Các tiền đề cho sự phát triển Kiến trúc Việt Nam trong tương lai (giai đoạn sau năm 2015)

Tháng 4/2015, Đại hội KTS Việt Nam toàn quốc lần IX sẽ được tổ chức tại Hà Nội. Đây là dịp để các KTS Việt Nam nhìn lại những thành tựu đã đạt được trong giai đoạn 2010-2015 và vạch ra hướng phát triển mới cho giai đoạn 2015-2020.

Bài viết này thảo luận năm (5) tiền đề quan trọng cho sự phát triển tương lai (giai đoạn từ năm 2015) của ngành quy hoạch – kiến trúc tại Việt Nam , bao gồm: Tư duy quản lý phát triển theo định hướng kinh tế thị trường và khuyến khích hợp tác công – tư; Tạo lập cơ chế nghiên cứu thiết kế và cộng tác đa ngành; Lấp đầy khoảng trống lớn về mặt đào tạo các chuyên gia quy hoạch kiến trúc và quản lý; Khuyến khích loại hình quy hoạch – kiến trúc thân thiện với môi trường; Phát triển Hội KTS và KTS Đoàn theo hướng chuyên ngành lẫn đa diện.

Năm tiền đề này không những quan trọng về mặt phát triển nghề nghiệp, mà còn quan trọng về mặt giúp thay đổi từ gốc rễ tư duy tư vấn thiết kế và cách quản lý đô thị và nông thôn Việt Nam trong tương lai với tầm cao mới.

Trung tâm Hành chính Thành phố Đà Nẵng
Trung tâm Hành chính Thành phố Đà Nẵng

Quản lý phát triển theo định hướng kinh tế thị trường và khuyến khích hợp tác công tư

Đất nước ta đã bắt đầu chuyển đổi từ nền Kinh tế tập trung sang nền Kinh tế thị trường định hướng XHCN từ cuối thập niên 1990. Tuy nhiên, cho đến nay, việc quản lý đô thị vẫn còn mang nặng tư duy kinh tế tập trung, do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển.

Với tư duy Kinh tế thị trường định hướng XHCN, cách làm việc theo tư duy cũ cần được tiếp tục thay đổi từ gốc – Để việc quản lý phát triển đô thị tại địa phương ngày càng độc lập tự chủ hơn, huy động được nguồn tài lực xã hội hóa hiệu quả, nhờ đó các dự án hạ tầng và phát triển có thể phát huy tác dụng mà không cần quá lệ thuộc vào ngân sách Nhà nước cũng như vào chỉ đạo trực tiếp thường xuyên từ chính quyền trung ương như trước kia.

Việc phủ kín quy hoạch 1/500 không cần thiết phải làm nữa, mà chỉ cần có quy hoạch chung, quy hoạch phân khu chức năng sử dụng đất, và các chính sách phù hợp, khuyến khích nhà đầu tư lập quy hoạch 1/500 cho các dự án, lập kế hoạch đầu tư phát triển, và hoàn thành dự án trong thời gian cho phép, tránh tình trạng quy hoạch treo.

Các dự án tiêu tốn nhiều tỷ đô la như dự án Metro, sân bay Quốc tế, phát triển bến cảng và đường sắt không còn cần phải chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và vốn vay quốc tế, phần lớn sẽ huy động nguồn vốn tư nhân, trong đó nhà đầu tư tư nhân sẽ chịu trách nhiệm về tính hiệu quả và kinh tế của dự án. Nhà nước chủ yếu đóng vai trò chỉ đạo và điều phối sao cho các dự án này thực sự đóng góp cho phát triển kinh tế nói chung (thể hiện qua việc giúp nâng cao GDP hoặc ngân sách địa phương), và phục vụ dân sinh nói riêng.

Tổ hợp Bệnh viện Quốc tế HDI, Đà Nẵng
Tổ hợp Bệnh viện Quốc tế HDI, Đà Nẵng

Tạo lập cơ chế nghiên cứu thiết kế và cộng tác đa ngành

Cho đến nay, việc quản lý và phát triển đô thị vẫn còn chủ yếu hoạt động theo cơ chế đơn ngành. Ví dụ như các dự án metro với mỗi tuyến trị gíá vài tỷ đô la, hoặc dự án sân bay quốc tế và cơ sở hạ tầng và kết nối kèm theo trị giá vài chục tỷ đô la, vẫn chủ yếu do các cơ quan chuyên ngành về giao thông vận tải nghiên cứu và thực hiện chính. Các cơ quan đa ngành khác có liên quan (Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch Kiến trúc, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài Nguyên Môi trường, …) có vai trò tham gia khá mờ nhạt.

Một ví dụ điển hình cho thấy: Các dự án metro đang thực hiện tại thành TPHCM chỉ tập trung vào giải tỏa và xây dựng các tuyến metro, mà không đồng thời chuẩn bị các kế hoạch về giải tỏa và phát triển xây dựng nhà cao tầng dọc theo tuyến, đặc biệt là xung quanh các trạm dừng. Điều này có thể làm chính quyền bỏ lỡ cơ hội tận dụng giá trị địa ốc tăng thêm nhờ có hạ tầng mới xây dựng, để có kế hoạch đem lại nguồn thu mới giúp hoàn vốn đầu tư cho nhà nước, tránh rơi vào túi các nhà đầu tư cơ hội, đồng thời đảm bảo được lượng khách khi hệ thống hoàn thành, không phải bù lỗ do ít người dùng.

Phối cảnh tuyến Metro số 1 Dự kiến hoàn thành vào năm 2017. Ảnh: Hữu Công.
Phối cảnh tuyến Metro số 1 Dự kiến hoàn thành vào năm 2017. Ảnh: Hữu Công.

Ở các nước tiên tiến, các dự án như trên thường được tổ chức và quản lý bởi một cơ chế đa ngành gồm nhiều sở và ban ngành cùng chỉ đạo dưới một chiến lược thống nhất để đạt hiệu quả cao nhất. Dự án được phân kỳ sao cho mỗi giai đoạn phát triển đều có kế hoạch thu hồi vốn đầu tư để tiếp tục phát triển dự án, nhờ đó gánh nặng vốn ngân sách giảm đi rất nhiều.

Việc phát triển một hệ thống dữ liệu theo chuẩn chung như GIS, WaterRide, GeoWeb… cho tất cả các sở và ban ngành cùng chia sẻ và cập nhật thông tin hàng ngày sẽ giúp phối hợp nhịp nhàng trong việc cải tạo hệ thống hạ tầng, tránh tình trạng đào đắp nhiều lần, vừa tốn kém công quỹ một cách vô ích, vừa tránh được việc phải duy trì công trường trong thời gian quá dài, ảnh hưởng cuộc sống người dân và làm gia tăng ách tắc giao thông.

Phối cảnh tổng thể dự án Nhà Ga T2 - Sân bay Quốc tế Nội Bài
Phối cảnh tổng thể dự án Nhà Ga T2 – Sân bay Quốc tế Nội Bài

Lấp đầy khoảng trống lớn về mặt đào tạo các chuyên gia quy hoạch kiến trúc và quản lý

Hiện nay, đất nước ta đang thay đổi từng ngày. Số lượng đô thị mới và các dự án cải tạo phát triển ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, có một sự thực mà ít người nhìn thấy: Dù việc đào tạo hiện đang cung ứng nhiều chục ngàn nhân lực mới hàng năm nhưng cán bộ chuyên ngành phục vụ cho nhu cầu phát triển vẫn đang rất thiếu. Hiện nay, đang có một khoảng trống lớn cần phải lấp đầy, trước hết là về đào tạo chuyên gia quy hoạch, chuyên gia kiến trúc cảnh quan, và chuyên gia bảo tồn di sản. Quan trọng hơn là việc hướng dẫn và tạo điều kiện cho tất cả các chuyên gia tương lai có kỹ năng và thói quen làm việc hợp tác theo nhóm và cộng tác đa ngành.

Việc đào tạo các chuyên gia quy hoạch hiện nay tại các đại học hàng đầu ở Việt Nam chủ yếu theo hướng đào tạo KTS quy hoạch, có nghĩa là KTS biết làm thiết kế đô thị. Tuy nhiên, thiết kế đô thị cũng chỉ là một bộ môn trong quy hoạch, vốn bao hàm lượng kiến thức rộng hơn nhiều. Ngoài thiết kế đô thị, các bộ môn quy hoạch khác cũng có thể giúp quản lý đô thị một cách hiệu quả không kém, đôi khi còn hiệu quả hơn các bản vẽ quy hoạch và thiết kế đô thị, ví dụ như bộ môn nghiên cứu chính sách phát triển đô thị, quy hoạch môi trường, kinh tế đô thị, quy hoạch kinh tế xã hội, tổ chức bộ máy quản lý đô thị,… Việc thiếu các chuyên gia quy hoạch ngoài ngành thiết kế đô thị kéo dài nhiều năm từ thời kỳ đầu đổi mới cho đến nay đã dẫn đến nhiều hệ lụy, ví dụ như sự bất cập trong các chính sách và luật pháp có liên quan, tình trạng xây dựng các khu đô thị mà không có người ở, tình trạng lãng phí trong việc các địa phương cạnh tranh không lành mạnh khi đua nhau xây dựng bến cảng, nhà ga thiếu hiệu quả.

Việc đào tạo các KTS cảnh quan hiện nay khá yếu kém, vì thường được đào tạo như chuyên gia về cây xanh. Trong thực tế, nếu nói vai trò của nhà quy hoạch thiên về tính khoa học (phải đưa ra các quyết định kinh tế xã hội, dựa trên nghiên cứu khoa học), vai trò của nhà kiến trúc có hai mặt đi đôi là khoa học và nghệ thuật (chủ yếu là xây dựng công trình), thì vai trò của nhà kiến trúc cảnh quan lại thiên về tính nghệ thuật và cộng đồng. Ngoài kiến thức về cây xanh, nhà kiến trúc cảnh quan cũng cần có hiểu biết sâu về quy hoạch kiến trúc, để thiết kế không gian cảnh quan ngoài nhà, bao gồm không gian xanh và mặt nước, mặt đứng kiến trúc, xử lý cao độ và chất liệu nền, thiết kế các công trình phụ trợ, và tạo lập các không gian sử dụng đa dạng ngoài trời. Cho dù nhu cầu thực tế khá lớn, vai trò của KTS cảnh quan Việt Nam còn khá mờ nhạt trong việc phát triển các dự án. Nhà đầu tư thường phải giao việc cho các KTS cảnh quan nước ngoài. Trách nhiệm và thiết kế phí của các KTS cảnh quan cũng không được quy định rõ ràng minh bạch như trong thiết kế quy hoạch và kiến trúc.

Khu Đô thị Công nghệ Sunrise Đông Kiều, Vĩnh Long
Khu Đô thị Công nghệ Sunrise Đông Kiều, Vĩnh Long

Việc đào tạo các chuyên gia bảo tồn di sản vẫn chưa được quan tâm đúng mức dù nhu cầu rất lớn. Khoa kiến trúc bảo tồn di sản thường không thể tách rời với các khoa lịch sử, xã hội, địa lý, … và nên được tổ chức trong cơ cấu một đại học tổng hợp để cung cấp kiến thức đa chiều cho sinh viên. Chúng ta hầu như chưa có kế hoạch đào tạo các chuyên gia quy hoạch – kiến trúc nắm vững giá trị lịch sử và nguyên lý thiết kế của các thời kỳ lịch sử (như thời Lý, thời Lê, thời Nguyễn, thời Pháp thuộc Đông Dương, thời cận đại, …). Chính vì sự thiếu hụt chuyên gia này mà nhiều dự án xây dựng hoặc cải tạo hiện nay, tuy được cho là theo phong cách Pháp, Đông Dương, hoặc phong cách cổ điển Việt Nam, nếu nhìn kỹ thì thật ra thường mang tính lai căng pha tạp. Ngoài ra, cho dù nhu cầu bảo vệ di sản là rất lớn nhưng chúng ta lại có rất ít những dự án và hướng dẫn bảo tồn di sản thực sự có giá trị thực tiễn, còn người đang quản lý các dự án di sản cũng không được tư vấn hướng dẫn đúng mức, dẫn đến nhiều sai phạm không đáng có.

Do vậy, việc thiết lập quan hệ hợp tác đa ngành chặt chẽ các trường quy hoạch kiến trúc như thành viên của một Trường Đại học Tổng hợp, như Đại học Quốc gia, là điều tất yếu phải làm và cần cấp bách thực hiện, trong đó sẽ bổ sung thêm các khoa hoặc bộ môn cần thiết nói trên (kiến trúc cảnh quan, bảo tồn di sản, quản lý đô thị, …) và sinh viên sẽ có cơ hội cùng học hỏi với giảng viên và phát triển kỹ năng cộng tác đa ngành với sinh viên của các khoa khác (Kinh tế, Chính sách Công, Quản lý Hành chính, Môi trường, Địa lý học , Xã hội Nhân văn, Lịch sử, …) ngay từ khi còn trên ghế nhà trường. Luận án Thạc sĩ và Tiến sĩ buộc phải có sự tham gia của giảng viên hướng dẫn của 1-2 ngành khác phối hợp với ngành quy hoạch – kiến trúc, để giúp sinh viên có tầm nhìn mở, đa ngành, giống như cách đào tạo tại các nước tiên tiến.

Nếu các trường đại học đào tạo chuyên ngành kiến trúc – quy hoạch hàng đầu hiện nay (Đại học Kiến trúc TP HCM, Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Xây dựng,…) bỏ qua cơ hội gắn kết chiến lược đó với một đại học tổng hợp, thì trong một ngày không xa có thể sẽ đánh mất vị trí đào tạo chuyên gia hàng đầu của mình vào tay các trường đại học quy hoạch – kiến trúc sẽ được thành lập trong tương lai tại các trường Đại học Tổng hợp trong nước.

Khuyến khích loại hình quy hoạch kiến trúc thân thiện với môi trường

Kỹ năng thiết kế thân thiện với môi trường (có thể là môi trường xã hội cộng đồng, môi trường văn hóa lịch sử, môi trường sinh thái, …) đang ít được xem trọng, từ đào tạo cho đến thực hành. Chính vì vậy mà có tình trạng những công trình mới phá hỏng cảnh quan lịch sử, lấp kênh rạch mặt nước để làm nhà dẫn đến ngập lụt, nhà nhấp nhô siêu mỏng tại những trục lộ mới mở đường, và những công trình mới làm ách tắc giao thông của cả khu vực.

Về mặt đào tạo KTS, cần tổ chức những họa thất giúp phát triển kỹ năng thiết kế thân thiện với môi trường cho sinh viên. Để minh họa, người viết giới thiệu một chương trình họa thất được giảng dạy tại chương trình Thạc sĩ và Tiến sĩ ở Đại học Washington và Đại học California trước kia, gồm 3 lớp có thể kéo dài trong 3 học kỳ. Sinh viên của lớp không chỉ thuộc khoa quy hoạch kiến trúc, mà còn có thể từ nhiều khoa khác (như Khoa Địa lý, Chính sách Công, Kỹ thuật Xây dựng, Kinh tế, Lịch sử, …), một số tiết có thể mời các giảng viên của các khoa này đến cùng trao đổi với sinh viên. Học kỳ 1 chuyên về phân tích và đánh giá hiện trạng khu vực nghiên cứu (có thể là một khu dân cư hiện hữu, một khu di sản kiến trúc, hoặc một khu sinh thái). Học kỳ 2, các sinh viên chia thành nhiều nhóm 3-5 người để đề xuất các giải pháp thiết kế đa ngành khả thi. Học kỳ 3, các nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực hiện và lập mô hình đánh giá quá trình và hiệu quả thực hiện. Mỗi cuối học kỳ, sinh viên phải thuyết trình và bảo vệ nghiên cứu của mình trước giảng viên và đại diện cộng đồng của khu vực thiết kế. Nhiều công trình của sinh viên được cộng đồng địa phương đánh giá cao và đưa vào thực tế. Khi có cơ hội làm quen với cách tư duy thiết kế thân thiện với môi trường như thế, các nhà quy hoạch – kiến trúc tương lai sẽ được trang bị kiến thức để xây dựng những dự án hoặc công trình mới một cách bền vững, không gây tổn hại gì đáng kể đến di sản kiến trúc, cộng đồng hiện hữu, hoặc môi trường sinh thái của khu vực lân cận.

Về mặt luật pháp và chính sách, cần đưa ra những hướng dẫn cụ thể nhằm khuyến khích quy hoạch kiến trúc xanh, tiết kiệm năng lượng. Hiện nay cơ quan Hội Đồng Xanh Việt Nam (VGBC) đã hoàn thành một số tiêu chí quy hoạch kiến trúc xanh theo chuẩn Lotus phù hợp cho Việt Nam. Các cơ quan chức năng nên cộng tác với VGBC để điều chỉnh bổ sung và xem xét việc luật hóa các tiêu chí này, tạo cơ sở pháp lý cho việc khuyến khích phát triển kiến trúc xanh.

Tiêu chí xanh phù hợp với điều kiện Việt Nam sẽ là cơ sở khoa học giúp đánh giá lại những công trình trọng điểm và tốn kém (nhưng thực tế không phải là kiến trúc xanh và không đem lại hiệu quả sử dụng tốt), đồng thời khuyến khích phát triển kiến trúc Việt theo thể loại phù hợp với kiến trúc vùng nhiệt đới.

Ví dụ như tòa nhà Bitexco tại TP HCM và tòa nhà Trung tâm Hành chính tại Đà Nẵng, khi đưa vào sử dụng đã tiêu tốn rất nhiều năng lượng một cách không cần thiết, để ứng phó với hiệu ứng nhà kính, do được bọc kính và thiếu các kết cấu chắn nắng cần thiết. Cần phân biệt rõ là tuy công trình loại này có thể được đánh giá là “kiến trúc xanh” tại các nước ôn đới, nhưng nó lại không xanh chút nào tại các nước nhiệt đới. Do vậy, các công trình này rất cần được cải tạo lại với các giải pháp chắn nắng và thông gió phù hợp.
Về không gian xanh đô thị, diện tích cây xanh của các dự án mới phải đáp ứng theo tỷ lệ so với tổng diện tích sàn xây dựng chứ không phải so với diện tích chiếm đất. Như vậy, các dự án nhà ở cao tầng tập trung mật độ cao buộc phải dành đủ đất cho không gian xanh nhiều hơn dự án thấp tầng. Do đó, nhà đầu tư buộc phải xanh hóa bề mặt mái cũng như mặt tiền, để đảm bảo bù thêm diện tích xanh cho đủ tiêu chuẩn được đề ra.

Tháp Tài chính Bitexco - TP. HCM
Tháp Tài chính Bitexco – TP. HCM

Về mặt ứng phó với biến đổi khí hậu, cần lên kế hoạch ngắn và dài hạn, nhằm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước có nguy cơ tổn hại lớn nhất trên thế giới khi có nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Để làm được điều này, khi quy hoạch các dự án cải tạo hoặc phát triển trong khu vực có nguy cơ ngập tại Việt Nam, đặc biệt là tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long luôn phải kèm theo nghiên cứu đánh giá ứng phó với nguy cơ nước biển dâng, trong đó khu vực đô thị mới phải nằm trong vùng không có nguy cơ để dần dần thu hút người dân di dời về đó, khuyến khích thu nhỏ dần dần, thay vì bành trướng phát triển đô thị tại các khu vực có nguy cơ cao.

Phát triển Hội KTS và KTS Đoàn theo hướng chuyên ngành lẫn đa diện, phù hợp nhu cầu bảo tồn bản sắc và hội nhập quốc tế

Việc phát triển Hội KTS và KTS Đoàn theo hướng chuyên ngành lẫn đa diện, giúp quy tụ nhân tài đáp ứng nhu cầu phát triển các đô thị Việt Nam, vừa củng cố bản sắc địa phương, vừa phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, đóng góp hiệu quả cho đất nước.

Đầu năm 2014, Hội KTS Việt Nam đã bàn giao bản Dự thảo Luật Hành nghề KTS cho Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Đây là nội dung cơ bản, và là cơ sở để Bộ trưởng Bộ Xây dựng tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ, theo đúng quy trình soạn thảo văn bản pháp luật của Nhà nước.

Việc ban hành Luật Hành nghề KTS và thành lập Đoàn KTS khẳng định được vai trò, trách nhiệm, và quyền hạn của tổ chức xã hội nghề nghiệp của KTS hành nghề trên toàn quốc. Điều này bảo vệ quyền lợi của không những KTS, mà còn cho khách hàng công và tư. Đoàn KTS có thể bao gồm các KTS có chứng chỉ hành nghề kiến trúc, quy hoạch (thực ra là chuyên về thiết kế đô thị), và kiến trúc cảnh quan hoặc tách KTS quy hoạch và kiến trúc cảnh quan sang hội khác (Hội Quy hoạch, Hội Kiến trúc Cảnh quan).

Tuy nhiên, cần lưu ý là một bộ phận lớn hội viên Hội KTS trong tương lai có thể không có hoặc không cần phải có chứng chỉ hành nghề, như các giảng viên đại học, các quan chức và cán bộ trong ngành nghề, và các nhà nghiên cứu. Hội cũng có thể phát triển thêm nhiều thành viên KTS nước ngoài sống tại Việt Nam cũng như lập các chi hội KTS tại nước ngoài trong tương lai, tại những nơi có nhiều KTS Việt Nam hành nghề ở nước ngoài. Điều này giúp tăng tính đa dạng, tầm nhìn mở, và sự hội nhập quốc tế của hoạt động hội trong tương lai.

Tài liệu tham khảo:
– Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam (VGBC). 2014. Lotus Residential.
– Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam (VGBC). 2015. Lotus Non-Residential V1.1.
– Ngô Viết Nam Sơn. 2014. Luật hành nghề kiến trúc sư: Những bổ sung giai đoạn cuối. Tạp chí Kiến trúc. Số 02/2014 (Tr. 34-37). Hội Kiến trúc sư Việt Nam.
– Ngô Viết Nam Sơn. Một Vài Đề xuất Cải tổ về Đào tạo và Tổ chức Hành nghề Kiến trúc trong Thời kỳ Hội nhập Quốc tế. Tạp chí Kiến trúc, số tháng 11/2011 – Kỷ niệm 30 năm thành lập Hội KTS TP.HCM (28.11.1981 – 28.11.2011).
– Võ Kim Cương (Chủ nhiệm Đề tài). 2014. Đề tài Nghiên cứu Khoa học “Nghiên cứu Xác định Các Tiêu chí và Quy trình Lập Quy hoạch Phân vùng Quản lý Thực hiện Quy hoạch Chung Tp Hồ Chí Minh.” Sở Khoa học Công nghệ & Sở Quy hoạch Kiến trúc Tp HCM.

TSKH.KTS Ngô Viết Nam Sơn

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03/2015)