Khả năng ứng dụng công nghệ y tế hiện đại trong các bệnh viện tại Việt Nam

Những năm gần đây có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập của các đồ án thiết kế bệnh viện (BV) tại Việt Nam, trong khi các chủ đầu tư luôn mong muốn bệnh viện được thiết kế hợp chuẩn JCI. Một trong những bất cập nổi cộm đó chính là việc kiến trúc BV chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu ứng dụng công nghệ y tế (CNYT) hiện đại.

Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội và quản trị

Không gian kiến trúc BV chịu ảnh hưởng nhất định của điều kiện tự nhiên, khí hậu nhưng chủ yếu là đối với Khu điều trị nội trú, hành chính quản trị và dịch vụ. Các khu chức năng tập trung hàm lượng công nghệ hiện đại cao nhất như Khu kỹ thuật nghiệp vụ – cận lâm sàng, khu vực nghiệp vụ của các đơn vị chức năng (ĐVCN), các khu vực kỹ thuật phụ trợ… ít chịu tác động của các điều kiện tự nhiên do yêu cầu đặc thù cần kiểm soát các điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, cách ly… nên môi trường vi khí hậu cần phải được tổ chức theo dạng bán nhân tạo hoặc nhân tạo hoàn toàn.

Về điều kiện kinh tế, khoảng hơn 10 năm gần đây, đã có nhiều chính sách tập trung đầu tư cho BV. Đặc biệt, các chính sách mở về giải pháp huy động vốn đầu tư xây dựng (mô hình cổ phần hóa, hợp tác công tư, xã hội hóa,..) và giải pháp bổ sung, hoàn thiện, nâng cấp hệ thống trang thiết bị y tế (TTBYT) như tự chủ tài chính, liên kết… đã cho phép các BV ứng dụng mạnh mẽ CNYT hiện đại.

Do đặc thù văn hóa của người Việt Nam, hầu hết các bệnh nhân đều phải có thân nhân đi kèm để chăm sóc nên cần xác lập các không gian và chỉ tiêu diện tích dành cho các đối tượng này một cách phù hợp ở tất cả các ĐVCN trong BV hiện đại, đặc biệt là không gian đợi tại các khu khám, cận lâm sàng.

Hiện nay, nhu cầu khám bệnh của nhân dân liên tục gia tăng do ý thức chủ động tầm soát các vấn đề về sức khỏe ngày càng được nâng cao. BV hiện đại vì vậy sẽ ngày càng phải tập trung đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng khám bệnh chuyên sâu, đặc biệt là đối với Khu kỹ thuật nghiệp vụ – cận lâm sàng và Khu điều trị nội trú. Giai đoạn 2020-2030, CNYT của Việt Nam được dự báo sẽ đạt trình độ phát triển ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực. Điều kiện kinh tế phát triển hơn sẽ cho phép tiếp tục đầu tư xây dựng các BV hiện đại được ứng dụng những công nghệ khám chữa bệnh tiên tiến. Mô hình quản lý kinh tế trong các BV công sẽ tiếp tục thay đổi theo hướng phù hợp với quy luật cung – cầu. Khả năng chi trả cho phép bệnh nhân có điều kiện lựa chọn các dịch vụ khám chữa bệnh theo nhu cầu. Điều đó đòi hỏi các BV phải phát triển hơn nữa theo chiều sâu, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và dịch vụ, trong đó điều kiện cần là tổ chức không gian kiến trúc đáp ứng các yêu cầu của CNYT hiện đại.

Điều kiện CNYT và kỹ thuật hiện đại

Hiện nay, điều kiện về công nghệ khám chữa bệnh hiện đại trong các BV đã sẵn sàng, nhiều BV đang liên tục cập nhật, áp dụng các quy trình, công nghệ, kỹ thuật, phương pháp và liệu trình mới nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút bệnh nhân

Tại khoa Khám, quy trình khám đã định danh 2 nhóm khám lần đầu và nhóm tái khám. Cơ cấu các phòng khám cũng có sự thay đổi. Các phòng khám truyền nhiễm, lao, HIV phải được chuyển về bố trí tại Khoa truyền nhiễm nhằm hạn chế lây nhiễm chéo. Ngược lại, không gian đón tiếp, đợi khám, thủ tục, thanh toán… cần phải được tính toán đủ và bố trí phù hợp. Bệnh nhân ngày nay đều có nhu cầu tăng thêm diện tích khu vực đợi khám và sẵn sàng chi trả để giảm thời gian đợi cũng như để được đợi khám tại các không gian nhỏ, bố trí phân tán về các cụm phòng khám. Ngoài ra, các công nghệ can thiệp xâm lấn tối thiểu đã cho phép áp dụng mô hình “Đơn vị điều trị trong ngày” và kiến trúc BV hiện đại cần lưu ý về ĐVCN này.

Tại khoa Cấp cứu, quy trình “Cấp cứu tối khẩn cấp” cho phép bác sĩ bỏ qua các giai đoạn như hội chẩn, xét nghiệm, siêu âm, chẩn đoán hình ảnh… thường quy và chuyển thẳng bệnh nhân lên ngay phòng mổ, áp dụng cho những trường hợp cấp cứu cần can thiệp ngoại khoa khẩn cấp mới có thể cứu sống được người bệnh. Quy trình này đòi hỏi: Phân luồng giao thông trực tuyến từ Khoa cấp cứu đến Khoa phẫu thuật – gây mê hồi sức; khả năng hồi sức tích cực trên đường vận chuyển bệnh nhân đến phòng mổ; khả năng huy động sự tham gia nhanh chóng và đồng bộ của nhiều ĐVCN như khoa ngoại, gây mê hồi sức, xét nghiệm, huyết học truyền máu, chẩn đoán hình ảnh di động. Bên cạnh đó, không gian đợi dành cho thân nhân ở Khoa cấp cứu cần được tính toán đảm bảo đủ diện tích bởi đây cũng là một trong những khu vực dự phòng để bố trí triển khai giải quyết các vấn đề thuộc y học thảm họa.

Khoa phẫu thuật gây mê hồi sức cần đáp ứng được các nhu cầu về đại phẫu, ghép tạng, mổ robot hoặc vi phẫu với sự hỗ trợ của kính hiển vi quang điện tử, Peri-Operative MRI, C-arm, Telemedicine để các BV TW hỗ trợ kỹ thuật cao cho BV tuyến dưới… yêu cầu bố trí các không gian điều khiển ngay bên trong phòng mổ [1], [2], [4].

Khoa chẩn đoán hình ảnh trong BV hiện đại là rất quan trọng vì hầu hết các bệnh lý đều cần được chẩn đoán hoặc hỗ trợ chẩn đoán bằng công nghệ ảnh y tế. Tuy các hệ thống thiết bị chẩn đoán hình ảnh ngày càng nhỏ gọn, linh hoạt và tự động hóa cao hơn nhưng số lượng thiết bị ngày càng nhiều và một số thiết bị mới yêu cầu diện tích lớn hơn, mức độ an toàn bức xạ và chống can nhiễu cao hơn như MRI công suất cao, CT scanner sử dụng công nghệ tái tạo lặp. Do đó, số lượng các phòng chức năng trong Khoa chẩn đoán hình ảnh cần bố trí đủ, không gian chờ cần được bố trí có diện tích lớn hơn đồng thời phải tính đến không gian chờ dành cho thân nhân.

Đối với các khoa xét nghiệm, những năm gần đây, nhu cầu làm xét nghiệm không chỉ của bệnh nhân mà còn của những người khỏe mạnh nhằm tầm soát bệnh sớm [3]. Quy trình xét nghiệm hiện đại bố trí lấy mẫu bệnh phẩm phân tán mà không yêu cầu bệnh nhân đến khu lấy mẫu tập trung, cũng không đòi hỏi bệnh nhân phải ở lại chờ nhận kết quả, việc này làm cho mối quan hệ liên tác giữa các labo xét nghiệm với các khoa có những thay đổi về bản chất. Các labo xét nghiệm hiện đại tích hợp hoàn chỉnh dạng block, cho phép modul hóa như labo kỹ thuật enzym phân tử, hệ thống thiết bị phân tích tự động. Hệ thống vận chuyển mẫu 2 chiều tự động bằng khí nén (mẫu, thuốc, máu…) giúp vừa giảm chỉ tiêu diện tích, vừa cho phép bố trí các phòng lấy mẫu phân tán [5]. Các block máy xét nghiệm thế hệ mới yêu cầu không gian kiến trúc phải thoáng, linh hoạt.

ICU được tổ chức thành 1 đơn vị tập trung và đưa vào Khu kỹ thuật nghiệp vụ với quan điểm đáp ứng các yêu cầu của bệnh nhân nội trú là chính. Khu vực hồi sức tập trung được bố trí không gian lớn nhưng khu vực hồi sức đặc biệt cần có các phòng kiểm soát bệnh nhân cách ly. Hệ thống giám sát trung tâm multimedia với các cảnh báo tự động cho phép y bác sỹ trực có thể từ một vị trí bao quát đồng thời toàn bộ các lô bệnh hồi sức tập trung cũng như các phòng hồi sức đặc biệt, hệ thống panel thả trần cho phép bố trí giường hồi sức một cách linh hoạt… đều tác động đến không gian kiến trúc Khoa.

Tại Khoa Truyền nhiễm, phải đặc biệt lưu ý nhóm bệnh lý truyền nhiễm theo đường không khí để từ đó kiến tạo các không gian phù hợp. Nhóm bệnh này cần được kiểm soát nghiêm ngặt nhất ngay từ tổ chức không gian kiến trúc, bố trí các phòng air-locker áp lực âm, kết hợp với sử dụng các biện pháp khử khuẩn không khí. Các kỹ thuật lọc, diệt khuẩn, khử trùng không khí và cô lập các không gian có nguy cơ lây nhiễm cao để hợp khối các ĐVCN.

Đối với các khoa nội trú, cơ cấu giường bệnh trong phòng nội trú cần đáp ứng tốt nhất các yêu cầu nâng cao hiệu quả của công tác điều trị. Số lượng bệnh nhân trong 1 phòng điều trị nội trú càng nhiều thì càng bất lợi về tâm sinh lý (trừ khoa lão khoa), giảm mức độ tiện nghi, giảm hiệu quả điều trị, gia tăng nguy cơ lây nhiễm chéo.

Về công nghệ xây dựng, khả năng vượt nhịp lớn của kết cấu cùng các giải pháp vách ngăn nhẹ cho phép tổ chức không gian kiến trúc một cách linh hoạt. Các hệ thống cấp khí sạch, thông gió cưỡng bức, đã cho phép hợp khối các ĐVCN chặt chẽ. Khả năng cung cấp không gián đoạn đa nguồn điện, đảm bảo các hệ thống thiết bị vận chuyển hiện đại vận hành với độ tin cậy cao, cho phép bố trí các ĐVCN có bệnh nhân nặng lên tầng cao và loại bỏ một số thành phần kiến trúc không còn phù hợp (ví dụ như đường dốc đẩy cáng bệnh nhân).

Kinh nghiệm của một số BV ở nước ngoài

Tại nhiều nước phát triển, các BV quy mô lớn đều tổ chức không gian kiến trúc theo hướng tinh gọn, hợp khối, cao tầng nhằm giảm khoảng cách di chuyển, gia tăng sự thuận tiện về giao thông; nâng cao hiệu quả sử dụng của các hệ thống như điều hòa không khí, cấp khí sạch, diệt khuẩn… Không gian của các ĐVCN đều được bố trí độc lập, khép kín nhằm kiểm soát việc phân luồng, cách ly, hạn chế lây nhiễm chéo và đảm bảo điều kiện vi khí hậu nhân tạo. Không gian kỹ thuật nghiệp vụ trong BV được chiếu sáng và thông gió nhân tạo trong khi khu nội trú vẫn đảm bảo thông gió và chiếu sáng tự nhiên.
Giải pháp tổ chức không gian kiến trúc của các ĐVCN trong BV đều đảm bảo tính linh hoạt cao với hệ kết cấu có khẩu độ, bước cột lớn. Không gian hành chính các khoa thường được bố trí theo kiểu block văn phòng. Sử dụng tầng hầm để cung cấp hạ tầng dịch vụ và phụ trợ.

Bên cạnh đó, các BV cũng được đầu tư trang bị các TTBYT hiện đại đáp ứng tốt các yêu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân như trung tâm xét nghiệm tự động, hệ thống vận chuyển bằng khí nén, hệ thống tiệt trùng trung tâm, hạ tầng y tế tích hợp, Telemedicine phục vụ hội chẩn từ xa, giải pháp số hóa và lưu trữ hình ảnh… đã đáp ứng tốt các yêu cầu của công nghệ khám chữa bệnh hiện đại.

Thay lời kết

Như vậy có thể nhận thấy, các điều kiện để ứng dụng CNYT hiện đại trong các BV ở Việt Nam cơ bản đã chín muồi. Đây vừa là yêu cầu, thách thức nhưng cũng vừa là động lực, đòi hỏi kiến trúc BV phải có những chuyển hoá mạnh mẽ để phù hợp với các quy trình công nghệ khám chữa bệnh mới và hệ thống các TTBYT hiện đại, đã và đang được triển khai ngày càng phổ biến tại Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh điều kiện “cần” là giải pháp tổ chức không gian kiến trúc, các BV cũng cần đặc biệt quan tâm đến việc triển khai áp dụng các giải pháp quản trị hiện đại bởi đây chính là điều kiện “đủ” để có thể ứng dụng các CNYT hiện đại một cách bền vững.

*TS. KTS Hà Quang Hùng

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 04-2020)

–––––––––––––––––––––––––––––––––––

Tài liệu tham khảo:

  1. American Society of Anesthesiologists (2013), Operating Room Design Manual, http://www.asahq.org
  2. Da Vinci Si System (2013), Full da Vinci Si HD Surgical System – Dual Console, http://www.davincisurgery.com/
  3. Digital Radiology Solutions (2013), PACS dicom online view and storage system (http://www.xraychicago.com), Chicago, USA.
  4. James Perry and Allan Katz (2013), Planning a hybrid operating room, Health Facilities Management http://www.hfmmagazine.com
  5. Swisslog (2013), Pneumatic Tube Systems, http://www.swisslog.com