Nhận diện kiến trúc nhà ở Việt Nam 1975-2020: Hướng tới tổng kết 50 năm kiến trúc Việt Nam thống nhất đất nước (Phần 2)

Giai đoạn 1986 – 2006

Công cuộc đổi mới được khởi phát từ Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đã mở ra một kỷ nguyên mới cho một nước Việt Nam phát triển và hội nhập. Kiến trúc nhà ở, như một tấm gương phản chiếu đời sống kinh tế xã hội, đã chịu sự tác động vô cùng lớn và có những bước phát triển mang tính đột phá trong quá trình định hình của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Có thể chia thời kỳ này thành những giai đoạn nhỏ với những mốc dấu sau:

Từ năm 1987 đến năm 1991, giai đoạn phát triển và hoàn chỉnh các khu nhà ở đã quy hoạch xây dựng trước đó, đa dạng hóa các mẫu nhà với các loại căn hộ khác nhau, chú trọng hơn đến tiện nghi ở và thẩm mỹ kiến trúc mặt ngoài. Bắt đầu xuất hiện mô hình “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, phân cấp và tăng tính chủ động cho các bộ, ngành, các đơn vị kinh tế, hành chính sự nghiệp trong việc tham gia giải quyết bài toán phân phối nhà ở theo nhu cầu bức thiết của cán bộ công nhân viên. Bên cạnh các mẫu nhà lắp ghép tấm lớn được tiếp tục cải tiến ở các khu Bắc Thanh Xuân (KTS Ngô Quang Sơn, Viện Thiết kế Nhà ở và Công trình công cộng Bộ Xây Dựng), mẫu nhà kép lệch tầng, khung bê tông, tường gạch, tầng trệt bố trí cửa hàng và nhà trẻ (Viện thiết kế Nhà ở Hà Nội) xây dựng ở Nghĩa Đô, Yên Hòa…, có các loại mẫu nhà xây bằng gạch 5 tầng (Viện thiết kế Nhà ở Hà Nội) với nhiều bố cục khác nhau, đáp ứng các yêu cầu đa dạng hóa trong quy hoạch, được xây chen thí điểm vào các khu đang có. Đồng thời, mẫu nhà giếng trời cải tiến, ngoài trát đá rửa (KTS Huỳnh Lẫm- Viện Thiết kế Nhà ở và Công trình công cộng Bộ Xây Dựng) được xây dựng đơn chiếc ở khá nhiều nơi. Ngoài ra còn có những khu chung cư “tự túc” của các Bộ, ngành được thiết kế xây dựng theo nhiệm vụ thiết kế với những yêu cầu riêng về diện tích và cơ cấu căn hộ như Khu nhà ở 5 tầng, 84 căn hộ Bộ Kinh tế đối ngoại (Láng Hạ) và Khu Nhà ở 6 tầng 60 căn hộ Bộ Giáo dục & Đào tạo (Bờ Sông) KTS Trần Thanh Bình, Viện Nghiên cứu thiết kế Trường học. Đáng chú ý, cuối những năm 80, Hà Nội đã tổ chức 2 cuộc thi thiết kế nhà ở Bắc Thanh Xuân và Đường 1A (Đường Giải Phóng hiện nay) các phương án đoạt giải của các tác giả KTS Ngô Quang Sơn và KTS Hoàng Minh Phái (Bắc Thanh Xuân mới), KTS Hoàng Quốc Cường (Đường 1A), Viện Nhà ở và Công trình công cộng đều được đưa vào xây dựng.

Khu tập thể Nam Thành Công

Từ năm 1991 đến năm 2000, Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, tình trạng thiếu hụt vốn đầu tư tập trung từ Nhà nước cho các mô hình tiểu khu trở nên trầm trọng, dẫn đến không những không phát triển được các khu mới theo kế hoạch, mà ngay việc hoàn chỉnh các khu cũ cũng gặp khó khăn đáng kể, phần nhiều chỉ còn hình thành các khu nhỏ lẻ ở nhiều nơi. Trong khi đó tốc độ tăng dân số đô thị quá nhanh, nhu cầu về nhà ở lại càng trở nên bức thiết, chính sách bao cấp trong nhà ở chính thức cáo chung để mở ra một thời kỳ “người người xuống đường tự lo lấy nhà ở”.

Khu nhà ở ngoại giao đoàn Vạn Phúc II

Đầu tiên là mô hình “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, nhà nước làm quy hoạch, hạ tầng giao thông, phân lô cấp đất cho cán bộ công nhân viên tự xây dựng, có khống chế chiều cao và quy cách xây dựng. Nhiều nơi hình thành những khu có quy mô lớn bao gồm cả các công trình hạ tầng xã hội, các đơn nguyên ở 5 – 6 tầng mặt đường ngoài, bên trong là các khu chia lô như khu Nam Thành Công (Hà Nội), khu Hồ Văn Huê (TP. HCM)…

Đây cũng là thời kỳ nở rộ phong trào mua đất làm nhà, xây chen, cải tạo, xây dựng lại nhà mặt phố và ở trong mọi ngóc ngách tạo nên một bức tranh đa dạng và hỗn độn của mô hình kiến trúc nhà ở tư nhân với đủ loại ngôn ngữ ở hầu hết các đô thị lớn trên cả nước, đặc biệt nhất là ở Hà Nội và TP. HCM. Đáng chú ý, đây cũng là thời kỳ mà nhiều đơn vị sự nghiệp “được phép” cắt đất phân lô cấp cho cán bộ công nhân viên của mình tự xây dựng. Điển hình là khu Đại học Bách Khoa Hà Nội và Đại học Kinh tế Quốc dân đã hình thành hẳn 2 đơn vị phường sau này.

Ngoài ra, thời kỳ này cũng ghi nhận trào lưu mua đất rộng xây biệt thự của “những người có điều kiện” tập trung ở bán đảo Nghi Tàm Hà Nội hay hiện tượng Làng Kiến trúc phong cảnh Võng Thị ở Hà Nội.

Khu nhà ở thương mại Thuận Việt

Bên cạnh đó, bắt đầu từ giữa những năm 90 đã xuất hiện những công trình nhà ở có ngôn ngữ kiến trúc nhà ở độc đáo, giải quyết các bài toán về tổ chức căn hộ, bố cục hình khối cũng như bước đầu nghiên cứu thích ứng điều kiện khí hậu bản địa. Có thể kể đến những công trình mang tính tác phẩm cao như:

  • Khu nhà ở ngoại giao đoàn Vạn Phúc II (KTS Nguyễn Khôi Nguyên, KTS Trần Bình Trọng) giai đoạn II của khu nhà ở dành cho ngoại giao đoàn gồm 6 khối nhà 5 tầng chung một lõi kỹ thuật và cầu thang (lệch tầng), mỗi tầng có 3 căn hộ loại 2 phòng ngủ (2 căn) và 1 phòng ngủ (1 căn). Cấu trúc căn hộ khép kín theo chuẩn gồm phòng khách, bếp và các phòng ngủ.
  • Nhà ở cơ quan UNDP (KTS Nguyễn Khôi Nguyên, KTS Trần Bình Trọng) dành cho phái bộ UNDP thuộc Liên Hợp Quốc 6 tầng cũng được xây dựng trong khu Vạn Phúc II theo mô hình đơn nguyên kép hình chữ nhật, có ngôn ngữ tương phản với các tòa nhà của khu ngoại giao đoàn bằng cách để trống tầng, giật cấp theo tầng.
  • Khu nhà ở thương mại Thuận Việt, TP. HCM (KTS Khương Văn Mười) mô hình nhà ở liên kế dạng căn phố, thích ứng hoạt động thương mại được xây dựng ở quận Tân Bình TP. HCM. Các căn nhà độc lập cao 6 tầng xây dựng liền kề 2 mặt tiền (ngoại trừ các căn đầu hồi của từng dãy). Tầng trệt (hoặc cả lầu 1 và lầu 2) được sử dụng theo dạng shophouse, các lầu trên để ở. Cầu thang và khu phụ được bố trí ở giữa căn. Ngôn ngữ kiến trúc thống nhất cho toàn dãy với chi tiết ban công lô gia theo các tầng. Các căn hộ đầu hồi được xử lý khác biệt với các căn còn lại. Khu nhà được xây dựng hoàn chỉnh thành 4 dãy.
  • Khu nhà ở 6 tầng lô F xóm Cải, TP. HCM (KTS Trầm Xuân Hiếu) là mô hình shophouse (tầng trệt và lửng) độc lập kết hợp với các căn chung cư ở 5 lầu trên xây dựng theo dạng đơn nguyên dài
  • Khu chung cư Huỳnh văn Chinh, TP. HCM (KTS Huỳnh Kim Tấn), nhà cao 5 tầng với các đơn nguyên dạng block gồm 3 – 4 căn hộ.
  • Chung cư Hùng Vương lô G TP. HCM (KTS Trầm Xuân Hiếu) cao 11 tầng, một trong những chung cư cao tầng đầu tiên thời kỳ này với các đơn nguyên dạng tháp, các căn hộ được xử lý ở các hướng khác nhau quanh lõi kỹ thuật.

Từ năm 2000 đến năm 2006 đánh dấu 20 năm đổi mới, đẩy mạnh hội nhập và cũng đánh dấu sự ra đời của Luật Nhà ở 2005. Đây cũng chính là thời gian bản lề, chuyển đổi từ mô hình tiểu khu nhà ở sang hẳn mô hình khu đô thị với sự xuất hiện của các chung cư cao tầng tập trung, những mô hình vốn không xa lạ với kinh nghiệm quốc tế. Với chính sách mở cửa, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài, hoặc liên doanh, hoặc đầu tư trực tiếp cùng với sự hình thành các tập đoàn kinh tế Nhà nước tập trung vào lĩnh vực phát triển nhà ở đô thị đã tạo ra những khu đô thị quy mô đầu tiên. Cùng với đó là sự du nhập tích cực của các KTS nước ngoài, các tiến bộ về khoa học và công nghệ xây dựng thế giới bên cạnh sự lớn mạnh vượt bậc của đội ngũ thiết kế trong nước.

Thời gian này chứng kiến sự ra đời của 4 khu đô thị đầu tiên của Việt Nam đổi mới, mở cửa và hội nhập với các quy mô khác nhau, đó là giai đoạn 1 của các Khu đô thị Phú Mỹ Hưng (TP. HCM), Khu đô thị Nam Thăng Long Ciputra, Khu đô thị Linh Đàm (đều ở Hà Nội) và Khu đô thị hoàn chỉnh Trung Hòa Nhân Chính (Cầu Giấy, Hà Nội).

Khu Sky Garden, Phú Mỹ Hưng, TP. HCM
  • Khu đô thị Phú Mỹ Hưng tọa lạc ở quận 7, phía Nam TP. HCM do Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng làm chủ đầu tư. Đây cũng là dự án FDI đầu tiên được cấp phép ở ViệtNam (Tập đoàn Central Trading & Development của Đài Loan). Là nơi tập trung sinh sống của phần đông người nước ngoài và những người có thu nhập cao ở TP. HCM, Khu đô thị Phú Mỹ Hưng quy tụ nhiều công ty tư vấn và các KTS hàng đầu thế giới tham gia quy hoạch thiết kế, vận dụng các tiêu chuẩn quy phạm xây dựng và thiết kế công trình tiêu chuẩn cao của Mỹ, Đức, Nhật, Đài Loan… Giai đoạn 1 của Khu Trung tâm (khu A) quy mô 409 ha đã có nhiều khu nhà ở được đưa vào xây dựng như khu Cảnh Đồi với 8 khu căn hộ cao tầng, 1 khu nhà phố, 9 khu biệt thự, khu Kênh Đào với 4 khu căn hộ cao tầng và 5 khu biệt thự, các khu căn hộ cho thuê Star Hill và khu căn hộ Sky Garden với khu phố đi bộ mua sắm trên tầng 2 của khu chung cư. Vào tháng 4-2007, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngành xây dựng Việt Nam, khu Sky Garden đã được Bộ Xây dựng trao tặng chứng nhận “Công trình kiến trúc tiêu biểu thời kỳ đổi mới”.

  • Khu đô thị Nam Thăng Long Ciputra (do các Công ty tư vấn nước ngoài quy hoạch, thiết kế) hiện là khu đô thị lớn nhất Hà Nội có tổng diện tích quy hoạch khoảng hơn 300 ha, trong đó dự án quy hoạch cho khoảng 50 tòa chung cư và khoảng 2.500 căn nhà thấp tầng. Đây cũng là dự án bất động sản đầu tư nước ngoài lớn nhất khu vực phía Bắc (vốn đăng ký lên tới 2,11 tỷ USD) do Tập đoàn Ciputra (Indonesia) làm chủ đầu tư. Giai đoạn 1 được hoàn tất trước năm 2007 bao gồm 2 tòa nhà cao 20 tầng, mỗi tầng 8 căn hộ có diện tích từ 119m2 đến 200m2 và các căn Penthouse nằm trên tầng 20. Các khu biệt thự C, D, G có từ 4 đến 5 phòng ngủ với diện tích từ 126m2 đến 300m2.
Chung cư cao tầng. Khu đô thị Ciputra (Giai đoạn 1)
  • Khu đô thị mới Linh Đàm do Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD) làm chủ đầu tư, có quy mô 200 ha (bao gồm 74ha diện tích hồ điều hòa) Dự án này là khu đô thị mới đầu tiên được thí điểm quy hoạch xây dựng bao gồm ba dự án thành phần: Khu nhà ở Bắc Linh Đàm (24 ha), Khu nhà ở bán đảo Linh Đàm (35 ha), và Khu nhà ở Linh Đàm mở rộng (16,4 ha). Theo đó giai đoạn, Khu nhà ở Bắc Linh Đàm, bao gồm các biệt thự, nhà liên kế và 4 tòa chung cư cao tầng (nhà ở được trang bị thang máy đầu tiên của Hà Nội) 9 – 15 tầng và Khu nhà ở Bán đảo Linh Đàm, bao gồm 16 tòa chung cư 11 tầng với gần 2 000 căn hộ và các công trình dịch vụ công cộng.
Khu đô thị mới Linh Đàm
  • Khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính (KTS Hoàng Hữu Phê và các cộng sự, Vinaconex R&D) có quy mô trên 30 ha thuộc hai phường Trung Hòa và Nhân Chính của Thành phố Hà Nội do Tổng công ty Vinaconex làm chủ đầu tư. Dự án được khởi công năm 2001 và hoàn thành năm 2006. Với mật độ tập trung ở mặt đường Hoàng Đạo Thúy gồm 9 tòa tháp chung cư cao nhất Hà Nội thời điểm đó (6 tòa 17 tầng, 2 tòa 24 tầng và 1 tòa 34 tầng), Khu đô thị mới Trung Hòa Nhân Chính là một bước đột phá quan trọng trong phát triển nhà chung cư cao tầng cũng như nhà ở thương mại không chỉ ở Hà Nội. Tuy còn những hạn chế như sự đơn điệu và còn thiếu một phong cách kiến trúc riêng biệt của loại nhà ở cao tầng tiền chế, Tổ hợp công trình cũng đưa ra những giải pháp thể hiện sự tìm tòi về kiến trúc nhà cao tầng như bố cục mặt bằng căn hộ chặt chẽ, hệ số sử dụng sàn rất cao cũng như các đột phá về công nghệ xây dựng.
Khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính

Bên cạnh sự phát triển của nhà ở trong các khu đô thị mới, thời kỳ này cũng ghi nhận các công trình và cụm công trình nhà ở cao tầng khác, chủ yếu ở TP. HCM như: Khu chung cư C9 Quận 10 (KTS Lý Thái Sơn) năm 2000; Cụm chung cư Tân Tạo 11 tầng (KTS Nguyễn Hữu Thái, KTS Nguyễn Hữu Bình, KTS Nguyễn Công Huân) năm 2006; Cụm chung cư tái định cư 14A Lạc Long Quân (KTS Nguyễn Trường Lưu, KTS Ngô Đằng Văn & các cộng sự) năm 2006; Chung cư 25 tầng Phúc Thịnh (KTS Nguyễn Bắc Vũ) năm 2006 và Khu chung cư cao cấp đầu tiên An Phú Cantavile (KTS Khương văn Mười) năm 2006.

Mảng công trình nhà ở dạng biệt thự sau một thời gian phát triển chủ yếu theo xu hướng mô phỏng “phục cổ” đã có những công trình thể hiện sự tìm tòi về ngôn ngữ cách tân và thích ứng với môi trường như các công trình Biệt thự ở Đồng Nai (KTS Nguyễn Văn Tất); Nhà ở gia đình vùng giáp ranh Hà Nội (KTS Đoàn Kỳ Thanh); Nhà ở gia đình biệt lập TP. HCM (KTS Nguyễn Quang Huấn) Nhà ở ven đô Hà Nội (KTS Hoàng Thúc Hào, KTS Nguyễn Đỗ Dũng)…

Hai mươi năm đổi mới và hội nhập đánh dấu sự phát triển mạnh của kiến trúc nhà ở, phản ánh rõ nét sự thay đổi về chính trị kinh tế xã hội thông qua quan niệm và các mô hình sở hữu trong nhà ở. Nếu như mười năm đầu là sự cố gắng hoàn chỉnh và kết thúc mô hình cũ cùng với sự bung ra tìm kiếm có phần mất kiểm soát các mô hình mới thì mười năm sau đã chứng kiến những bước đi mạnh mẽ với việc hình thành các khu đô thị mới cùng với sự phát triển các chung cư cao tầng làm thay đổi hẳn bộ mặt kiến trúc nhà ở trước thềm sự kiện quan trọng nhất của quá trình hội nhập: Việt Nam chính thực ra nhập WTO.

KTS Trần Thanh Bình
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 4-2024)


Xem thêm:

Nhận diện kiến trúc nhà ở Việt Nam 1975-2020: Hướng tới tổng kết 50 năm kiến trúc Việt Nam thống nhất đất nước (Phần 1)