Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Chính phủ phê duyệt từ năm 2016 đã đem lại nhiều điểm thuận lợi cho việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa nước ta. Trong bối cảnh đó, việc thúc đẩy các hoạt động sáng tạo và khởi nghiệp gắn với di sản và văn hóa Việt Nam là hết sức cần thiết. Bài viết này nêu một số nhận định khái quát về những điều kiện thuận lợi, những rào cản, thách thức và đề xuất các phương hướng để tối ưu hóa hệ sinh thái, nhằm nâng cao năng lực, thúc đẩy sự phát triển của các cá nhân, nhóm sáng tạo, khởi nghiệp liên quan đến di sản, văn hóa Việt Nam.
Chiến lược trên đã nêu quan điểm chỉ đạo: “Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên sự sáng tạo, khoa học công nghệ và bản quyền trí tuệ; khai thác tối đa yếu tố kinh tế của các giá trị văn hóa.”; “Phát triển công nghiệp văn hóa gắn liền với việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu, hội nhập và hợp tác quốc tế”. Có thể thấy rằng, với quan điểm chỉ đạo này, di sản, văn hóa Việt Nam có vai trò nền tảng với sự phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Chiến lược cũng đưa ra mục tiêu chung: “Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam trở thành những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ, tiêu dùng văn hóa của người dân trong nước và xuất khẩu; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; xác lập được các thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa; ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng của Việt Nam”. Điều này cho thấy trong Chiến lược hiện hành, yếu tố sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển kinh tế dịch vụ, tăng trưởng kinh tế, phát triển sản phẩm, dịch vụ, xây dựng thương hiệu dựa trên văn hóa được đặc biệt nhấn mạnh. Những nhiệm vụ và giải pháp chung phát triển các ngành công nghiệp văn hóa được nêu trong Chiến lược, như đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức; hoàn thiện cơ chế, chính sách; đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực; tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ; thu hút và hỗ trợ đầu tư; phát triển thị trường; mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế có thể được xem như những nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Việt Nam, hệ sinh thái cho sáng tạo, khởi nghiệp với di sản, văn hóa Việt Nam.
Trong những năm vừa qua, có thể thấy có sự nở rộ của xu hướng sáng tạo, khởi nghiệp dựa trên chất liệu di sản, văn hóa ở Việt Nam. Phong trào khởi nghiệp, kinh doanh và sáng tạo gắn với việc bảo tồn, khai thác di sản, văn hóa Việt Nam đã có những thành tựu đáng chú ý. Các cá nhân, nhóm sáng tạo, khởi nghiệp gắn với di sản, văn hóa ở Việt Nam đã không ngừng nghiên cứu và phát triển các sản phẩm sáng tạo, từ thời trang, ẩm thực, kiến trúc, du lịch, xuất bản, thủ công mỹ nghệ,… lấy cảm hứng từ văn hóa, di sản địa phương. Sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống đã tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm dấu ấn Việt Nam, thu hút sự chú ý từ thị trường trong nước và quốc tế, đơn cử như dự án Họa Sắc Việt sử dụng các họa tiết trên tranh dân gian Hàng Trống để đưa vào các thiết kế hiện đại, bao gồm các bao bì sản phẩm phong phú (xem hình 1).
Các sự kiện văn hóa như triển lãm, hội chợ và các chương trình nghệ thuật cũng đã trở thành bối cảnh tốt để kết nối người tiêu dùng với các thương hiệu sáng tạo gắn với di sản, văn hóa. Qua đó, những giá trị văn hóa Việt Nam không chỉ được lan tỏa mạnh mẽ mà còn được tái tạo dưới những hình thức mới mẻ, thích hợp với xu hướng toàn cầu. Sự phát triển của hoạt động sáng tạo, khởi nghiệp liên quan di sản, văn hóa tại Việt Nam không chỉ góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần lan tỏa thêm về bản sắc văn hóa dân tộc. Một ví dụ có thể kể đến như vở diễn Đối diện với vô cùng – một chương trình nghệ thuật biểu diễn của biên đạo múa Tú Hoàng, giám đốc sản xuất Nguyễn Quốc Hoàng Anh, đạo diễn sân khấu Hà Nguyên Long, cùng ekip, do Lên Ngàn phối hợp với Nhà hát Tuồng Việt Nam, XplusX Studio và các đối tác thực hiện trong năm 2024 đã có những thành công về thương mại, diễn ba đêm liên tiếp và thu hút sự quan tâm của công chúng với tác phẩm kết hợp giữa nghệ thuật Tuồng truyền thống và trình diễn vinahouse (xem Hình 2).
Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa ở Việt Nam gồm các bên như: Chính phủ: Bao gồm các bộ, ngành liên quan ở cấp trung ương và địa phương, có vai trò quan trọng trong việc định hướng chính sách, cung cấp tài trợ và hỗ trợ pháp lý cho các hoạt động văn hóa. Các công ty, doanh nghiệp trong các lĩnh vực như xuất bản, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thủ công mỹ nghệ,…. là những đơn vị tạo ra và phân phối sản phẩm văn hóa tới công chúng. Nghệ sĩ, nghệ nhân và các nhà sáng tạo, các nhà sản xuất là những cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực như mỹ thuật, âm nhạc, điện ảnh, thời trang, và các lĩnh vực sáng tạo khác. Họ tạo ra các sản phẩm sáng tạo dựa trên di sản, văn hóa Việt Nam. Các viện nghiên cứu và trường đại học đóng vai trò trong việc đào tạo cũng như thực hiện các nghiên cứu liên quan đến văn hóa và nghệ thuật. Cộng đồng, khán giả, người tiêu dùng là động lực để thúc đẩy sự phát triển của thị trường công nghiệp văn hóa.
Trong hệ sinh thái này, một số thuận lợi được ghi nhận với các cá nhân, nhóm sáng tạo và khởi nghiệp với di sản, văn hóa đó là tài nguyên văn hóa phong phú, kho tàng di sản văn hóa đa dạng, là nguồn chất liệu dồi dào cho các nhà sáng tạo tạo ra các sản phẩm văn hóa độc đáo. Nhiều người trẻ hiện nay quan tâm đến di sản văn hóa của đất nước, đây là nguồn lực tâm huyết và có thể tạo ra sự đổi mới, sáng tạo.
Có một lượng lớn khán giả, đặc biệt là thế hệ Z, mong muốn khám phá và trải nghiệm các giá trị văn hóa, tạo nên một thị trường tiềm năng cho các sản phẩm và dịch vụ này. Các bài giảng về kinh doanh và quản trị, thông tin được chia sẻ miễn phí trên nhiều nền tảng, giúp những người sáng tạo, khởi nghiệp về di sản, văn hóa có thể tự học hỏi và phát triển kỹ năng cần thiết. Ngày càng có nhiều sự quan tâm và hỗ trợ từ phía chính quyền, các quỹ, tổ chức văn hóa, và doanh nghiệp tư nhân trong việc phát triển các sáng kiến liên quan đến di sản văn hóa để thúc đẩy sáng tạo và khởi nghiệp trong lĩnh vực này. Cơ sở hạ tầng và việc tìm kiếm thông tin ngày càng dễ dàng hơn, hỗ trợ cho việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến di sản văn hóa thuận lợi hơn. Công nghệ thông tin phát triển giúp giảm chi phí và thời gian khởi nghiệp, đồng thời mở ra nhiều cơ hội để các nhóm có thể hoạt động hiệu quả hơn.
Cùng với những thuận lợi, các cá nhân và nhóm sáng tạo, khởi nghiệp trong lĩnh vực di sản và văn hóa tại Việt Nam đang phải đối mặt với một số rào cản và thách thức. Về nhận thức và kiến thức, một số người chưa đánh giá đúng giá trị của sáng tạo di sản và văn hóa, dẫn đến sự thiếu ủng hộ và quan tâm. Chính sách hỗ trợ của nhà nước về bảo tồn di sản, quản lý văn hóa thì phong phú, các chính sách ưu đãi trực tiếp về việc khởi nghiệp, khởi sự doanh nghiệp chuyên về văn hóa, di sản cũng đã phần nào hình thành (như Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, Luật Thủ đô của Thành phố Hà Nội,…), tuy nhiên các chính sách này đi vào triển khai vẫn chưa có được những điều kiện tối ưu để thúc đẩy được làn sóng mạnh mẽ thu hút sự quan tâm của những người làm văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo vào việc khởi nghiệp, kinh doanh dựa trên di sản. Nhiều cá nhân, nhóm làm sáng tạo liên quan đến di sản mới tập trung vào việc làm chuyên môn, nhưng chưa được nâng cao năng lực, kỹ năng về khởi nghiệp, phát triển kinh tế dựa trên chất liệu văn hóa, di sản. Một số cá nhân, nhóm có các sản phẩm sáng tạo về di sản tốt tuy nhiên hạn chế về năng lực thiết kế, đóng gói sản phẩm. Về tài chính và ngân sách, nguồn vốn đầu tư và tài trợ thường không đủ hoặc chưa được sử dụng hiệu quả, gây khó khăn trong việc duy trì và phát triển các hoạt động sáng tạo, khởi nghiệp của các nhóm, cá nhân sáng tạo, khởi nghiệp dựa trên di sản. Một số cá nhân và nhóm có những hạn chế trong việc thành lập pháp nhân công ty, tổ chức cho việc thực hiện các hợp đồng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chuyên nghiệp. Việc thuê mặt bằng cho việc sáng tạo, sản xuất, phát triển đội ngũ,… là một thách thức lớn đối với nhiều nhóm, tổ chức, công ty sáng tạo, khởi nghiệp về di sản, khi mà lợi nhuận từ các sản phẩm, dịch vụ phải cân lại chi phí của cơ sở vật chất, mặt bằng,…lớn, khiến sự tồn tại của các công ty, tổ chức gặp những rủi ro, có những công ty, tổ chức lập ra nhưng không duy trì được hoạt động sản xuất, kinh doanh lâu dài trong lĩnh vực di sản, văn hóa. Sự hỗ trợ vốn của nhà nước, ngân hàng chưa tiếp cận được tối ưu đến các nhóm phi chính thức, không có đăng ký pháp nhân. Thêm vào đó, các nguồn lực hỗ trợ về kinh nghiệm thực tiễn, thị trường và phát triển sản phẩm còn nhiều hạn chế, khiến khả năng thành công của các dự án sáng tạo, khởi nghiệp về di sản của một số cá nhân, nhóm bị hạn chế. Ngoài ra, việc thiếu mạng lưới kết nối giữa các nhà sáng tạo, tổ chức trung gian và chính quyền, cùng với khó khăn trong hợp tác liên ngành, cũng cản trở sự chia sẻ kiến thức và nguồn lực cần thiết cho sự phát triển của các dự án sáng tạo, khởi nghiệp liên quan lĩnh vực di sản.
Những thách thức này đòi hỏi sự chung tay của chính quyền, các tổ chức xã hội, các công ty và cá nhân. Để tối ưu hóa hệ sinh thái hỗ trợ sáng tạo và khởi nghiệp trong lĩnh vực di sản, cần cải thiện cơ chế chính sách và cung cấp quỹ hỗ trợ nhằm kích thích các nhóm sáng tạo, khởi nghiệp gắn với di sản Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao năng lực ở các khía cạnh như thành lập pháp nhân, chế độ ưu đãi về vốn đầu tư, thuế, về cơ sở vật chất, mặt bằng kinh doanh, sáng tạo, thiết kế đóng gói sản phẩm,… cho các doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo liên quan di sản. Bên cạnh đó, việc xây dựng và phát triển cộng đồng sáng tạo, thông qua các hoạt động kết nối trực tuyến và trực tiếp, cũng như liên kết giữa các cơ quan nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp tư nhân, là điều cần thiết. Giáo dục và đào tạo liên quan các kỹ năng sáng tạo, khởi nghiệp, kinh doanh, thiết kế,… cần được chú trọng. Các sự kiện kết nối, hội thảo, workshop cũng là không gian quan trọng để trao đổi kinh nghiệm giữa các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo, khởi nghiệp về di sản, giúp họ mở rộng mạng lưới và tăng cường hợp tác tạo ra các giá trị chung. Việc nghiên cứu và phát triển cần được đẩy mạnh, khuyến khích sự hợp tác giữa các chuyên gia, nhà nghiên cứu và cộng đồng sáng tạo, khởi nghiệp với di sản để nâng cao hiểu biết và chuyên môn, đưa ra các giải pháp đổi mới. Cuối cùng, cần đẩy mạnh việc chia sẻ và quảng bá thông qua các kênh truyền thông để nâng cao nhận thức và sự quan tâm của cộng đồng đối với di sản và văn hóa, tạo ra công chúng thưởng thức, ủng hộ và sẵn sàng tiếp nhận các sản phẩm, dịch vụ văn hóa liên quan di sản của Việt Nam.
TS. Lư Thị Thanh Lê
Giảng viên Bộ môn Công nghiệp văn hóa và sáng tạo, Khoa Công nghiệp văn hóa và di sản,
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, ĐHQG Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2024)
Tài liệu trích dẫn:
Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8/9/2016 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.






















