Kỷ niệm về một thời khó quên

Thế hệ cán bộ Tổng Công ty tư vấn Xây dựng Việt Nam – VNCC ra trường và trưởng thành trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ trước là lớp cán bộ đầu tiên đã sớm nhận thức được sự gắn bó mật thiết của việc hành nghề một cách sáng tạo với quá trình học tập, nghiên cứu khoa học. Họ đã học hỏi không ngừng, trau dồi bản lĩnh nghề nghiệp của mình để đáp ứng nhu cầu phát triển.

KS Nguyễn Hiển, Viện trưởng Viện Thiết kế Nhà ở và Công trình Công cộng (VNCC) báo cáo tại Hội nghị khoa học (1986)
KS Nguyễn Hiển, Viện trưởng Viện Thiết kế Nhà ở và Công trình Công cộng (VNCC) báo cáo tại Hội nghị khoa học (1986)

Trong những ngày này, kỷ niệm về quá khứ đang ùa về, gợi nhớ những tháng năm sôi động đầy ý nghĩa của Cục Thiết kế Dân dụng thời đó. Tôi còn nhớ tháng 8/1961, ngay từ khi mới tốt nghiệp ra trường, tôi được phân công về làm việc trong nhóm nghiên cứu thiết kế điển hình của Cục.

Hà Nội vừa mới được giải phóng, Nha Công chính Bắc Việt của chế độ cũ khi thiết kế nhà chỉ có phương thức xây dựng với kết cấu gạch đá và bê tông cốt thép đúc tự chế. Lớp cán bộ tốt nghiệp từ các trường của chế độ mới lần đầu tiên áp dụng phương pháp lắp ghép. Việc thiết kế điển hình được áp dụng, tạo điều kiện đúc sẵn những cấu kiện bê tông cốt thép để lắp ghép bằng cần cẩu thiếu nhi đã tiết kiệm được rất nhiều ván khuôn, dàn giáo so với phương pháp đúc tại chỗ. Nhóm thiết kế điển hình ra đời và các cấu kiện bê tông cốt thép đặc biệt là tấm sàn panel lỗ rỗng xuất hiện, được áp dụng trên hầu khắp các công trình do Cục Thiết kế Dân dụng thiết kế, tiết kiệm nhiều gỗ, thép, thời gian xây dựng so với thi công sàn đúc tại chỗ như trước kia. Việc phổ biến áp dụng phương pháp này cho các địa phương đã mang lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật to lớn và là bước đầu tiên của quá trình công nghiệp hóa, xây dựng các công trình trên cả Miền Bắc thời đó.

Toàn cảnh Khu nhà ở Thanh Xuân Bắc được thi công theo phương pháp lắp ghép bê tông tấm lớn đúc sẵn do VNCC thiết kế
Toàn cảnh Khu nhà ở Thanh Xuân Bắc được thi công theo phương pháp lắp ghép bê tông tấm lớn đúc sẵn do VNCC thiết kế

Năm 1962, tôi là người được giao nghiên cứu thực nghiệm áp dụng kỹ thuật gia cố nền đất yếu bằng tầng đệm cát trong Bộ Kiến trúc tại công trình Bưu điện 4. So với phương án cọc đóng bê tông cốt thép, phương pháp này tiết kiệm giá thành và vật liệu (xi măng, thép) một cách đáng kể. Sau đó phương pháp này đã trở thành một phương pháp gia cố nền hiệu quả và an toàn, được phổ biến sử dụng trong hàng trăm công trình khác trong cả nước.

Năm 1965, trong điều kiện chưa có máy tính điện tử, nhóm thiết kế kết cấu của chúng tôi đã nghiên cứu, đề xuất phương pháp “Tổ hợp phân tố” để tính khung siêu tĩnh nhiều tầng, nhiều nhịp, cùng một lúc xét đến các tổ hợp tải trọng bất lợi nhất, tốc độ tính toán nhanh với độ chính xác cao, đã được báo cáo tại Hội nghị cơ học toàn miền Bắc lần thứ nhất và được xem như một đóng góp đáng kể trong hội nghị đó.

Năm 1968, chúng tôi đã nghiên cứu đề xuất áp dụng “Phương pháp biến phân tính toán bản trên nền đàn hồi nhiều lớp” để thiết kế đáy bể bơi, có xét đến sự làm việc không gian của bản và quan hệ tương hỗ giữa bản với nền, so với các phương pháp được dùng trước đó đạt độ chính xác cao và tiết kiệm 15% vật liệu thép. Công trình nghiên cứu này đã được báo cáo tại Hội nghị kết cấu bê tông toàn Miền Bắc và đăng trong Tuyển tập các công trình nghiên cứu của hội nghị.

Năm 1969, theo yêu cầu của Bộ Kiến trúc và Văn phòng Phủ thủ tướng, nhóm đã nghiên cứu về “Sự làm việc của sàn hỗn hợp tre – đất – rơm” để phục vụ cho việc xây kho chứa thóc ở nông thôn trong thời chiến. Quá trình thực nghiệm loại sàn này đã được tiến hành tại Viện nghiên cứu vật liệu xây dựng, được đánh giá có ý nghĩa khoa học công nghệ và thực thiễn ở nhiều địa bàn trong cả nước.

Năm 1971, nhóm nghiên cứu đã chủ trì thiết kế mẫu nhà ở tấm lớn sản xuất tại nhà máy bê tông Đạo Tú theo công nghệ đúc đứng, tiết kiệm 60% số lượng thép trong các tấm tường, đã được áp dụng xây dựng hàng trăm ngôi nhà 5 tầng, tiết kiệm 20% giá thành so với các dạng nhà ở tấm lớn khác.

Từ năm 1983, với cương vị Viện trưởng Viện Thiết kế Nhà ở và Công trình công cộng – Bộ Xây dựng, Phó Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu khoa học về nhà ở và Phó Chủ tịch Hội kết cấu Xây dựng Việt Nam, được giao phụ trách mảng kết cấu công trình. Tôi đã biên soạn các tài liệu và tham gia Ban Chỉ đạo tổng kết Khu nhà ở Thanh Xuân, tổng kết các hệ kết cấu tấm lớn xây dựng tại Thủ đô, lựa chọn giải pháp kết cấu nhà cao tầng phù hợp tại Việt Nam.

Năm 1989, tôi chỉ đạo trực tiếp việc cải tiến nhà ở lắp ghép số 31 phố Thi Sách bằng cách áp dụng “Tấm thích hợp” là hệ tấm được điều chỉnh để xây dựng cho nhà ở xây chen tại Hà Nội. Trên cơ sở việc xây dựng thí điểm này, đề tài “Nghiên cứu tấm thích hợp cho nhà ở xây chen tại Hà Nội” đã trở thành đề tài xuất sắc trong chương trình Nhà ở.

Năm 1991, dự án hợp tác đa phương của tổ chức phát triển của Liên hiệp quốc UNIDO “Công nghiệp hóa xây dựng nhà ở theo phương pháp mở bằng những cấu kiện có tính lắp ghép linh hoạt cao” được báo cáo tại Hội thảo quốc tế Paris như một đề xuất mở con đường công nghiệp hóa xây dựng nhà ở trong cơ chế thị trường ở các nước đang phát triển.

Từ năm 1992, tôi đã đề xuất và được giao là thường trực chỉ đạo dự án quốc gia “Chuyển giao kỹ thuật phòng chống và giảm nhẹ tác động của bão lũ đối với các công trình xây dựng”, tập hợp chuyên gia từ bốn ngành Giao thông, Thủy lợi, Điện lực và Xây dựng để tổ chức tập huấn và đào tạo tại các tỉnh ven biển từ Bác đến Nam, có tác dụng lớn đến quá trình phòng chống thiên tai ở các địa phương đó. Dự án này đã được báo cáo tại “Hội thảo quốc tế phòng chống thiên tai” ở Bangkok năm 1993 và được đánh giá cao tại Hội nghị.

Bước sang hế kỷ thứ 21, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, việc đòi hỏi nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ KTS, kỹ sư của VNCC càng cấp thiết. Nhân dịp Kỷ niệm 60 năm thành lập VNCC, nhìn lại chặng đường đã qua, từ những trải nghiệm thực tế trong một mảng hoạt động của mình với vải mẩu chuyện về một thời khó quên, tôi muốn rút ra lời khuyên với các bạn đồng nghiệp đang còn công tác hiện nay: “Hãy suy nghĩ về quá khứ để rút ra những bài học cốt lõi quan trọng, để tiếp tục hành nghề một các trung thực, khách quan, phát huy hết vai trò trách nhiệm của mình, xử lý các vấn đề chuyên môn thông qua việc phát huy trí tuệ một cách triệt để nhằm đưa ra các sản phẩm có chất lượng, chứa đựng tính sáng tạo, tính chuyên nghiệp để có thể tiếp tục giữ vững thương hiệu VNCC không ngừng tỏa sáng”.

Hồi ký của Kỹ sư Nguyễn Hiển
Nguyên Giám đốc VNCC

TCKT số 04-2015