Ngày 23/9 tại Hà Nội, hai hội thảo về kết cấu gỗ do Tập đoàn Trần Đức phối hợp cùng Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (IBST) tổ chức đã quy tụ các chuyên gia trong nước và quốc tế, tập trung thảo luận về tiêu chuẩn, kiểm chứng vật liệu, an toàn cháy, độ bền và khả năng ứng dụng Mass Timber trong công trình. Sự kiện đồng thời đánh dấu những bước hợp tác mới giữa các bên nhằm từng bước hoàn thiện hệ sinh thái từ nguồn gỗ, nghiên cứu, thiết kế, sản xuất đến triển khai kết cấu gỗ tại Việt Nam.
Những cấu kiện gỗ kỹ thuật kích thước lớn không còn là câu chuyện chỉ có thể nhìn thấy ở Nhật Bản, châu Âu hay Bắc Mỹ. Nhưng với một kiến trúc sư muốn đưa kết cấu gỗ lên bản vẽ, một kỹ sư phải tính toán hay một chủ đầu tư phải quyết định đầu tư, câu hỏi khó lại bắt đầu từ đây: Lấy gì để thiết kế? Lấy gì để kiểm chứng? Và lấy gì để tin rằng công trình sẽ đứng vững không chỉ trên bản tính, mà qua nhiều năm sử dụng?
Đây là nội dung được đặt ra tại hội thảo khoa học quốc tế “Kết cấu gỗ trong xây dựng – Tiêu chuẩn, ứng dụng & kinh nghiệm quốc tế” tổ chức tại IBST trong ngày 23/9 vừa qua. Bảy tham luận của các chuyên gia Việt Nam, New Zealand và Nhật Bản tập trung vào tiêu chuẩn thiết kế, đặc tính vật liệu, bảo quản, độ bền, an toàn cháy và kinh nghiệm ứng dụng.
TS. Nguyễn Hồng Hải, Viện trưởng IBST, mở đầu chương trình bằng câu chuyện về vai trò của vật liệu gỗ trong bối cảnh giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn và nâng giá trị chuỗi chế biến gỗ.
Từ góc độ tiêu chuẩn, TS. Vũ Thành Trung (IBST) đề cập việc xây dựng thiết kế kết cấu gỗ theo BS EN 1995-1-1, đồng thời đặt vấn đề về khả năng áp dụng các giả định thiết kế trong điều kiện Việt Nam.
Kinh nghiệm từ New Zealand, được Andrea Stocchero, Giám đốc Sản phẩm Kết cấu SEQUAL, chia sẻ, cũng cho thấy hệ thống tiêu chuẩn cho công trình gỗ không chỉ liên quan đến vật liệu và tính toán kết cấu mà còn bao gồm xử lý bảo quản, thi công và bảo trì.
Khi nói đến kết cấu gỗ, cháy thường là câu hỏi đầu tiên. Nhưng tại hội thảo ngày 23/9, các chuyên gia đặt vấn đề theo một cách khác. Từ kinh nghiệm Nhật Bản, Yamaoka Yoshihiko – Life Design Kabaya tiếp cận khả năng chịu lửa từ chính đặc tính của vật liệu.
Gỗ cháy, nhưng quá trình than hóa, phần tiết diện còn lại của cấu kiện và các giải pháp bảo vệ có thể trở thành những yếu tố của thiết kế. Vấn đề vì vậy không chỉ dừng ở việc gỗ có cháy hay không, mà là mức độ hiểu biết về quá trình cháy và khả năng chuyển những đặc tính đó thành các thông số có thể sử dụng trong thiết kế.
Cũng với logic ấy, TS. Đoàn Thị Bích Ngọc – Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng đưa cuộc thảo luận về một thách thức gần với Việt Nam hơn: độ bền trong khí hậu nhiệt đới. Một cấu kiện có thể vượt qua thử nghiệm chịu lực trong phòng lab. Nhưng công trình không sống trong phòng lab. Một vật liệu còn phải đi qua thời gian.
Độ ẩm, mưa nắng, nấm mục, mối mọt khiến việc lựa chọn gỗ không thể dừng ở câu hỏi loại nào “tốt” hơn. Gỗ trong nội thất, trên mặt dựng, ngoài trời hay tham gia chịu lực đang làm những công việc khác nhau và chịu những điều kiện khác nhau.
KTS. Nguyễn Huy Hiển, Giám đốc Kỹ thuật Tập đoàn Trần Đức, đưa những vấn đề này trở lại góc nhìn của người thiết kế. Theo ông, thiếu dữ liệu và cơ sở chứng minh an toàn có thể khiến một phương án kết cấu gỗ khó được lựa chọn ngay từ giai đoạn thiết kế.
Tại hội thảo buổi chiều với chủ đề “Mass Timber – Kiến tạo tương lai xây dựng xanh: Từ tầm nhìn đến tiêu chuẩn xây dựng kết cấu gỗ”, TS. Đỗ Tiến Thịnh cập nhật tiến độ xây dựng hai tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến thiết kế kết cấu gỗ, gồm yêu cầu chung và thiết kế chịu lửa. Theo thông tin được trình bày tại sự kiện, các tiêu chuẩn này dự kiến được trình thẩm định và công bố trong năm 2027.
Một dự án Mass Timber không chỉ cần CLT hay Glulam. Phía sau cấu kiện là nguồn nguyên liệu, tiêu chuẩn thiết kế, dữ liệu thử nghiệm, yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, thẩm tra, quy trình thi công và bảo trì. Các bên liên quan vì vậy phải cùng tham gia từ những giai đoạn tương đối sớm của dự án.
Đây là nội dung được mở rộng tại hội thảo buổi chiều, với sự tham gia của Douglas Snyder, Giám đốc Điều hành Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam (VGBC), cùng các chuyên gia từ IBST, Nhật Bản, New Zealand và doanh nghiệp trong nước.
Từ những góc độ khác nhau, các tham luận đề cập đến nguồn gỗ, tiêu chuẩn, công trình xanh, thiết kế và ứng dụng. Những vấn đề này cho thấy việc phát triển Mass Timber không chỉ là câu chuyện của riêng công nghệ sản xuất. Khả năng phối hợp giữa các khâu từ vật liệu đến thiết kế, thẩm định và thi công cũng quyết định việc một sản phẩm có thể đi được đến công trình hay không.
Cũng trong khuôn khổ sự kiện, Tập đoàn Trần Đức và DB Group ký thỏa thuận hợp tác, hướng tới nghiên cứu khả năng ứng dụng kết cấu gỗ tại một số dự án phù hợp.
Hiệu quả của những hợp tác này sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển các nghiên cứu, dữ liệu và giải pháp kỹ thuật thành những dự án cụ thể. Với Mass Timber, đây cũng là bước thử quan trọng để kiểm chứng khả năng áp dụng trong điều kiện thực tế.
Gỗ vốn không phải vật liệu xa lạ với kiến trúc Việt Nam. Từ đình, chùa, nhà rường đến hệ cột kèo truyền thống, gỗ đã được sử dụng qua nhiều thế hệ. Điểm khác biệt của kết cấu gỗ kỹ thuật hiện nay nằm ở cách vật liệu được tiêu chuẩn hóa, tính toán và kiểm chứng.
Những kinh nghiệm từng được tích lũy qua nhiều thế hệ giờ cần được tiếp tục bằng dữ liệu, thử nghiệm và tiêu chuẩn – một ngôn ngữ mà kiến trúc sư có thể thiết kế, kỹ sư có thể tính toán và cơ quan chuyên môn có thể thẩm định.
Hai hội thảo do Tập đoàn Trần Đức phối hợp cùng IBST tổ chức ngày 23/9 cho thấy Việt Nam đang bước vào chính phần việc đó. Không chỉ làm ra CLT hay Glulam, mà xây dựng cơ sở để những cấu kiện ấy đi từ nhà máy đến bản vẽ, từ bản vẽ đến công trường và cuối cùng đứng được qua thời gian.
Tố Uyên – TCKT.VN
© Tạp chí Kiến trúc





















