Mở đầu
Quy hoạch, kiến trúc và đô thị không chỉ là kết quả của quá trình phát triển, mà còn phản ánh khá rõ bối cảnh lịch sử, điều kiện tự nhiên, phương thức tổ chức kinh tế và tư duy của mỗi thời kỳ. Với Quảng Ninh – vùng đất hội tụ biển, đảo, biên giới và tài nguyên – mỗi bước chuyển về lịch sử và kinh tế đều để lại những dấu ấn rõ nét trên không gian, từ các điểm tụ cư đầu tiên đến hệ thống đô thị ngày nay.
Nhìn từ góc độ quy hoạch, kiến trúc và phát triển đô thị, hành trình phát triển của Quảng Ninh cũng là quá trình không ngừng thay đổi cách tổ chức và khai thác không gian – Mỗi giai đoạn lại hình thành một lớp quy hoạch, đô thị và kiến trúc mới, tạo nên diện mạo đa tầng của Quảng Ninh hôm nay.
Quảng Ninh là vùng đất địa đầu phía Đông Bắc của Tổ quốc, nơi đất liền, biển đảo và đường biên giới gặp nhau. Vị trí ấy, từ rất sớm đã tạo nên hai chức năng song hành: Vừa là không gian có ý nghĩa chiến lược trong bảo vệ đất nước, vừa là cửa ngõ giao thương hướng ra biển. Vì vậy, sự hình thành các điểm cư trú và những không gian cộng đồng đầu tiên luôn gắn với địa thế, nhu cầu sinh sống, giao thương và bảo vệ lãnh thổ.
Nhìn trên bản đồ, từ dòng Bạch Đằng đến không gian biển đảo Vân Đồn, Móng Cái, có thể thấy rõ cấu trúc đặc biệt của vùng đất này. Sông, cửa biển và hệ thống đảo vừa mở ra các tuyến giao thương, vừa tạo nên những vị trí chiến lược. Những dấu mốc như các chiến thắng trên sông Bạch Đằng hay trận đánh trên sông Mang năm 1288 cho thấy: Từ rất sớm, con người đã biết khai thác địa hình sông nước, cửa biển và biển đảo để tổ chức thế trận, kiểm soát các tuyến giao thông và bảo vệ không gian lãnh thổ.
Trong mối quan hệ giữa địa thế, quốc phòng và giao thương, các điểm tụ cư dần được hình thành. Vân Đồn, với vị thế thương cảng quan trọng được hình thành từ năm 1149, cùng Quan Lạn, Trà Cổ và nhiều cộng đồng ven biển, hải đảo đã trở thành những điểm nút của giao thương, khai thác biển và quá trình cư dân bám đất, bám biển nơi vùng biên cương. Dù chưa phải đô thị theo nghĩa hiện đại, đây đã là những hạt nhân đầu tiên trong quá trình tổ chức không gian vùng Đông Bắc.
Dấu vết của lớp không gian ấy còn được lưu giữ trong những công trình kiến trúc truyền thống, như: Đình Quan Lạn, đình Trà Cổ… Từ góc nhìn quy hoạch và kiến trúc, có thể thấy địa thế đã tạo ra vị trí; vị trí đặt ra yêu cầu bảo vệ; còn giao thương và đời sống đã tạo nên những không gian tụ cư đầu tiên. Các điểm tụ cư tuy còn phân tán, quy mô nhỏ và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nhưng đã đặt những viên gạch đầu tiên cho cấu trúc không gian của Quảng Ninh sau này.
Từ cuối thế kỷ 19, khi người Pháp bắt đầu tổ chức khai thác than trên quy mô lớn, không gian Quảng Ninh bước vào một thời kỳ chuyển biến căn bản. Cùng với các cơ sở khai thác và sản xuất, hệ thống hạ tầng phục vụ công nghiệp từng bước được hình thành; xung quanh đó xuất hiện các khu ở công nhân, nơi làm việc của bộ máy quản lý, công trình dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật.
Hòn Gai, Cẩm Phả và các khu vực khai thác than khác, vì thế, phát triển thành những trung tâm có cấu trúc riêng. Đô thị không hình thành độc lập với hoạt động sản xuất mà lớn lên cùng sự mở rộng của các cơ sở công nghiệp và cộng đồng công nhân. Trên nền địa hình ven biển, đồi núi đặc trưng, không gian sản xuất, hạ tầng và khu dân cư từng bước được tổ chức theo các tuyến kết nối và những khu vực có điều kiện thuận lợi. Mối quan hệ giữa Công nghiệp – Hạ tầng – Khu dân cư đã tạo nên một diện mạo mới cho Vùng đất Mỏ.
Trên nền cấu trúc đó, kiến trúc cũng mang những dấu ấn riêng. Bên cạnh các công trình phục vụ sản xuất là hệ thống công sở, nhà ở, công trình công cộng và dịch vụ. Những dấu ấn kiến trúc Pháp còn lại ở Hòn Gai, Cẩm Phả và một số khu vực khác không chỉ là những công trình riêng lẻ, mà là một phần của lớp không gian được hình thành cùng quá trình công nghiệp hóa đầu tiên của Vùng Mỏ.
Dấu ấn quan trọng nhất của giai đoạn này là sự xuất hiện của một cấu trúc đô thị được tổ chức quanh hoạt động công nghiệp. Than không chỉ tạo ra một ngành kinh tế, mà đã trực tiếp tham gia định hình các trung tâm đô thị, phương thức tổ chức không gian và một lớp bản sắc vẫn còn hiện diện trong Quảng Ninh hôm nay.
Năm 1963, việc thành lập tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh đã tạo ra một không gian hành chính – lãnh thổ thống nhất, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về tổ chức các đô thị và điểm dân cư. Từ những trung tâm phát triển theo các chức năng riêng, Quảng Ninh bắt đầu từng bước được nhìn nhận và tổ chức trong một tổng thể chung.
Trong quá trình vừa xây dựng, vừa bảo vệ và tái thiết, Hòn Gai – Bãi Cháy, Cẩm Phả, Uông Bí cùng các thị trấn và trung tâm huyện lỵ từng bước được củng cố. Các khu ở, cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện, công trình văn hóa và hạ tầng kỹ thuật tạo nên những lớp không gian đô thị mới. Đô thị không còn chỉ xoay quanh hoạt động sản xuất mà từng bước đảm nhận đầy đủ hơn chức năng tổ chức đời sống xã hội.
Kiến trúc giai đoạn này mang rõ tinh thần của thời kỳ tái thiết. Nhà ở tập thể, trường học, bệnh viện, trụ sở và các công trình công cộng được tổ chức theo những yêu cầu thực tế của đời sống và điều kiện xây dựng lúc bấy giờ. Giá trị của lớp kiến trúc này không chỉ nằm ở hình thức, mà ở vai trò tạo dựng bộ khung vật chất cho các đô thị trong nhiều thập niên sau đó.
Dấu ấn quan trọng nhất là sự chuyển dịch từ những trung tâm phát triển mang tính cục bộ sang từng bước hình thành mạng lưới đô thị và trung tâm dân cư trong một không gian tỉnh thống nhất. Tuy nhiên, các đô thị trong giai đoạn này vẫn chủ yếu phát triển trên những nền tảng không gian sẵn có, gắn với các trung tâm sản xuất, hành chính và những trục kết nối chính. Sự liên kết giữa các đô thị mới ở bước đầu, nhưng đã tạo nền tảng cho quá trình mở rộng và tổ chức lại không gian trong thời kỳ tiếp theo.
Công cuộc Đổi mới mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với Quảng Ninh. Không gian phát triển từng bước vượt ra khỏi khuôn khổ của các trung tâm công nghiệp truyền thống; du lịch, thương mại, dịch vụ, kinh tế cửa khẩu, cảng biển và các hoạt động kinh tế mới… tạo thêm động lực cho quá trình đô thị hóa.
Về hình thái, các đô thị Quảng Ninh vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của điều kiện địa hình và hệ thống giao thông hiện hữu. Nhiều đô thị phát triển theo dạng tuyến, bám dọc Quốc lộ 18, ven biển hoặc các trục giao thông chính; không gian đô thị có xu hướng kéo dài theo các hành lang phát triển hơn là mở rộng đồng đều theo các hướng. Mỗi đô thị được hình thành trên một nền tảng kinh tế và vị trí riêng, từ công nghiệp, du lịch đến thương mại cửa khẩu, tạo nên một hệ thống đô thị đa dạng nhưng phát triển theo những động lực tương đối độc lập.
Trong giai đoạn này, hệ thống đô thị không chỉ mở rộng về quy mô mà ngày càng rõ hơn về chức năng. Hạ Long từng bước khẳng định vai trò trung tâm tổng hợp của tỉnh. Móng Cái phát huy vị thế đô thị biên giới và cửa ngõ giao thương. Uông Bí, Cẩm Phả tiếp tục phát triển trên nền tảng công nghiệp. Đông Triều và Quảng Yên trở thành những không gian phát triển quan trọng ở phía Tây. Việc Hạ Long trở thành thành phố (TP) năm 1993, cùng quá trình nâng cấp và phát triển của các đô thị khác, phản ánh sự trưởng thành của hệ thống đô thị và sự phân hóa ngày càng rõ về chức năng giữa các trung tâm.
Sự thay đổi cũng thể hiện trên diện mạo kiến trúc. Các khu đô thị mới, công trình thương mại, khách sạn, dịch vụ, du lịch và không gian ven biển xuất hiện ngày càng nhiều. Kiến trúc bắt đầu phản ánh sự đa dạng hơn của nền kinh tế và những thay đổi trong nhu cầu sống.
Từ góc độ quy hoạch, đây là giai đoạn hệ thống đô thị Quảng Ninh ngày càng phân hóa rõ hơn về vai trò và lợi thế. Khi mỗi đô thị có những động lực riêng, bài toán đặt ra không còn chỉ là mở rộng từng đô thị, mà là tổ chức tốt hơn mối quan hệ giữa các cực phát triển trong một không gian chung.
Nếu trong các giai đoạn trước, các đô thị chủ yếu phát triển theo những điều kiện và động lực riêng, bám theo các trung tâm sản xuất, ven biển và những trục giao thông hiện hữu, thì giai đoạn này đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian ở quy mô lớn hơn. Đô thị không chỉ tiếp tục kéo dài theo các tuyến phát triển truyền thống, mà từng bước mở rộng theo chiều sâu, hình thành các không gian chức năng mới, các khu đô thị mới và những cực phát triển mới.
Nếu trước đây than và công nghiệp khai khoáng là lực lượng chủ yếu định hình các đô thị, thì quá trình chuyển đổi đòi hỏi phải khai thác đồng thời những nguồn lực khác: biển, đảo, vị trí cửa ngõ, cảnh quan, di sản, hạ tầng, con người và khoa học công nghệ. Không gian phát triển cũng không thể tiếp tục được nhìn như những khu vực riêng lẻ; quan hệ giữa đô thị, công nghiệp, du lịch, dịch vụ, logistics, cửa khẩu và không gian sinh thái ngày càng chặt chẽ hơn.
Một thay đổi có thể nhận thấy rõ là sự đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng kết nối. Các tuyến cao tốc, cảng hàng không, cảng biển, cầu và các công trình giao thông mới không chỉ rút ngắn khoảng cách, mà còn tạo ra những trục và điều kiện mới để tổ chức không gian đô thị và các hoạt động kinh tế trên quy mô rộng hơn.
Theo tác giả, điểm đáng chú ý nhất của giai đoạn này là: Quảng Ninh đang chuyển từ yêu cầu phát triển từng khu vực, từng dự án hay từng đô thị sang liên kết các nguồn lực trong một cấu trúc không gian thống nhất hơn. Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn, Quảng Yên, Cẩm Phả, Uông Bí hay Đông Triều có những lợi thế và chức năng khác nhau, nhưng giá trị lớn hơn chỉ được tạo ra khi những không gian ấy được kết nối, phân công và hỗ trợ lẫn nhau. Hình thái phát triển vì thế cũng đang chuyển dần thành một mạng lưới đô thị đa trung tâm, gắn với các hành lang kinh tế và các cực tăng trưởng.
Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 là một dấu mốc mới trong quá trình tổ chức lại không gian phát triển, định hướng cấu trúc đô thị theo hướng đa trung tâm, đa cực và tăng cường liên kết. Tuy nhiên, quy hoạch không dừng ở cấu trúc trên bản đồ. Thách thức lớn hơn là chuyển hóa cấu trúc đó thành hạ tầng, đô thị, công trình và những không gian sống có chất lượng.
Cùng với quá trình này, kiến trúc đương đại đang góp phần tạo nên hình ảnh mới của Quảng Ninh. Nhưng hiện đại không đồng nghĩa với việc các đô thị trở nên giống nhau. Bản sắc phải được tạo nên từ mối quan hệ giữa kiến trúc với biển, núi, cảnh quan, lịch sử Vùng Mỏ và đời sống cộng đồng.
Lời kết
Nhìn lại hành trình phát triển của Quảng Ninh, có thể thấy: Mỗi giai đoạn phát triển đều để lại một lớp không gian riêng – Từ những điểm tụ cư gắn với sông, biển và biên giới; những đô thị hình thành cùng công nghiệp Vùng Mỏ; quá trình tái thiết và xây dựng hệ thống đô thị; đến giai đoạn mở rộng và tái cấu trúc không gian phát triển hôm nay.
Từ góc nhìn của người làm nghề, điều đáng quan tâm là: Những giá trị nào sẽ được tạo dựng và để lại cho tương lai? – Theo đó, thách thức lớn của chặng đường tiếp theo là: Phát triển mạnh hơn nhưng không đánh mất bản sắc – Kiến tạo những không gian mới nhưng vẫn giữ được mối liên hệ với lịch sử, cảnh quan và đời sống của vùng đất Mỏ.
KTS Nguyễn Đức Minh
Sở Xây dựng Quảng Ninh
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2026)




















