiên cứu bằng tiếng Pháp có giá trị cũng được in tại đây, như quyển “Notice historique, administrative et politique sur la ville de Saigon” (1917) – Về lịch sử thành phố Saigon, và nguồn gốc các tên đường dưới sự hướng dẫn của thư ký tòa thị sảnh thành phố; “Recueil de Morale Annamite par Yên Sa Diệp Văn Cương” (1917); “Monographie de la province de Bac Lieu, par Louis Girerd” (1925); “La pagode des clochetons et la pagode Barbé, contribution à l”histoire Saigon-Cholon par P. Midan” (1934) (Sài Gòn Chợ Lớn: Ký ức đô thị và con người, Nguyễn Đức Hiệp, tr.55).

Sau nhiều giai đoạn biến đổi phức tạp, cụm công trình này được chia tách thành nhiều đơn vị nhà ở với nhiều chủ sở hữu. Sự phân chia không gian, cùng với việc thiếu bảo dưỡng trong nhiều thập niên khiến cho công trình xuống cấp và việc tiếp cận khảo sát gặp khó khăn. Vì thế, bài viết này đóng vai trò như một nỗ lực sơ khởi nhằm tập hợp dữ liệu, lập bản vẽ và phân tích nhằm gợi ý cho sự tìm hiểu đầy đủ hơn về sau.

Kiến trúc

Cụm công trình tọa lạc tại số 57 đường Lucien Mossard (Nguyễn Du) tuy bị phân chia và cơi nới, song vẫn giữ được các cấu trúc quan trọng. Theo khảo sát hiện trạng thực tế kết hợp cùng tư liệu bản đồ và không ảnh xưa, chúng tôi thấy cụm nhà in gồm có 3 lớp nhà nối tiếp nhau: Khối nhà mặt tiền là khu vực dịch vụ và văn phòng, khối giữa là khu vực in ấn và sản xuất ấn phẩm, khối cuối cùng có thể là khu nhà ở dành cho nhân viên (minh họa: Nguyễn Chí Thành, Tản Mạn Kiến Trúc).

Khối nhà mặt tiền

Khối nhà tiếp giáp đường Lucien Mossard gồm hai tầng, kết cấu khung bê tông cốt thép, tường bao xây gạch, mặt đứng chia thành năm nhịp nhà bằng nhau, nhịp giữa tạo điểm nhấn bằng một ban công nhô ra và một trán tường nhô cao; tất cả cửa tầng trên và dưới thẳng hàng, cửa tầng trên đều dùng lintel (lanh tô, hay đà cửa) dạng cuốn xây gạch cung tròn ba tâm, cửa tầng dưới dạng chữ nhật. Mặt tiền tòa nhà được trang trí một cách tiết chế bằng các gờ chỉ, hầu như không đắp các phù điêu biểu hình như thường thấy trên các công trình cùng thời. Trên trán tường ở giữa khối nhà, chủ nhân đã cho khắc chìm dòng chữ “1924 – NGUYỄN-VĂN-CỦA” là năm xây dựng và tên chủ nhân công trình. Ở balcon tầng lầu, dòng chữ “IMPRIMERIE DE L”UNION” (Nhà in Đồng Hiệp) thông báo công năng của công trình. Các dòng chữ trên ngày nay vẫn còn quan sát được từ phía đường Nguyễn Du nhìn vào.

Dựa vào vị trí và tương quan công năng của khối nhà này với các khối nhà khác của cụm công trình, có thể đoán định tòa nhà phía trước này dùng làm bộ mặt đại diện với các đặc điểm thể hiện sự giao tiếp với đô thị: Tầng trệt trổ các cửa lớn ra vỉa hè đường Taberd, có thể là nơi phát hành báo chí và các sản phẩm in ấn khác của nhà in; tầng lầu dùng làm văn phòng chủ hãng, có một lối tiếp cận riêng biệt bằng một cầu thang tại sảnh phụ bên hông chếch về phía sau của tòa nhà, dành cho khách có nhu cầu liên hệ bằng lối đi riêng. Ngược lại với vẻ ngoài tiết chế, khi người khách được dẫn theo lối cầu thang để đến tầng lầu của ngôi nhà, một tổng thể nội thất trang trí cầu kỳ bất ngờ hiện ra. Chúng ta sẽ tìm hiểu về các trang trí này ở phần sau.

Khối nhà giữa

Khối nhà tiếp theo nằm khuất khỏi tầm mắt của khách hàng. Đây cũng là một cấu trúc bê tông cốt thép hai tầng, nằm liền kề hợp thể với khối nhà trước. Phần tường bao gạch xây, trổ các cửa sổ băng ngang dài ở hai mặt bên. Mái chia thành ba phần, lợp ngói, đỡ trên hệ khung kèo gỗ có cửa thông gió (mái dạng clerestory roof, là hệ mái được phân chia thành hai tầng mái, ở giữa có dãy cửa sổ nhỏ để ánh sáng và không khí lưu thông vào bên trong, thường sử dụng cho các công trình nhà xưởng, trang trại, công cộng có nhiều người sử dụng cùng lúc). Cấu trúc mái và không gian sử dụng thông suốt kéo dài của khối nhà này gợi ý rằng đây là khu vực nhà xưởng, nơi sản xuất/ in ấn các ấn phẩm sách, báo, tờ rơi theo đơn đặt hàng.

Khối nhà phía sau

Khối nhà sau cùng có thể là khu vực nhà ở dành cho nhân viên, do cấu trúc xây dựng và không gian khá tương đồng với các khu nhà trọ ngày nay. Hiện hầu hết các khối nhà đều bị phân chia thành các không gian nhỏ và sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, vì thế, việc khảo sát để ước định cấu trúc không gian ban đầu còn tương đối hạn chế.

Trang trí mỹ thuật

Như đã đề cập, nội thất của khối nhà mặt tiền rất được chú trọng và sự cầu kỳ thể hiện qua các cấp độ khác nhau theo công năng riêng từng phần. Tại tầng trệt, trên các bức tường và dầm bê tông đúc cong bo góc đôi chỗ duyên dáng, được quét vôi màu vàng nhạt và vẽ họa tiết diềm gồm các chữ Hán-Nôm theo thức triện tròn và chân lư thường thấy trong nền mỹ thuật truyền thống Việt Nam.

Nội thất khu văn phòng tầng lầu được trang trí bằng hệ khảm mảnh sành sứ và thủy tinh nhiều màu tại vị trí các cột, dầm và cuốn gạch tại các nhịp nhà. Các mảng phù điêu này mô tả thực vật, tứ linh và văn tự. Tạo hình cho thấy mối liên hệ trực tiếp từ nội thất Ứng Lăng của vua Khải Định ở Huế, tuy tỷ lệ họa tiết có biến đổi do sự khác biệt về chiều kích của không gian kiến trúc. Theo tư liệu phỏng vấn hồi cố với những người hiện sử dụng tổ hợp này, ông Của đã cho mời các thợ kép vốn đã có tham gia vào công tác khảm sành các kiến trúc cung đình ở Huế, họ vào Sài Gòn từ cuối những năm 1920 để thực hiện phần trang trí này, đến đầu thập niên 1930 mới hoàn thành. Nghệ thuật khảm sành sứ cung đình được rèn dũa từ những năm thuộc triều đại vua Thành Thái đến Duy Tân, và đạt đến trình độ cao dưới triều đại vua Khải Định, tạo ra sức ảnh hưởng lớn tới giới tri thức dân tộc khi đó. Bản thân ông Của, một nhà tư sản dân tộc đáng chú ý, đã lựa chọn hình thức trang trí này làm nơi tiếp khách giao thương của ông, hẳn với mong muốn để thể hiện tinh thần giao lưu văn hóa phương Tây đồng thời tôn vinh nghệ thuật địa phương.

Nhà in và hoạt động báo chí

Nhà in Nguyễn Văn Của gắn liền với họat động báo chí miền Nam thời Pháp, qua họat động phát hành tờ Lục Tỉnh Tân Văn.

Lục Tỉnh Tân Văn (1907-1944) là tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ cung cấp tin tức tại Nam kỳ, do ông Pierre Jeantet Sombsthay thành lập. Kể từ số đầu tiên ngày 15-11-1907, hàng tuần tờ báo này phát hành một số vào mỗi thứ Năm. Sau này, ông Jean Francois Henri Schneider – một chủ doanh nghiệp in ấn và xuất bản, sở hữu nhiều hiệu sách và nhà in tư nhân ở các chi nhánh tại Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn, tiêu biểu là nhà in F. H. Schneider và nhà in Viễn Đông (Imprimerie d”Extrême-Orient, IDEO-Viễn Đông ấn quán), đã được chính quyền đồng ý cho phép mua lại tờ Lục Tỉnh Tân Văn vào tháng 5-1909.

Trụ sở báo ban đầu nằm ở số 4 đường Amiral Krantz (nay là đường Hàm Nghi), đến năm 1911 dời về số 7 đại lộ Norodom (nay là đường Lê Duẩn), và năm 1918 thì được dời về số 162 đường Pellerin (nay là đường Pasteur). Tờ báo đã trải qua các đời chủ bút là các ông Gilbert Trần Chánh Chiếu (1907-1908), ông Lương Khắc Ninh (1908) và ông Lê Hoằng Mưu (1919). Ðồng thời cũng thay đổi xuất bản định kỳ, lúc đầu ra hai lần mỗi tuần vào các ngày thứ Năm và chủ Nhật, sau đó tăng lên ba lần vào các ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu. Tháng 7-1913, tờ Lục Tỉnh Tân Văn ra một ấn bản riêng ở Bắc kỳ, gọi tên là Đông Dương tạp chí.

Năm 1919, ông Schneider bán lại tất cả cơ sở thương mại in ấn tại Bắc và Nam kỳ cho chính quyền để trở về Pháp nghỉ hưu, tờ Lục Tỉnh Tân Văn được chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Của. Tòa soạn chuyển về nhà in Imprimerie de l”Union tại số 157 đường Catinat (Đồng Khởi). Ông Của cũng là Phó Chủ tịch (còn gọi là Phó Đổng lý) của Nam kỳ báo chương hội (Syndicat de la Presse Cochinchinoise). Năm 1921, hợp nhất với tờ Nam Trung Nhựt báo, nhưng vẫn lấy tên là Lục Tỉnh Tân Văn và trở thành tờ nhật báo đầu tiên tại Sài Gòn, xuất bản định kỳ mỗi ngày trừ ngày lễ và chủ nhật. Vài năm sau, ông Của giao cho ông Lâm Văn Ngọ làm chủ nhiệm báo và ông Lê Hoằng Mưu tiếp tục làm chủ bút. Đây cũng là tờ báo chữ Quốc ngữ tồn tại lâu nhất cho đến trước năm 1945.

Một vài suy nghĩ mở rộng: Nơi chốn gắn với biến đổi xã hội đầu thế kỷ 20

Những công trình kiến trúc gắn với thương nghiệp từ đầu thế kỷ 20 vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức cả về việc bảo tồn lẫn truyền thông. Chúng tôi đề xuất những công trình này nên được xem xét trong bối cảnh mạng lưới văn hóa-xã hội của các thời kỳ để nhận định những giá trị mở rộng của chúng. Không chỉ là nơi để sản xuất hàng hóa, các công trình này gắn liền với họat động kinh doanh, thương mại, in ấn và xuất bản… cũng như những dấu ấn mà các nhân vật đã để lại cho sự phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị và phục vụ lợi ích cộng đồng.

Trong quan niệm truyền thống của xã hội trọng nông nghiệp, kinh doanh không phải là một công việc được đánh giá cao. Quan niệm này vẫn còn là một định kiến trong giai đoạn giao thời thế kỷ 19 và 20. Tuy nhiên, đến giai đoạn những năm đầu thế kỷ 20, một số trí thức văn thân sĩ phu do tiếp xúc những tư tưởng tiến bộ thông qua các Tân thư đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, đã dần có những nhận thức mới về thời cuộc ở thế giới bên ngoài và nhận thấy những cơ hội canh tân để chấn hưng kinh tế và giành lại độc lập cho đất nước.

Thông qua các phong trào cải cách ở khắp nước, có thể kể đến phong trào Đông Du, phong trào Duy tân và Đông Kinh Nghĩa thục diễn ra ở Bắc và Trung kỳ, phong trào Minh tân diễn ra ở Nam kỳ, các nhà trí thức tiên phong như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Gilbert Trần Chánh Chiếu… đã viết sách, đăng báo, diễn thuyết và vận động mọi người cải đổi phong tục tập quán, từ bỏ quan niệm khinh thường công thương nghiệp. Với quan niệm “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” (Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nguyễn Thế Anh, tr.284), các phong trào cải cách kêu gọi sự tham gia vào thương mại, công nghệ để bắt kịp và cạnh tranh với người Hoa, Ấn và Pháp, ủng hộ việc mở ra các thương hội buôn bán, khuyến khích mọi người dùng đồ nội hóa, nằm tạo nên kinh phí để xây dựng, mở mang trường học dạy kiến thức khoa học thực tiễn và dạy nghề bằng chữ Quốc ngữ. Chính thông qua các họat động này, người Việt mới có cơ hội làm chủ và được tôn trọng trong một thế giới thuộc địa không dành sẵn quá nhiều chỗ đứng cho họ.

Tư tưởng này nhận được sự hưởng ứng đáng chú ý với sự xuất hiện của hàng loạt các cơ sở kinh doanh do người Việt lập ra, ví dụ: Triêu Dương Thương quán (do Đặng Nguyên Cẩn và Ngô Đức Kế thành lập tại Nghệ An), Hợp thương Diên Phong (Phan Thúc Duyện, tại Quảng Nam), Công ty Liên Thành (Nguyễn Trọng Lội tại Phan Thiết), khách sạn Nam Trung (Gilbert Trần Chánh Chiếu tại Sài Gòn)… Như vậy có một sự chuyển dịch về quan niệm xã hội dành cho công việc kinh doanh khi nó không còn được xem là thấp kém mà ngược lại, có khả năng tạo ra những thay đổi tích cực cho xã hội.

Chúng ta cùng trở lại với nhà in của ông Nguyễn Văn Của. Trên những cây cột khảm sành sứ nhiều màu sắc ở tầng trên, có thể là một sảnh tiếp khách dành cho các cuộc gặp gỡ giữa chủ nhân với các đối tác làm ăn, chúng tôi tìm thấy cặp câu đối bằng chữ Hán (có khả năng còn một số câu đối khác đã bị mất, hoặc hiện đang bị che lấp):

  1. 報舘名騰歐亞會
    Báo quán danh đằng Âu Á hội
    Tạm dịch: Nhà báo danh lừng khắp hội Á Âu
  2. 印堂歡結北南人
    Ấn đường hoan kết Bắc Nam nhân
    Tạm dịch: Nhà in vui kết nghĩa người Nam Bắc
  3. 東壁西園供玩賞
    Đông Bích Tây Viên* cung ngoạn thưởng
    Tạm dịch: Đông Bích, Tây Viên cùng thưởng lãm
  4. 歐朋亞友廣交遊
    Âu bằng Á hữu quảng giao du
    Tạm dịch: Bạn Âu, Hữu Á giao du rộng.

*Đông Bích và Tây Viên trích từ các điển tích Trung Hoa, dùng để chỉ nơi giáo dục, sáng tác và thưởng thức văn chương.

Cặp đối 1 và 2, lấy sự đồng lòng và “niềm vui Bắc-Nam” đối với “danh lừng hội Á Âu”. Các câu ngầm trao niềm tin rằng từ việc người Việt bắt đầu làm chủ nhà in và sách vở, cũng là lúc người Việt được trao cho sự tự chủ về trí thức, để một ngày nào đó đất nước có thể thống nhất, cũng ẩn ý sẽ có ngày người Pháp phải rời đi. Còn danh tiếng nước Nam bằng sự phát triển của trí thức, ngôn luận sẽ sớm vang danh thế giới. Ngoài ra, ý nghĩa của cặp câu đối cũng gợi ý về bố cục tổng thể của nhà in: Khối nhà trước là Báo quán (giao dịch và buôn bán sách báo) và khối nhà sau là Ấn Đường (khu vực xưởng in).

Cặp đối 3,4, lấy cặp “Đông Bích, Tây Viên” đối với “Âu bằng Á Hữu”. Đông bích, Tây viên có thể là lấy lại ý của câu đầu trong bài thơ của tể tướng Trương Thuyết (667–730), hai điển tích này ông ngầm đem ví về việc trên trời có kho sách thiên hạ và dưới đất có vườn nơi văn nhân hộp họp, Á-Âu là bức tranh thế giới mà người Nam mường tượng lúc bấy giờ. Cặp đối ngầm bảo việc in ấn sách sẽ đưa tri thức truyền thống dân tộc, lẫn văn hóa thế giới giao thoa và lan rộng.

Các câu đối được khảm trên những cây cột như muốn biểu đạt tư tưởng chung của giới trí thức lẫn tư sản dân tộc đã hình thành tâm thế tự tin khi nói về công việc của họ. Cũng như họ đang bước vào thời kỳ mà trí thức và tư sản đều đang góp phần thay đổi xã hội, và con người có thể tìm được con đường tự do bằng tri thức và niềm tin đoàn kết của bằng hữu thế giới.

Thay lời kết

Cụm công trình nhà in Nguyễn Văn Của có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ: Như một tổ hợp kiến trúc thương nghiệp đầu thế kỷ 20; như một hiện thân của thay đổi tư tưởng xã hội trong khoảng giao giữa hai thế kỷ; như một trong số ít các địa điểm gắn liền với báo chí quốc ngữ thời thuộc địa còn sót lại. Hiện nay, nhiều cửa hiệu bắt đầu họat động trong khối nhà này với sự cải tạo tích cực về mặt không gian, tuy thế những tầng lớp lịch sử gắn với công trình này chưa được thảo luận đầy đủ. Thông qua bài viết này, chúng tôi mong muốn khơi gợi mối quan tâm cho việc tìm hiểu đầy đủ hơn trong tương lai.

Hiếu Y – Trần Nguyễn Tuấn – Nguyễn Chí Thành
Nguyễn Trần Trọng Nghĩa – Tản mạn Sài Gòn
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2025)