Khai thác đặc điểm văn hoá truyền thống trong sáng tác kiến trúc hướng tới hội nhập quốc tế

Quá trình hội nhập quốc tế mang tới cho các đô thị Việt Nam nhiều điều mới mẻ, môi trường hành nghề có sự tham gia của nhiều KTS đến từ các nước phát triển và các quốc gia trong khu vực. Các công trình kiến trúc mới mọc lên tại các đô thị như Hà Nội hoặc TP HCM do các KTS nước ngoài thiết kế có phong cách khá mới lạ, có thể dễ nhận ra bởi tính đột phá và hiện đại của nó. Nhiều công trình trong số đó có chất lượng tốt và được chọn trao giải trong Giải thưởng Kiến trúc quốc gia. Song, đằng sau những thành công của những tác phẩm đó, chúng ta nhận ra nhiều thách thức cho tương lai phát triển của nền kiến trúc Việt Nam hiện đại – Khi bản thân những người làm Kiến trúc Việt Nam còn nhiều băn khoăn với những câu hỏi: Trước bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực, nền kiến trúc Việt Nam trong tương lai sẽ như thế nào? Bản sắc văn hoá cần được bảo tồn, phát triển và nâng cao giá trị ra sao trong sáng tác Kiến trúc.

Gian hàng Việt Nam tại triễn lãm Expro Thượng Hải năm 2010 Công ty TNHH Võ Trọng Nghĩa

Kiến trúc Việt Nam trong thời kỳ tới sẽ là một nền kiến trúc “mở” trên nhiều khía cạnh.
Đầu tiên là phải “mở” về tư tưởng cho tư duy sáng tạo kiến trúc. Nên chấp nhận tất cả các tư tưởng thậm chí trái ngược nhau trong kiến trúc. Thông qua sự sáng tạo của mỗi cá nhân, các giá trị tư tưởng, quan niệm về tính hiện đại, tính truyền thống nhìn từ góc độ của mỗi cá nhân sẽ được truyền tải vào công trình kiến trúc ở hình thức, công năng, các chi tiết… Không nên bó khuôn các khái niệm “hiện đại”, “dân tộc” một cách quá cụ thể – Bởi trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, các khái niệm đó khó có thể tồn tại một cách quá rành mạch. Mặt khác, các luồng tư tưởng khác nhau sẽ đem lại cá tính cho công trình.

Yếu tố “mở” về kỹ thuật hướng các công trình kiến trúc Việt Nam đến những tiến bộ khoa học: Các loại vật liệu áp dụng khoa học công nghệ với nhiều tính năng ưu việt như bền, nhẹ, thông minh và thân thiện với môi trường sẽ là sự lựa chọn đúng đắn cho kiến trúc Việt Nam trong thời gian tới. Những loại vật liệu mới sẽ đem lại hình dáng hoàn toàn khác cho các công trình kiến trúc. Dù điều kiện kinh tế có hạn chế nhưng chắc chắn loại vật liệu có hại cho môi trường không thể được sử dụng bởi hậu quả của nó gây ra là quá to lớn.

Độ ”mở” về không gian kiến trúc tạo cho các công trình kiến trúc sự năng động mới mẻ. Sự năng động và thực dụng của cơ chế thị trường làm cho nhu cầu sử dụng của con người biến đổi nhanh chóng. Các thiết bị máy móc mới ra đời làm cho dây chuyền công năng trong công trình kiến trúc được giản tiện rất nhiều. Không gian kiến trúc không cần phải bố trí một cách cứng nhắc theo những dây chuyền cụ thể nữa mà cần linh hoạt để đáp ứng nhu cầu sử dụng luôn biến đổi. Một không gian mở và không gò bó, khai thác tốt nhất địa hình và yếu tố khí hậu, địa điểm sẽ là giải pháp phù hợp hiện nay.
Tính dân tộc và bản sắc địa phương trong kiến trúc

Tính dân tộc và bản sắc văn hoá địa phương trong kiến trúc được xem như­ là một đề tài khó nói, mang lại nhiều tranh cãi. Thực chất, sự kế thừa cách xử lý không gian kiến trúc truyền thống, sự chắt lọc những kinh nghiệm tích luỹ trong quá khứ của địa phương về những ứng xử với môi trường, khí hậu, cách tiếp cận với những quan hệ xã hội nhân văn có tính đặc thù… chính là các yếu tố góp phần tạo dựng bản sắc văn hoá địa phương, bản sắc văn hoá dân tộc (hay tính bản địa). Khi ấy, kiến trúc thực sự chứa đựng trong nó các yếu tố văn hoá dân tộc, địa phương – hiện đại. Các yếu tố địa lý, cảnh quan địa điểm, các đặc trưng bản địa của sinh thái tự nhiên, nhân văn, các giá trị văn hoá lịch sử của từng vùng miền (dù là những đại lượng hay yếu tố vi l­ượng) đều không thể thiếu trong việc tạo lập tư­ tư­ởng của kiến trúc Việt.

Cần phân tích một cách có hệ thống và tổng hợp nguồn gốc các biểu hiện của tính bản địa trong kiến trúc, dựa trên những cơ sở khoa học và biện chứng. Bản địa không phải là sự lặp lại mà là sự sáng tạo trong hoàn cảnh lịch sử mới. Những gì đã từng là đặc trư­ng, tạo nên bản sắc của các nền kiến trúc trong các thời đại lịch sử không thể đem lại bản sắc cho thời kỳ đương đại. Chúng cần được kế thừa hợp lý, tìm chỗ đứng của mình trong cuộc sống và thẩm mỹ hôm nay. Sự kết hợp giữa bản sắc văn hoá địa phương với các xu thế khoa học công nghệ là một kết quả tất yếu trong quá trình phát triển. Điều này cũng là một nhân tố làm cho bản sắc địa phương ngày càng phong phú và đậm nét. Và, hơn hết chúng ta cần nhận thức rõ ràng: Yếu tố văn hoá bản địa không phải là một khái niệm “tĩnh” bất biến để khai thác mà bản thân nó có một quá trình vận động và biến đổi.

Một công trình kiến trúc có bản sắc văn hoá địa phương, nếu biểu hiện được các đặc điểm sau đây:
– Phù hợp với điều kiện thiên nhiên – khí hậu và cảnh quan địa phương;
– Phù hợp với con người; kích thư­ớc, tâm sinh lý, tình cảm, nhận thức, văn hoá, lao động, phong tục tập quán, sinh hoạt, . .. ;
– Phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, trình độ khoa học – kỹ thuật, vật liệu của từng địa ph­ương;
– Phù hợp với các quy luật, nguyên tắc thẩm mỹ nói chung cũng như­ quan điểm, tâm lý thẩm mỹ đặc thù (hình dáng, kích thư­ớc, tổ chức không gian, bố cục, tỷ lệ, hình thức trang trí, mầu sắc, nghệ thuật tạo hình)…

Bản sắc văn hoá, nguồn gốc văn hoá được xác định là yếu tố quyết định sự phát triển của kiến trúc đ­ương đại. Một khi nền kiến trúc được sản sinh ra từ những xuất phát điểm cơ bản nh­ư các điều kiện kinh tế – xã hội và lịch sử, điều kiện thiên nhiên và khí hậu, đặc điểm nhân chủng học và đặc điểm tâm sinh lý, thói quen ăn ở giao tiếp, truyền thống văn hoá và kiến trúc của địa phương, những truyền thống thẩm mỹ và nhu cầu thẩm mỹ mới của họ… thì chắc chắn đấy là những gì sẽ dẫn tới một nền kiến trúc bản sắc có, vận động và phát triển.

Như­ vậy, giá trị bản sắc văn hoá địa phương và tính bản địa trong kiến trúc không chỉ qua hình thức, mà cả nội dung, tinh thần được đặt trong mối quan hệ với môi trường và cảnh quan xung quanh, gắn bó trực tiếp với các hoạt động của con người, thể hiện bản chất và sắc thái cũng nh­ư mối quan hệ với con người sử dụng công trình kiến trúc đó.

Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ. Chính vì vậy, truyền thống từng vùng, từng dân tộc cần đư­ợc bảo vệ và phát huy trong sáng tạo kiến trúc, không phải bằng cách sao chép quá khứ mà điều cần làm là bản địa hoá kiến trúc quốc tế và quốc tế hoá kiến trúc bản địa. Kiến trúc các địa phương, các quốc gia cần phải có động lực tự thân từ việc phát huy và khai thác sức mạnh của nền văn hoá truyền thống lâu đời, ngăn chặn những ảnh h­ưởng ch­ưa tốt đến các nư­ớc đang phát triển, nỗ lực khẳng định mình bằng những công trình vừa hiện đại, vừa có bản sắc riêng.

Tài liệu tham khảo:
1. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 1997.
2. Lê Thanh Sơn, Một số xu hướng Kiến trúc đương đại nước ngoài, NXB Xây dựng- 2001.
3. Vũ Tam Lang, Kiến trúc cổ Việt Nam, NXB Xây dựng & NXB Khoa học và Kỹ thuật- 1991.
4. Phạm Đức Nguyên, Kiến trúc sinh khí hậu – thiết kế Sinh khí hậu trong Kiến trúc Việt Nam, NXB Xây dựng- 2002.
5. Bộ Xây dựng, Định hướng phát triển Kiến trúc Việt Nam đến năm 2020, NXB Xây dựng- 2003.

TS. KTS Lê Quân
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội