Vài suy nghĩ về điều chỉnh quy hoạch thành phố Huế trong thời kỳ mới

Huế đang đứng trước một bước ngoặt hiếm có trong lịch sử phát triển đô thị của mình: Từ năm 2025, Huế trở thành thành phố (TP) trực thuộc Trung ương. Một thay đổi về địa vị hành chính thường được hiểu như sự mở rộng thẩm quyền quản lý, nhưng với Huế, ý nghĩa sâu xa hơn nằm ở chỗ: TP buộc phải xác lập một mô hình phát triển mới, đủ khác biệt và đủ bền vững, để không hòa lẫn trong “cuộc đua” đô thị hóa đang diễn ra ở khắp nơi. Và ở đây, Huế có một lợi thế mà không nhiều đô thị sở hữu: Một hệ thống di sản văn hóa – thiên nhiên – cảnh quan mang giá trị nổi bật, là nền tảng cho con đường phát triển dựa trên bản sắc.

Chính vì vậy, việc điều chỉnh quy hoạch trong giai đoạn này không chỉ là một thao tác kỹ thuật nhằm cập nhật chỉ tiêu hay phân bổ lại quỹ đất. Đó là một quyết định chiến lược: Huế sẽ tăng trưởng bằng cách nào, giữ gìn cái gì, và đặt giới hạn phát triển ở đâu để “phát triển không đánh đổi”? – Nếu đặt trong bối cảnh mới, điều chỉnh quy hoạch lần này là cần thiết và kịp thời, bởi đô thị trực thuộc Trung ương không thể tiếp tục vận hành bằng tư duy phát triển cũ: Dựa vào việc mở rộng không gian xây dựng, gia tăng mật độ cơ học, hay chạy theo những mô hình tăng trưởng ngắn hạn. Huế cần một trục phát triển khác: Chất lượng, sáng tạo, dịch vụ giá trị cao và kinh tế di sản.

Trung tâm đô thị Huế. Ảnh: Lê Đình Hoàng

Tuy nhiên, một quy hoạch tốt cho Huế không thể chỉ dừng ở việc xác nhận “di sản là nguồn lực”. Điều quan trọng hơn là làm rõ cơ chế để bảo vệ nguồn lực ấy trước các áp lực dự án, trước những xung đột vốn là “mâu thuẫn cấu trúc” của Huế: Phát triển đô thị – hạ tầng – nhà cao tầng đối diện yêu cầu bảo tồn không gian lịch sử và giới hạn chiều cao; mở rộng dịch vụ du lịch đối diện nguy cơ quá tải lõi di sản; phát triển ven sông, ven phá đối diện bài toán san lấp, bê tông hóa bờ nước và suy giảm hệ sinh thái.

Kinh thành Huế ở phía Bắc sông Hương là khu vực được bảo tồn nghiêm ngặt

Nói cách khác, điều Huế cần nhất lúc này là chuyển từ “tuyên ngôn định hướng” sang “công cụ kiểm soát phát triển”. Với một đô thị di sản, sự thuyết phục của quy hoạch không nằm ở những câu chữ đầy mỹ cảm, mà nằm ở khả năng “khóa” được không gian di sản bằng ranh giới, chỉ tiêu, hành lang và cơ chế đánh giá bắt buộc. Nếu không có những công cụ ấy, di sản sẽ luôn ở trạng thái bị động: Chỉ kịp phản ứng khi dự án đã hình thành, khi cảnh quan đã bị cắt xẻ, khi tầm nhìn đã bị che khuất, hoặc khi mối quan hệ hài hòa giữa kiến trúc – mặt nước – cây xanh đã bị thay đổi không thể đảo ngược.

Vì vậy, trọng tâm lớn nhất của điều chỉnh quy hoạch phải là làm sắc nét cấu trúc không gian di sản theo mô hình đa lớp: lõi lịch sử, vùng đệm, vùng cảnh quan và hành lang nhìn. Huế không chỉ có các điểm di tích rời rạc. Huế là một “hệ sinh thái di sản”, trong đó Kinh thành – lăng tẩm – chùa chiền – làng cổ – sông Hương – núi Ngự tạo thành một tổng thể có tính toàn vẹn. Khi tổng thể ấy bị phá vỡ bởi những điểm nhấn kiến trúc thiếu kiểm soát, bởi sự lấn át của bê tông, hay bởi các dự án không tôn trọng tầm nhìn cảnh quan, giá trị di sản sẽ suy giảm ngay cả khi từng di tích vẫn còn đó. Do vậy, quy hoạch phải nói rõ: Vùng nào là vùng nhạy cảm di sản, cần kiểm soát tầng cao, mật độ và hình khối đến mức nào; vùng nào là vùng chuyển tiếp; vùng nào là vùng phát triển. Đây là “ngôn ngữ” bắt buộc của quy hoạch đô thị di sản, không thể thay bằng sự “linh hoạt” chung chung.

Cùng với cấu trúc đa lớp, Huế cần một bảng chỉ tiêu kiểm soát phát triển theo vành đai – một bảng rõ ràng về tầng cao tối đa, hệ số sử dụng đất, khoảng lùi, skyline và các nguyên tắc kiến trúc – cảnh quan khuyến nghị. Những con số cụ thể, nghe có vẻ khô khan, nhưng lại chính là “thanh chắn” bảo vệ di sản. Không có bảng này, mọi mục tiêu bảo tồn sẽ dễ bị bào mòn bởi các ngoại lệ, bởi những lý do “đặc thù dự án”, và cuối cùng dẫn đến tình trạng phát triển chắp vá, làm mất dần sự cân xứng của không gian đô thị lịch sử.

Một yêu cầu khác cần được đưa vào như điều kiện tiền kiểm: Đánh giá tác động di sản đối với các dự án lớn trong vùng ảnh hưởng di sản. Đây không phải là một khái niệm xa lạ với thế giới, mà là thực hành phổ biến trong quản trị di sản hiện đại. Đô thị trực thuộc Trung ương càng phải tiên phong thiết lập chuẩn mực này, bởi Huế đang mang trong mình những giá trị vượt khỏi phạm vi địa phương: Đó là di sản của quốc gia và là một phần di sản chung của nhân loại.

Nhưng bảo tồn di sản không chỉ là bảo vệ “di tích hữu hình”. Huế sống được bằng di sản vì di sản ở đây là “di sản sống”: Lễ hội, âm nhạc, nghề truyền thống, ẩm thực, lối sống đô thị và văn hóa cộng đồng… Nếu quy hoạch chỉ tập trung vào các vùng bảo vệ công trình, mà bỏ quên không gian thực hành di sản, Huế sẽ rơi vào nguy cơ “bảo tồn hóa thạch”: Di sản đứng yên, còn đời sống văn hóa thì rời khỏi không gian di sản. Vì vậy, quy hoạch cần xác lập hệ thống không gian di sản sống: Tuyến phố văn hóa, phố nghề, chợ truyền thống, không gian lễ hội cộng đồng, các tuyến đi bộ di sản… để vừa bảo vệ bản sắc vừa tạo sinh kế, tạo năng lượng văn hóa cho đô thị.

Hoàng cung Huế. Ảnh: Bảo Minh

Ở chiều di sản thiên nhiên và cảnh quan, Huế càng cần một cách tiếp cận chặt chẽ hơn. Không gian sông Hương, đầm phá, ven biển, rừng và các vùng ngập nước phải được nhìn như “hạ tầng xanh” của thành phố, chứ không chỉ là tài nguyên môi trường. Khi được nhìn như hạ tầng xanh, những hành lang sinh thái – hành lang nước sẽ trở thành cấu phần bắt buộc của cấu trúc đô thị: Giúp điều hòa khí hậu, giảm ngập, tăng sức chống chịu thiên tai, đồng thời giữ gìn vẻ đẹp cảnh quan – vốn là một phần của giá trị di sản. Vì thế, cần kiểm soát nghiêm san lấp mặt nước, hạn chế bê tông hóa bờ sông/bờ phá, và dành không gian thấm nước đủ lớn theo tinh thần “thành phố bọt biển” để thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đền thờ Công chúa Huyền Trân và vua Trần Nhân Tông ở phía Tây Nam Huế

Điều chỉnh quy hoạch của Huế càng đáng chú ý hơn khi đặt trong bối cảnh quốc gia đang thúc đẩy mạnh mẽ phát triển văn hóa như một động lực tăng trưởng. Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045; đồng thời, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 mở ra một khung chính sách và nguồn lực mới, khẳng định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là ngành kinh tế có thể tạo ra việc làm, giá trị gia tăng, và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh ấy, Huế – với lợi thế di sản – nếu có một quy hoạch đúng, sẽ có cơ hội trở thành mô hình tiêu biểu: phát triển công nghiệp văn hóa trên nền tảng di sản, kết nối bảo tồn với sáng tạo, đưa văn hóa thành động lực của kinh tế xanh và du lịch bền vững.

Cầu vượt biển Thuận An mới được xây dựng
khu vực đầm phá Tam Giang ven biển Thuận An. Ảnh: Võ Thạnh

Nhưng để biến cơ hội thành hiện thực, điều chỉnh quy hoạch phải làm rõ lộ trình và công cụ triển khai trong giai đoạn 2026-2030: Giảm tải lõi di sản bằng giao thông xanh và hạ tầng trung chuyển; xây dựng các thiết chế văn hóa và không gian diễn giải di sản; phát triển các cụm sáng tạo gắn với thiết kế, trình diễn, thủ công, ẩm thực, phim ảnh; số hóa quản trị di sản bằng cơ sở dữ liệu GIS di sản – cảnh quan – dự án đầu tư; và đặc biệt thiết lập một cơ chế điều phối liên ngành đủ thẩm quyền cho không gian di sản – cảnh quan.

Cầu Nguyễn Hoàng bắc qua sông Hương
Ảnh: Bảo Minh
Trục cảnh quan sông Hương về đêm

Một quy hoạch đô thị di sản, suy cho cùng, không phải để “vẽ ra” thật nhiều dự án. Nó là bản cam kết về giới hạn và chuẩn mực phát triển, để Huế lớn lên mà không đánh mất mình. Điều chỉnh quy hoạch lần này là cơ hội để Huế nói rõ với tương lai: Thành phố trực thuộc Trung ương không nhất thiết phải cao tầng hơn, đông đặc hơn; Huế có thể hiện đại theo cách riêng, bằng tri thức, bằng sáng tạo, bằng kinh tế di sản, bằng công nghiệp văn hóa, và bằng một hệ thống cảnh quan – môi trường được bảo vệ như tài sản quý nhất. Khi văn hóa đã được đặt vào trung tâm chiến lược phát triển quốc gia, Huế càng có đủ lý do để chọn con đường ấy một cách tự tin và nhất quán: Phát triển bền vững dựa trên nền tảng văn hóa – di sản, cho trước mắt và cho lâu dài.

TS. Phan Thanh Hải
*Giám đốc Sở Văn hoá Thể thao TP Huế
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 04-2026)