Kiến trúc và Luật hành nghề Kiến trúc sư

Trên thế giới, mỗi quốc gia đều có những đặc trưng riêng biệt về thể chế pháp lý và những điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội khác nhau, đồng thời, mỗi giai đoạn lịch sử của từng nước cũng cần có những yêu cầu khác biệt để đảm bảo sự thịnh vượng và phát triển chung của quốc gia. Cũng vì lẽ đó, tại hầu hết các nước phát triển, các văn bản luật pháp liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động trong lĩnh vực kiến trúc, hành nghề của kiến trúc sư (KTS), tác quyền của KTS… đã xuất hiện khá lâu và luôn có sự cập nhật, đóng góp quan trọng trong quá trình vận hành các hoạt động kiến trúc tại các quốc gia này.

Bối cảnh xã hội và bản sắc văn hóa khác nhau tại mỗi nước luôn chi phối tên gọi và hình thức các văn bản luật liên quan đến lĩnh vực nghệ thuật đặc thù này: Luật Kiến trúc (Bỉ), Luật Kiến trúc sư, Luật về quyền tác giả công trình kiến trúc (Pháp), Luật kiến trúc và công trình (Mỹ)… Nhìn chung, các bộ luật này đều quy định rõ về năng lực hành nghề, trình độ của KTS, chất lượng sáng tạo, quyền hạn, nghĩa vụ, quyền tác giả của KTS… và các yêu cầu ứng xử của cộng đồng xã hội (những đối tượng thụ hưởng) đối với công trình kiến trúc.

Trên thực tế, về cơ bản những cơ sở luật nêu trên là sự cam kết giữa KTS (người thực hiện) với xã hội (người thụ hưởng) về chất lượng của kiến trúc. Ngược lại, cộng đồng dân cư (người sử dụng) cam kết với KTS (tác giả) về trách nhiệm quản lý, phát triển và bảo tồn kiến trúc đó. Ví dụ tại Pháp, luật tác quyền của công trình kiến trúc quy định: bắt buộc nêu rõ tên tuổi và bằng cấp của KTS – tác giả công trình kiến trúc, trên lối vào chính của công trình. Điều này chính là sự cam kết song phương cả về chất lượng kiến trúc và quyền tác giả, qua đó thể hiện trách nhiệm của cộng đồng đối với công trình kiến trúc này.

Luật và vấn đề đào tạo nghề – bằng cấp KTS:
Thực tế ở Việt Nam hiện nay đặt ra vấn đề  kiểm tra tư cách và khả năng hành nghề của KTS thông qua việc cấp chứng chỉ hành nghề, nhằm đảm bảo năng lực KTS và xa hơn là chất lượng công trình kiến trúc – bởi pháp luật qui định người hành nghề kiến trúc phải hội đủ những tiêu chuẩn đặc biệt. Như vậy, một KTS sau quy trình đào tạo chính quy tại các trường đại học, cần trải qua một quãng thời gian nhất định, tham gia thiết kế một số lượng công trình nhất định mới hội đủ điều kiện hành nghề.

Các nội dung yêu cầu của pháp luật cũng chính là cơ sở định hướng cho công tác đào tạo tại nhiều trường. Trong đó, điều kiện bằng cấp phải được quy định rất cụ thể. Tại Pháp, hệ thống luật pháp công nhận các loại bằng cấp kiến trúc sư có cấp độ khác nhau. Chỉ cần căn cứ trên tên gọi văn bằng của KTS, nhà đầu tư có thể lựa chọn xu hướng kiến trúc cho công trình của mình.

Lợi ích song phương và sự công bằng của sáng tạo:
Tại Pháp, Bỉ và một số quốc gia Châu Âu khác, mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm kiến trúc là rất chặt chẽ. Trách nhiệm to lớn của KTS đối với công trình “mang nặng đẻ đau” của mình giải thích sự tôn trọng gần như tuyệt đối của khách hàng – chủ đầu tư đối với những thiết kế đó. Có thể xem pháp luật ở đây đóng vai trò như một bản giao kèo cơ bản về chất lượng giữa hai bên với nhau, đồng thời giữa họ với cả xã hội.
Việc ban hành Luật hành nghề KTS sẽ giúp tăng cường trách nhiệm pháp lý và nghề nghiệp của KTS, nêu ra tiêu chuẩn để người làm nghề được công nhận KTS. Theo KTS Nguyễn Văn Tất, “Luật KTS sẽ đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phát triển nghề KTS ở Việt Nam, giúp KTS trong nước dần hội nhập với KTS ở các nước trong khu vực và quốc tế, tác động tích cực đến sự phát triển của kiến trúc và văn hoá nước nhà”.

Bên cạnh đó, tình trạng vắt chanh bỏ vỏ, đánh trống bỏ dùi của một số nhà đầu tư đang là nỗi lo ám ảnh của những người làm công tác thiết kế. Luật Kiến trúc sư ra đời sẽ tăng cơ hội để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người KTS trước những tình huống trớ trêu đó.

Luật KTS: cơ hội làm nghề và sự khẳng định vị thế của các KTS chân chính
Trong những năm qua tại nước ta, lực lượng KTS gia tăng khá nhanh về số lượng. Theo con số thống kê mới nhất, hiện cả nước có 18 trường đại học có đào tạo chuyên ngành kiến trúc – quy hoạch, đã đào tạo được khoảng 15.000 KTS, bình quân đạt 1,2 KTS/10.000 dân.

Trên thực tế, nếu so sánh kiểu “chỉ tiêu bình quân” này thì chúng ta còn xếp khá xa với các nước phát triển trên thế giới như: Pháp (4 KTS/10.000 dân), Đức (8 KTS/10.000 dân), Tây Ban Nha (5 KTS/10.000 dân)… Tuy nhiên, với con số khiêm tốn ấy, chưa chắc 100% các KTS của ta có cơ hội hành nghề (xét trên cả điều kiện chủ quan và khách quan). Theo thống kê, chỉ có khoảng 30% số lượng KTS, trực tiếp sáng tác, thiết kế. Phần còn lại tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác.

Trong lĩnh vực xây dựng, vốn đầu tư XD của cả nước hàng năm đều chiếm từ 25-30% GDP. Mặc dù vậy, hoạt động tư vấn của KTS vẫn chưa giành được chỗ đứng phù hợp và ít có cơ hội thực hành thiết kế trong những công trình có tầm vóc lớn. Giá trị thiết kế phí của KTS Việt Nam chỉ chiếm khoảng 2% trên tổng giá trị công trình, trong khi trên thế giới và cả trong khu vực giá trị này thường đạt từ 8-15%.

Ở Việt Nam chưa có những quy định cụ thể về các chuẩn mực đạo đức cho hoạt động hành nghề KTS, cũng như chưa có sự giám sát trách nhiệm nghề nghiệp cho người làm nghề thiết kế. Rõ ràng chúng ta thiếu một tổ chức có tính đầu mối trong vấn đề quản lý chung này.

Theo thông lệ quốc tế, cần có tổ chức nghề nghiệp quản lý và hỗ trợ các hoạt động chuyên môn. Đoàn KTS được hình dung như một tổ chức của KTS hành nghề kiến trúc, quy hoạch, hoạt động với sự ràng buộc bằng những chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm của KTS đối với xã hội, tạo điều kiện quản lý hành nghề KTS, thúc đẩy tư duy sáng tạo. Và ngược lại, Đoàn KTS cũng là tổ chức đại diện nghề nghiệp trước chính quyền, có tư cách pháp lý để bảo vệ tôn trọng quyền lợi và nghĩa vụ của KTS, bảo vệ tính mạng và tài sản của con người, duy trì và phát triển lợi ích cộng đồng xã hội…

Tuy nhiên, việc hoạt động của tổ chức này cũng cần phải rút kinh nghiệm từ những tổ chức tương tự tại các nước phát triển trên thế giới – khi có sự can thiệp quá sâu, những quan niệm cứng nhắc, bảo thủ trong vấn đề chuyên môn đặc biệt là tư duy sáng tạo…
Nghề KTS liên quan đến cả xã hội. Kiến trúc trực tiếp xây dựng hình ảnh của từng con đường, góc phố và vĩ mô hơn, toàn bộ bản sắc đô thị. Kiến trúc có thể làm thay đổi nhận thức của xã hội, làm con người tốt hơn, hạnh phúc hơn nếu được sống trong những ngôi nhà có kiến trúc đẹp, các công trình thoáng đãng, mát mẻ và tiện nghi; được sống trong một môi trường đô thị có văn hóa, sự trong lành, nhiều cây xanh, mặt nước, hài hòa thân thiện với thiên nhiên… Và đó chính là sứ mệnh vinh quang của người KTS – sáng tạo nên những không gian, những tác phẩm “sống” và “để sống” cho con người. Kiến trúc luôn là hình ảnh trung thực nhất phản ánh sự hưng vượng của thời đại. Và vì vậy, Kiến trúc và Luật hành nghề của KTS sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của xã hội Việt Nam trong thời đại của chúng ta ngày hôm nay.

TS.KTS Hoàng Anh Tú
Đại học Kiến trúc TP.HCM