Công nghệ số trong quản lý không gian kiến trúc cảnh quan khu CN tại TP Hà Nội

Qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, Hà Nội đã có 18 khu công nghiệp (KCN) tập trung với tổng diện tích gần 3600ha, góp phần quan trọng giải quyết việc làm, tạo nguồn nhân lực tốt, là nơi tiếp thu công nghệ mới để phát triển và hội nhập trong tương lai của Thủ đô. Tuy nhiên, thực tế cho thấy: Vấn đề quản lý KCN vẫn còn rất nhiều bất cập, việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin, công cụ và máy móc hiện đại trong công tác quản lý, đặc biệt là quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan còn rất hạn chế, ít được quan tâm và đầu tư một cách nghiêm túc, đầy đủ. Do đó, thay đổi trong công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của KCN tại TP Hà Nội là một vấn đề cấp bách và song hành với quá trình phát triển.

Thực trạng ứng dụng công nghệ số trong quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN tại TP Hà Nội

1. Văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản pháp luật Quản lý Nhà nước về phát triển KCN đã và đang được Nhà nước, Chính phủ và các Cơ quan có thẩm quyền bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với xu thế phát triển, tạo hành lang pháp lý quan trọng để quản lý KCN trong thời đại mới. Tại Hà Nội, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 1/7/2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế” (Nghị quyết 36) và Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 6/6/2014 của Ban Bí thư (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao” (Chỉ thị 37) đã thực hiện được 5 năm trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, trên thực tế, văn bản pháp luật, các đề án, nghị quyết… khuyến khích ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin trong quản lý nói chung và KCN nói riêng còn thiếu và chưa đi vào thực tế một cách hiệu quả.

Cơ sở dữ liệu quốc gia bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật, các quy định, các dữ liệu chuyên ngành… mới chỉ dừng lại ở các văn bản cứng và chỉ được tra cứu cục bộ mà chưa được số hóa toàn diện, khó khăn trong việc tìm kiếm, trích xuất các dữ liệu cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau, mục đích khác nhau một cách thông minh, hiệu quả hơn. Thiếu sự chia sẻ thông tin giữa các ngành, lĩnh vực, thiếu sự tương tác giữa các thành phần liên quan trong phát triển KCN như Chính quyền, Nhà đầu tư, Nhà tư vấn và cộng đồng. Điều này gây nên nhiều bất lợi, khó khăn, thiếu minh bạch trong quá trình quản lý, đặc biệt là chưa phát huy được những tác dụng mạnh mẽ và tích cực của công nghệ số, công nghệ thông tin, máy móc thiết bị hiện đại trong giai đoạn phát triển hiện nay ở KCN.

2. Bộ máy quản lý

Việc ứng dụng công nghệ số trong Bộ máy quản lý KCN nói chung và quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan nói riêng tại TP Hà Nội còn dừng lại ở mức độ đơn giản, cục bộ và thiếu tính hệ thống. Công tác lưu trữ dữ liệu vẫn ở dạng truyền thống, các văn bản giấy cất giữ theo kiểu file, cặp tài liệu. Các bản vẽ quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan với kích thước lớn và cồng kềnh vẫn được cất giữ thủ công chiếm diện tích lớn, gây khó khăn trong quá trình tra cứu và quản lý. Các KCN nằm tại các địa điểm xa nhau trong thành phố nên sự kết nối thông tin, điều tra, giám sát và quản lý còn nhiều hạn chế. Việc quản lý các hoạt động tại các KCN cũng như tại các nhà máy chủ yếu là báo cáo một chiều từ Ban quản lý KCN tại địa phương. Điều này đã dẫn đến sự thiếu chính xác, không khách quan, chậm trễ trong nắm bắt các sự việc diễn ra của Ban quản lý KCN TP Hà Nội, dẫn đến những vấn đề sai phạm tại các KCN.

Công tác giải quyết thủ tục hành chính và tiếp nhận hồ sơ, cũng như công tác giám sát, xử lý vấn đề phát sinh đều qua báo cáo từ địa phương lên và được tiếp nhận tại phòng một cửa của Ban quản lý KCN và CX TP Hà Nội hoặc qua đường dây nóng – Điều này thực sự chưa hiệu quả cả về thời gian giải quyết cũng như các căn cứ để thực hiện.

Vấn đề con người cũng là thành phần quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN. Thực tế cho thấy nhiều cán bộ công tác trong lĩnh vực quản lý còn ở mức độ trung bình, còn thiếu các kỹ năng ứng dụng và xử lý công việc trên nền tảng số, máy móc hiện đại, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin trong quản lý KCN.

3. Khai thác phần mềm mới và sử dụng máy móc thiết bị hiện đại trong quản lý KCN

Việc ứng dụng công nghệ thông tin và đặc biệt là ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong công tác quản lý quy hoạch, kiến trúc, đất đai… cho KCN còn thiếu và yếu. Công tác quản lý dữ liệu chưa đạt hiệu quả cao, việc cập nhật, theo dõi các hoạt động, tra cứu thông tin khi cần thiết là một vấn đề khó khăn cho các đối tượng như Nhà quản lý, nhà tư vấn, nhà khoa học người dân. Ngoài ra, tại cơ quan Trung ương như Bộ Xây dựng cũng chưa có một đơn vị nào có vai trò là trung tâm dữ liệu với nhiệm vụ tích hợp, lưu trữ hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin quy hoạch nói riêng hay dữ liệu ngành xây dựng nói chung để tạo nguồn dữ liệu đầy đủ phục vụ công tác quản lý.

Các máy móc thiết bị hiện đại được sử dụng cũng còn rất ít và sơ khai, chủ yếu là các máy tính cá nhân lưu trữ tài liệu, các đường dây nóng điện thoại để tiếp nhận phản ánh từ các KCN, chủ yếu là dùng sức người để theo dõi, giám sát và quản lý toàn bộ 18 KCN trên địa bàn với hàng nghìn nhà máy về các nội dung như quy hoạch, xây dựng công trình, cảnh quan, môi trường… Điều này đã tạo ra rất nhiều lỗ hổng trong qúa trình quản lý nói chung và không gian, kiến trúc, cảnh quan nói riêng tại các KCN ở Hà Nội.

Giải pháp ứng dụng công nghệ số trong quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN tại TP Hà Nội

1. Giải pháp công nghệ số trong quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN

Với định hướng phát triển công nghệ theo Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước giai đoạn 2011-2015; theo đó, để phục vụ mục tiêu dài hạn xây dựng Chính phủ điện tử của Việt Nam, các cơ quan Bộ ngành ở cấp trung ương và các cơ quan quản lý địa phương được giao nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ngành phục vụ công tác quản lý Nhà nước.

Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tạo ra “Nhà máy thông minh” (smart factory). Trong các nhà máy thông minh với cấu trúc kiểu mô-đun, hệ thống thực-ảo giám sát các quy trình thực tế, tạo ra một bản sao ảo của thế giới thực và đưa ra các quyết định. Qua Internet kết nối vạn vật, các hệ thống thực-ảo giao tiếp và cộng tác với nhau và với con người trong thời gian thực, cùng với sự hỗ trợ của dịch vụ tin học nội hàm và dịch vụ xuyên tổ chức được cung cấp cho các bên tham gia sử dụng.

Khi ứng dụng cộng nghệ số và máy móc hiện đại trong xây dựng và quản lý KCN tại TP Hà Nội. Những khả năng sau sẽ hỗ trợ trong việc định dạng và thực hiện những viễn cảnh của công nghiệp đó là:

  • Khả năng tương tác: Khả năng giao tiếp và kết nối của những cỗ máy, thiết bị, máy cảm biến và con người kết nối và giao tiếp với nhau qua mạng lưới vạn vật kết nối internet hoặc mạng lưới vạn người kết nối internet.
  • Minh bạch thông tin: Khả năng của những hệ thống thông tin để tạo ra một phiên bản ảo của thế giới thực tế bằng việc làm giàu những mô hình nhà máy kỹ thuật số bằng dữ liệu cảm biến. Điều này yêu cầu sự tập hợp những dữ liệu cảm biến thô đến thông tin ngữ cảnh có giá trị cao hơn.
  • Công nghệ hỗ trợ: Đầu tiên, khả năng của những hệ thống hỗ trợ con người bằng việc tập hợp và hình dung thông tin một cách bao quát cho việc tạo những quyết định được thông báo rõ ràng và giải quyết những vấn đề khẩn cấp qua những ghi chú ngắn gọn. Thứ hai là khả năng của những hệ thống không gian mạng-vật lý để hỗ trợ con người thực hiện những nhiệm vụ cái mà không dễ chịu, tốn quá nhiều sức lực hoặc không an toàn đối với con người.
  • Phân quyền quyết định: Hệ thống không gian mạng thực-ảo có quyền cho phép tự đưa ra quyết định và thực hiện nhiệm vụ một cách tự động nhất có thể. Chỉ trong trường hợp ngoại lệ, bị nhiễu, hoặc mục tiêu đề ra bị mâu thuẫn với nhau sẽ được ủy thác cho cấp cao hơn.

2. Lựa chọn phần mềm ứng dụng

Để phù hợp cho công tác quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN hiện nay tại TP Hà Nội, việc lựa chọn công nghệ thích hợp là rất quan trọng vì thực tế có rất nhiều ứng dụng khác nhau.

Dưới đây là đề xuất của tác giả về các phần mềm có nội dung tương ứng như sau:

Ứng dụng 1: Ứng dụng hỗ trợ theo dõi thực hiện quy hoạch bao gồm:

  • So sánh giữa quy hoạch chung, chi tiết quy định với hiện trạng.
  • So sánh chi tiết giữa các cấp quy hoạch

Ứng dụng 2: Ứng dụng cung cấp thông tin quy hoạch cho doanh nghiệp nhà đầu tư và người dân. Bao gồm các nội dung:

  • Thông tin dữ liệu;
  • Chuẩn bị kỹ thuật;
  • Hạ tầng kỹ thuật: Cấp thoát nước, không gian ngầm…;
  • Công trình kiến trúc;
  • Kiến trúc cảnh quan.

Ứng dụng 3: Ứng dụng chồng xếp nhiều lớp dữ liệu GIS với các bản đồ nên hoặc ngành khác nhau, bao gồm các nội dung:

  • Địa hình;
  • Ảnh vệ tinh;
  • Bản đồ giao thông;
  • Bản đồ hành chính;
Hình 1: Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quy hoạch và xây dựng

Ứng dụng 4: Ứng dụng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị. Thiết lập, quản lý cấu trúc, nội dung cơ sở dữ liệu quy hoạch các cấp (quy hoạch vùng, quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết), Quản trị cấu trúc kho lưu trữ đồ án: bản đồ, quyết định phê duyệt, thuyết minh. Bao gồm các nội dung:

  • Quản trị nội dung dữ liệu đồ án quy hoạch: bản vẽ quy hoạch, tài liệu quy hoạch, các lớp dữ liệu GIS quy hoạch, bản đồ quy hoạch,…;
  • Phân quyền truy cập theo từng đồ án quy hoạch theo từng đối tượng người dùng;
  • Khai thác đồng thời nhiều đồ án quy hoạch trên cùng một giao diện;
  • Tìm kiếm, tra cứu thông tin đối tượng thuộc các lớp dữ liệu GIS quy hoạch;

Ứng dụng 5: Phần mềm quản lý tập hợp các bản đồ, dữ liệu, văn bản được số hóa để xét duyệt, lọc so với các tiêu chuẩn (cũng được số hóa) để có được các kết quả đầu ra theo yêu cầu.

Ứng dụng 6: Các phần mềm tương tác, mạng xã hội… tiếp nhận và xử lý các thông tin phản hồi của cộng đồng (gồm người lao động, người dân sống xung quanh KCN, nhà báo cũng như dư luận xã hội…) một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Ngoài các phần mềm đã nêu trên, đối với mỗi chức năng và nhiệm vụ cụ thể mang tính đặc thù, các nhà quản lý có thể đặt hàng các yêu cầu riêng với các doanh nghiệp công nghệ (chuyên viết phần mềm) để có các ứng dụng khác nhau, cụ thể, riêng biệt cho từng vấn đề một cách dễ dàng và nhanh chóng.

Hình 2: Phần mềm GIS phục vụ cho công tác quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN

Ví dụ về giải pháp quản lý chất lượng cảnh quan KCN qua ứng dựng công nghệ số

Hình 3: Ứng dụng công nghệ số trong quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN

Một vấn đề quan trọng cần được quan tâm trong công tác quản lý môi trường cảnh quan trong KCN là chất lượng cảnh quan, không chỉ quản lý cảnh quan đơn thuần như tỉ lệ xây xanh, mặt nước, độ phủ xanh… mà còn quản lý chất lượng của môi trường, chất lượng đất, nước và không khí tại KCN – Đây là các thành phần tạo nên chất lượng cảnh quan. Các yếu tố này được quản lý như thế nào và chất lượng của nó ra sao? Hiện nay vấn đề này hoàn toàn có thể quản lý, kiểm soát nhờ các ứng dụng như Tpizi, 2D/3D GIS City… với các camera, thiệt bị giám sát môi trường là các cảm biến (sensor) tại chỗ có gắn các thiết bị kiểm tra, quan trắc và báo cáo tự động, liên tục về cơ quan quản lý, như vậy sẽ biết được được chất lượng nước, không khí, đất… có đảm bảo hay không. Nếu áp dụng phần mềm và lợi thế của thời đại công nghệ số, kết nối vạn vật… trong quản lý sẽ giúp cho công tác này ngày càng hiệu quả hơn, tiết kiệm nhiều công sức và kinh phí khi vận hành. Tác giả đề xuất giải pháp lập các trạm quan trắc (hay đầu thu số liệu) theo lưới hình học với khoảng cách đảm bảo trên toàn bộ KCN thay vì các trạm quan trắc cục bộ, rời rạc đang được sử dụng hiện nay. Lưới đặt các đầu thu quan trắc môi trường sẽ được phân ra các loại khoảng cách khác nhau phụ thuộc vào quy mô KCN (rất lớn, lớn, trung bình, nhỏ), theo mức độ độc hại (cấp độ) và nguồn phát thải (không khí, đất, nước, cây xanh…). Đồng thời, các đầu sensor này đặt tại các cao độ khác nhau tùy thuộc vào địa hình và đặc điểm của đối tượng quan trắc.

Với các điều kiện máy móc tại địa bàn và các phần mềm thích ứng để phân tích, đánh giá đồng thời kết nối internet báo cáo kết quả thường xuyên, liên tục và có tính chính xác cao tới các cơ quan quản lý. Giải pháp này sẽ cải thiện và đảm bảo chất lượng môi trường cũng như chất lượng cảnh quan của KCN một cách hiệu quả và bền vững hơn

Hình 4: Ứng dụng các công cụ và thiết bị hiện đại trong quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan tại KCN

Kết luận

Với các phân tích và nghiên cứu ở trên chúng ta có thể thấy việc áp dụng công nghệ số vào trong công tác quản lý đô thị nói chung và quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN là rất cần thiết và cấp bách, bởi nó đem lại hiệu quả cao, giúp tiết kiệm thời gian, nhân lực và chi phí thực hiện.

Với các kết quả báo cáo thường xuyên và đầy đủ, dưới góc độ của nhà quản lý có thể thấy được sự hữu ích và hiệu quả của việc áp dụng công nghệ số, công nghệ thông tin cũng như các phần mềm, máy móc tiên tiến hiện đại trong công tác quản lý nói chung và quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan nói riêng là rất lớn, đồng thời phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển KCN bền vững trong tương lai.

Hình 5: Đầu thu quan trắc thay vì được bố trí cục bộ, rời rạc là bố trí theo ô lưới hình học trên toàn bộ KCN với phần mềm xử lý số liệu và tương tác trực tuyến

Như vậy, trong thập kỷ tới vai trò của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, nhà máy thông minh… sẽ thay thế dần con người. Tính chính xác và khách quan trong quản lý nói chung và quy hoạch, không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN nói riêng ngày càng được ứng dụng phổ biến đặc biệt tại các đô thị nơi có tốc độ phát triển công nghệ thông tin rất mạnh mẽ mà các KCN đầu tầu của Thành phố Hà Nội càng phải đi sớm đón đầu. Vấn đề ở đây là việc hợp nhất các năng lực xử lý thông tin với quy tắc, điều tiết đồng bộ các yêu cầu của bộ ba không gian, kiến trúc, cảnh quan KCN. Lúc này các yêu cầu: Pháp lý, thông tin, phần mềm quản lý KCN phải được thiết lập, đáp ứng kịp thời trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay.

THS.KTS Lê Thị Ái Thơ
Khoa Kiến Trúc – Trường Đại Học Kiến Trúc Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 01-2020)