Cung ứng nước sạch cho thành phố Hà Nội – Thách thức và giải pháp

Chuỗi bài hướng tới kỷ niệm 40 năm Hội Kiến trúc sư Hà Nội

Đầu năm 2025, Hà Nội trình các cấp kế hoạch chuyển nước sông Hồng vào sông Tô Lịch để “làm sống lại” dòng sông đã nhiều năm ô nhiễm, hy vọng sẽ nâng cấp cảnh quan và cải thiện môi trường Thủ đô. Nếu biến dòng sông ô nhiễm thành một hồ nước dài cất giữ được 23 triệu m3 nước sạch (gấp 5 lần tổng khối tích nước Hồ Tây) thì quả là việc đáng quý. Nhưng lấy ngần ấy nước sạch sông Hồng để rồi lại bị ô nhiễm sau khi đầu tư hơn 20 triệu USD, cộng với hơn 2 tỷ USD đã đầu tư cho hệ thống thu gom và xử lý nước thải Hà Nội thì việc này cần cân nhắc.

Bài viết dưới đây đã được tác giả trình bày tại Hội thảo “Cung ứng nước sạch cho Tp Hồ Chí Minh và các đô thị Việt Nam“ (ngày 26/12/2024) với hy vọng chia sẻ những thông tin về nguồn nước sạch của Hà Nội trông cậy vào sông Hồng ra sao và chúng ta phải sử dụng nguồn nước quý giá ấy như thế nào để có hiệu quả cao nhất.

1. Những thách thức trong việc cung ứng nước sạch

Ngày 30/5/2019, tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố báo cáo báo cáo nghiên cứu “Việt Nam – hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn”. Tại sự kiện này, lãnh đạo ngành Tài nguyên Môi trường cho biết “Việt Nam là quốc gia nghèo về nước nhưng lại sử dụng lãng phí tài nguyên nước”.

Hà Nội, cái tên gọi là mảnh đất trong sông, nhiều năm tự hào là thành phố sông hồ, nhưng gần đây vấn đề nước sạch cho thành phố đã có nhiều thách thức:

1.1 Thiếu nguồn nước sạch từ nước mặt đến nước ngầm

Cung cấp nước sạch Hà Nội: quá khứ, hiện tại và dự kiến trong thời gian tới
Cung cấp nước sạch Hà Nội: quá khứ, hiện tại và dự kiến trong thời gian tới

Hà Nội nằm trong lưu vực sông Hồng – Thái Bình. Trong suốt lịch sử ngàn năm, Hà Nội cũng như cả nước sử dụng nguồn nước tự nhiên để sản xuất và sinh hoạt. Cuối thế kỷ XIX, người Pháp tới Việt Nam và xác định Hà Nội là thủ phủ của Đông Dương. Năm 1894, người Pháp lập trạm cấp nước đầu tiên tại Hà Nội, sau đó từng bước mở rộng mạng lưới cấp nước sạch cho các khu vực người Pháp sinh sống và làm việc cũng như các trụ nước công cộng trên đường phố. Năm 1932, Hà Nội đưa vào vận hành nhà máy nước Yên Phụ, phủ kín mạng lưới cấp nước sạch cho thành phố có dân số 25 vạn dân. Cho đến trước năm 1974, nội thành Hà Nội chưa tới 1 triệu dân, có diện tích 44km2, nhà máy nước Yên Phụ vẫn cấp nước cho toàn thành phố. Sau năm 1975, Thành phố mở rộng nhiều khu nhà ở trên nền đất vốn san lấp từ đầm hồ, ruộng trũng bao quanh thành phố để đón thêm những công dân mới trở về sau chiến tranh thống nhất đất nước. Việc cấp nước sạch được bổ sung bởi các nhà máy mới do Phần Lan, Nhật Bản viện trợ hoặc vay ODA: Mai Dịch, Kim Liên, Lương Yên, Hạ Đình, Gia Lâm… Tất cả các nhà máy đều khai thác nước ngầm, bên cạnh đó nhiều hệ thống truyền tải, phân phối nước cũng được nâng cấp, cải thiện việc cấp đủ nước sạch cho nội thành. Hệ thống này đảm bảo cho 4 quận nội thành cũ được cấp nước ổn định, áp lực cao và chất lượng đảm bảo.

Đến thập kỷ 1990-2000, Hà Nội bắt đầu mở cửa, Thành phố mở rộng hơn và nhu cầu dùng nước tăng lên nhanh, nguồn nước ngầm cạn dần, thay thế bằng các nhà máy nước mặt. Quyết định Phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 công bố năm 2011 (gọi tắt là Quy hoạch chung 1259) quy định ưu tiên đầu tư xây dựng Nhà máy nước Sông Đà, sông Đuống, sông Hồng cung cấp cho dân cư nội thành Hà Nội (tăng từ 2,3 triệu người năm 2003 lên 4,6 triệu người năm 2022). Hầu hết các huyện ngoại thành chuyển dần từ tự cấp nước sang sử dụng nước sạch do các trạm sản xuất nước nhỏ cung cấp. Năm 2024, Hà Nội điều chỉnh Quy hoạch chung và từng bước thay thế các nhà máy nước ngầm.
Chuyển từ khai thác nước ngầm sang nước mặt cung cấp nước sạch Hà Nội

Chuyển từ khai thác nước ngầm sang nước mặt cung cấp nước sạch Hà Nội. Nguồn nước mặt cho Hà Nội cấp từ sông Đà, sông Hồng chảy vào sông Đuống. Do lượng nước từ đầu nguồn cạn dần, nên nước chảy ít dần vào các sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Tích, sông Cà Lồ, và các kênh Bắc Hưng Hải, Ngũ Huyện Khê… dẫn đến lắng bùn và chất thải, các sông ô nhiễm. Lượng nước thấp còn dẫn đến nguy cơ nhiễm mặn ở bề mặt cũng như tầng chứa nước (Quyết định 1622/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Thủ tướng Chính phủ ban hành). Nghị quyết 12/2011/NQ-HĐND về Quy hoạch cấp nước Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 dự báo nhu cầu dùng nước tới 2030 là hơn 2 triệu m3/ngày đêm. Nhu cầu cấp nước trong dự thảo Quy hoạch Thủ đô và Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô năm 2024 (Thuyết minh Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội do Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn quốc gia – Bộ Xây dựng thực hiện) tăng hơn 1,5 lần (3 triệu m3/ngày đêm) trong khi nước các sông suy giảm cả số lượng và chất lượng.

Đô thị hóa nhanh, nhu cầu cát xây dựng tăng, đáy sông hạ thấp, mùa khô hạn phải dùng bơm dã chiến – phương án bị động và đắt đỏ, nên các vùng sản xuất nông nghiệp đã khoan nước ngầm để tưới tiêu nông nghiệp. Sông cạn dòng dần bị thoái biến, ô nhiễm nước mặt và ô nhiễm theo giếng khoan xuống tầng nước ngầm.

1.2 Nhiễm mặn và ô nhiễm nước mặt và nước ngầm

Bình đồ Hà Nội, Hành lang Xanh. Mực nước sông Hồng chênh lệch hai mùa lũ/cạn
Bình đồ Hà Nội, Hành lang Xanh. Mực nước sông Hồng chênh lệch hai mùa lũ/cạn
Sông Hồng chịu tác động của biến đổi khí hậu và giảm nguồn từ bên ngoài lãnh thổ nên khô hạn ngày càng gia tăng. Khai thác nước ngầm tự phát để sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp nên gia tăng ô nhiễm. Nhiễm độc Asen các nguồn nước ngầm (phân bố trên mặt bằng và dưới tầng sâu).
Sông Hồng chịu tác động của biến đổi khí hậu và giảm nguồn từ bên ngoài lãnh thổ nên khô hạn ngày càng gia tăng. Khai thác nước ngầm tự phát để sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp nên gia tăng ô nhiễm. Nhiễm độc Asen các nguồn nước ngầm (phân bố trên mặt bằng và dưới tầng sâu).
Sông Hồng chảy qua Hà Nội lấy nước từ 5 sông, trong đó có 3/5 sông có lưu lượng giảm dần qua các năm vào mùa khô hạn (Sông Thao, sông Gâm, sông Lô). Việc suy giảm nguồn nước gây ô nhiễm đất và nước, cộng thêm tác động của xả thải nước sản xuất và sinh hoạt, các sông chảy trong địa bàn Hà Nội ô nhiễm gia tăng. Nhiễm mặn ở tầng chứa nước và theo phương ngang (Đông Nam, Hà Nội).
Sông Hồng chảy qua Hà Nội lấy nước từ 5 sông, trong đó có 3/5 sông có lưu lượng giảm dần qua các năm vào mùa khô hạn (Sông Thao, sông Gâm, sông Lô). Việc suy giảm nguồn nước gây ô nhiễm đất và nước, cộng thêm tác động của xả thải nước sản xuất và sinh hoạt, các sông chảy trong địa bàn Hà Nội ô nhiễm gia tăng. Nhiễm mặn ở tầng chứa nước và theo phương ngang (Đông Nam, Hà Nội).
Thiếu nước sạch từ đầu nguồn các dòng sông
Thiếu nước sạch từ đầu nguồn các dòng sông

Có 3 nhà máy lấy nước mặt sông Đà, đó là Nhà máy nước Sông Đà, Xuân Mai, Ba Vì. Dự kiến tới năm 2030, 3 nhà máy tăng công suất gần gấp 4 lần (từ 360.000m3 lên 1.350.000m3/ngày đêm) [3]. Hồ thuỷ điện có dung tích 9,45 tỷ m3, mỗi năm tiếp nhận 45 tỷ m3 nước. Vào mùa khô hạn, thuỷ điện sông Đà phải xả 5 tỷ m3 nước đổ vào sông Hồng để phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Những năm gần đây, nước đổ về hồ giảm dần (năm 2022 giảm 57% so với các năm). Mùa khô năm 2023 lượng nước về hồ giảm còn 5 tỷ m3. Nhà máy nước Sông Đà đã phải lập trạm bơm dã chiến hút nước từ hồ Đầm Bài, có dung tích dự trữ 3 triệu m3, có thể ứng cứu trong 3 ngày để sản xuất 300.000m3 nước sạch/ngày đêm.

Cho đến nay (2024) Nhà máy nước Sông Đà đang phục vụ trong 10 quận, huyện phía Tây Nam Thủ đô gồm: Quốc Oai, Thạch Thất, Hoài Đức, Đan Phượng, Thanh Trì, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Hà Đông, Cầu Giấy, Nam Từ Liêm. Dự kiến tới năm 2030 sẽ tăng công suất các Nhà máy nước lấy nước sông Đà lên gấp 4 lần để có thể phục vụ nhiều dân cư trên nhiều địa bàn hơn nữa, nhưng nếu gặp sự cố cạn nước hoặc ô nhiễm hoặc truyền dẫn cũng tạo ra nguy cơ thiếu nước sạch.

Tổng đương lượng nước sông Hồng – Thái Bình là 100 tỷ m3/năm, nhưng chênh lệch hai mùa lũ cạn rất lớn: vào tháng kiệt nhất còn dưới mức 3 tỷ m3. Mùa khô hạn nhiều năm gần đây, sông Hồng chảy qua Hà Nội cạn nước, lại chảy qua các địa phương đông dân, sản xuất công, nông nghiệp, làng nghề lâu đời… nên nguy cơ ô nhiễm cao.

Hà Nội đầu tư lớn cho việc thu gom và xử lý nước thải - tập trung trong nội đô
Hà Nội đầu tư lớn cho việc thu gom và xử lý nước thải – tập trung trong nội đô

2. Giải pháp đảm bảo cấp nước sạch bền vững cho Hà Nội

Trong 10 năm trở lại đây, Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp nhằm tăng cường cấp nước sạch đồng thời với sử dụng tiết kiệm nước. Nhiều địa phương, đơn vị đã đầu tư lớn cho hệ thống cung cấp nước nhằm đạt mục tiêu thất thoát bé hơn 15%. Bên cạnh đó, cũng đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải, nhằm tăng cường tái sử dụng nước. Hà Nội đã đưa vào vận hành các nhà máy xử lý nước thải để giảm ô nhiễm nước thải độc hại đổ vào hồ: Trúc Bạch, Hồ Tây, Kim Liên, Yên Sở, Bảy Mẫu… Nhiều nơi đã lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời hay dùng thực vật để xử lý nước thải.

Việt Nam cũng tăng cường học hỏi các kinh nghiệm quốc tế để có thể đưa ra những giải pháp mới trong việc tối ưu hóa khai thác sử dụng nước sạch.

Giải pháp mới trong việc khai thác và cung cấp nước sạch Việt nam và quốc tế
Giải pháp mới trong việc khai thác và cung cấp nước sạch Việt nam và quốc tế

2.1 Giải pháp khai thác và cung cấp nước sạch tập trung và phân tán

So sánh giải pháp khai thác, cung cấp nước tập trung sang phân tán cho Hà Nội
So sánh giải pháp khai thác, cung cấp nước tập trung sang phân tán cho Hà Nội

2.2 Giải pháp lưu giữ, tuần hoàn nước: Hành lang Xanh và Thành phố Nước

Chiến lược Hành Lang Xanh đã có trong Quy hoạch chung 1259 công bố cách đây 13 năm (2011-2024). Quy hoạch Thủ đô và Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô lập năm 2024 đã cụ thể hoá nội dung này: gia tăng không gian mặt nước sông hồ sinh thái; cải tạo đê, làm hồ điều hoà, phục hồi phát triển giao thông thuỷ; tạo ra các hành lang xanh, nêm xanh, rừng, dải cây, công viên xanh; nông nghiệp sinh thái… đảm bảo sự cân bằng bền vững, mối quan hệ hữu cơ giữa đất và nước, đất phải có đủ nước và nước phải đủ sạch thì mới tạo ra Hành Lang Xanh.

So sánh 2 giải pháp định hướng phát triển và phân vùng kiểm soát Hành Lang Xanh trong Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô 2024 với nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Tuyên
So sánh 2 giải pháp định hướng phát triển và phân vùng kiểm soát Hành Lang Xanh trong Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô 2024 với nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Tuyên
Phát triển đô thị Nước thay cho đô thị Đất. Những bản Quy hoạch do tư vấn Hà Lan để xuất từ năm 1998, thể hiện trong bản đồ Quy hoạch Sử dụng đất huyện Đông Anh 2004 và tiếp tục được Haskoning (Hà Lan) nghiên cứu đề xuất năm 2023 cho đô thị Bắc Sông Hồng
Phát triển đô thị Nước thay cho đô thị Đất. Những bản Quy hoạch do tư vấn Hà Lan để xuất từ năm 1998, thể hiện trong bản đồ Quy hoạch Sử dụng đất huyện Đông Anh 2004 và tiếp tục được Haskoning (Hà Lan) nghiên cứu đề xuất năm 2023 cho đô thị Bắc Sông Hồng

Nhiều nghiên cứu độc lập đã đề xuất mô hình Thành phố Nước Hà Nội, trong đó các đô thị đan xen với mặt nước. Sống chung với nước thì nước phải sạch, nước sạch thì nuôi đô thị khoẻ mạnh, do vậy các cư dân sống trong đô thị nước tự phải chịu trách nhiệm bảo vệ nguồn nước sạch và quản lý, xử lý nước thải chặt chẽ. Mỗi khu dân cư, đô thị trở thành đơn vị tự chủ tài nguyên nước của mình. Các khu dân cư đô thị tự chủ sinh thái liên kết với nhau trở thành đô thị sinh thái để cả Hà Nội trở thành Thành phố Nước.

Tập đoàn tư vấn Haskoning (Hà Lan) đã nghiên cứu các khu dân cư Bắc sông Hồng hình thành và phát triển từ những mạch nối quấn quýt của dòng nước dẫn từ sông Hồng vào các nhánh nhỏ đến kênh mương, đường xá. Từ đó đề xuất tái tạo những khu dân cư, đô thị mới nổi trên mặt nước, đan dệt giữa đất/nước, nhằm hướng tới một thành phố thân thiện với nước.

2.3 Giải pháp tích hợp đa ngành để quản lý, khai thác tài nguyên nước

Lồng ghép, tích hợp đa ngành trong quản lý, khai thác tài nguyên nước với các mục tiêu phát triển đô thị và giao thông đô thị. Trong giao thông đô thị cũng tích hợp đồng bộ hệ thống với nhiều loại hình phương tiện: đường sắt, đường bộ (cơ giới và phi cơ giới, đi bộ), đường thủy. Khai thác không gian đa chiều: trên cao, mặt đất, trên không và các tầng sâu dưới mặt đất. Kết hợp giao thông động và tĩnh, giao thông với kiên cố hóa đê điều, cũng là tạo ra không gian chứa nước an toàn.

Ứng dụng các công nghệ cao trong giám sát đánh giá môi trường không khí đất và nước kết hợp với phát triển hệ sinh thái cây xanh mặt nước, vừa tái tạo chất lượng nước vừa nâng cấp cảnh quan đô thị. Gia tăng cơ hội phát triển nông thủy sản với gia tăng giá trị bất động sản.
Ứng dụng các công nghệ cao trong giám sát đánh giá môi trường không khí đất và nước kết hợp với phát triển hệ sinh thái cây xanh mặt nước, vừa tái tạo chất lượng nước vừa nâng cấp cảnh quan đô thị. Gia tăng cơ hội phát triển nông thủy sản với gia tăng giá trị bất động sản.

2.4 Lồng ghép bảo vệ tài nguyên nước với thích ứng biến đổi khí hậu

Tháng 5/2024, Hà Nội phát động cuộc thi tuyển ý tưởng quy hoạch công viên khu vực ven sông và bãi giữa sông Hồng. Mục tiêu là xây dựng đề án phát triển bãi nổi giữa và ven sông Hồng thành công viên văn hóa đa chức năng, xứng tầm tại khu vực. Cùng thời gian, Hà Nội trình các cấp quản lý đồ án Quy hoạch Thủ đô và Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô. Cuộc thi thu hút nhiều cá nhân, tổ chức tham gia, trong đó có nhóm thầy và trò khoa Kiến trúc Quy hoạch (trường Đại học Xây dựng Hà Nội), nhóm Think Playground và các KTS thuộc Hội KTS Hà Nội. Phương án dự thi đặt ra mục tiêu lồng ghép bảo vệ tài nguyên nước với thích ứng biến đổi khí hậu. Tăng cường không gian công viên công cộng cho Hà Nội nhưng tuân thủ luật Đê điều và các giải pháp linh hoạt nhằm thích ứng với sự thay đổi của mực nước sông Hồng hai màu lũ cạn cũng như những thách thức mới do biến đổi khí hậu toàn cầu tác động.

Trả lại không gian sông cho nước sông Hồng, loại bỏ các vi phạm Luật Đê điều. Cải thiện chất lượng sinh thái ven sông và nâng cao chất lượng cảnh quan đô thị.
Trả lại không gian sông cho nước sông Hồng, loại bỏ các vi phạm Luật Đê điều. Cải thiện chất lượng sinh thái ven sông và nâng cao chất lượng cảnh quan đô thị.

Tháng 9/2024, cơn bão số 3 tràn qua Hà Nội, nước sông Hồng lên cao nhấn chìm bãi nổi bãi giữa. Sân chơi, vườn cây do các KTS tình nguyện Hà Nội cùng cộng đồng ngập trong nước lũ, sau một ngày nước rút, cộng đồng và các tình nguyện viên đã dọn dẹp và hoạt động trở lại bình thường.

Các KTS tình nguyện Hội KTS Hà Nội đã có những khảo sát, nghiên cứu và tiến hành các hoạt động cải thiện môi trường tại bờ vở, bãi Giữa sông Hồng từ những năm 2010. Nhưng với sự vào cuộc của nhóm nghệ sĩ do họa sĩ Nguyễn Thế Sơn tập hợp, tiến hành dự án Nghệ thuật cộng đồng Phức Tân (với sự hỗ trợ của UBND quận Hoàn Kiếm, triển khai năm 2019-2021 đã từng bước cải thiện cảnh quan nơi chốn. Đặc biệt là nhóm Think Playground với Sân chơi công cộng Phúc Tân, Công viên rừng Chương Dương (năm 2022-2025) thì những lời giải cải thiện nâng cấp môi trường đô thị thực sự thuyết phục. Những dự án nghệ thuật và phát triển không gian công cộng cộng đồng đã cho thấy khả năng thích ứng với các thách thức nhiều mặt, có thể mở rộng mô hình ở quy mô lớn hơn, không chỉ trong lòng sông mà cả vùng đất thuộc lưu vực sông Hồng và các chi lưu. Từng bước hiện thực hóa các giải pháp nhằm phục hồi hệ sinh thái tự nhiên – đảm bảo nguồn tài nguyên nước sạch bền vững cho Hà Nội.

Trần Huy Ánh – Ủy viên thường vụ Hội KTS Hà Nội
© Tạp chí Kiến trúc


Chú dẫn
[1] Quyết định 1622/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
[2] Nghị quyết 12/2011/NQ-HĐND về Quy hoạch cấp nước Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
[3] Thuyết minh Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội do Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn quốc gia – Bộ Xây dựng thực hiện