Những chiều kích của Đô thị Thông minh

Tổng quan về đô thị thông minh (Smart city-SC)

Ý tưởng ban đầu về thành phố thông minh (Smart city) bắt đầu từ khoảng năm 1990 bởi các chuyên gia công nghệ thông tin ở Valley Silicon (Mỹ) và Thành phố Bangalore (được mệnh danh là “Valley silicon” của Ấn Độ). Các chuyên gia này mong muốn đưa công nghệ thông tin vào tận ngóc ngách của toàn bộ thành phố – Do vậy mà các tên gọi ban đầu của SC là: “Thành phố số hoá (Digital city)”, “Thành phố công nghệ thông tin (IT city)”, “Thành phố trí tuệ (Intelligent city)”…

Còn khái niệm “thành phố thông minh” chính thức được sử dụng từ năm 2005 bởi một loạt các tập đoàn công nghệ viễn thông như Siemens, Cisco, IBM… Đến năm 2010, các tập đoàn này đã hoàn tất công nghệ thiết kế trọn gói một thành phố thông minh và đang trong quá trình “chào hàng” ở các quốc gia khác nhau, trong đó có Việt Nam. Họ có thể “bán” trọn gói một thành phố hoàn chỉnh hay từng module riêng rẽ. Cộng hưởng với tiến trình này, hàng chục thành phố trên thế giới cũng khởi động cuộc đua trở thành SC ở các mức khác nhau, nhưng cho đến nay chưa có thành phố nào ra tuyên bố là tới đích, chỉ có 4 thành phố được gán “nhãn” là thành phố thông minh mà ít người phản đối là TP Hành chính Putrajaya của Malaysia, Thành phố Songdo của Hàn Quốc, TP Đại học Quảng Châu của Trung Quốc, và TP. Yokohama của Nhật Bản. Tuy nhiên, những thành phố này đang phải tiếp tục hoàn thiện và sửa chữa những khiếm khuyết lớn về mặt văn hoá – xã hội. Nhiều quốc gia tỏ ra hào hứng lúc ban đầu, nhưng mấy năm gần đây cũng tỏ ra buông lơi. Chẳng hạn, năm 2008 Nhật Bản xây dựng thí điểm 4 SC: Yokohama, Kyoto, Toyama, Kanagawa, nhưng cho đến nay các đề án đều đã phá sản, chỉ có Yokohama được coi “thông minh” trong các lĩnh vực môi trường (xử lý rác thải), giao thông (vận tải biển), sử dụng và tái tạo nước sạch, ngoài ra vẫn còn chưa đạt đến tiêu chí thành phố thông minh trong các lĩnh vực cơ bản nhất. Bản thân Singapore là một quốc gia có điều kiện thuận lợi nhất, Thủ tướng Lý Hiển Long công bố ngày 24-11-2014 bắt đầu xây dựng Singapore trở thành “Quốc gia thông minh” nhưng cũng chỉ dám hy vọng đến năm 2025 sẽ đạt được tiêu chí thông minh trong một số lĩnh vực mà họ coi là nóng như: Giao thông, môi trường, giáo dục và chăm sóc người cao tuổi tại gia. Nói cho cùng thì Singapore cũng chỉ là một thành phố có diện tích bằng ¼ và dân số bằng ½ so với TP HCM nhưng rõ ràng họ đã có những bước tiến xa.

Như vậy, SC này có nhiều điều chưa ổn về cả lý thuyết lẫn hiện thực, cho nên hiện nay các nhà khoa học và các lãnh đạo quốc gia, thành phố đang phải nhận thức lại và tư duy lại về SC. Một loạt các cuộc hội thảo mới diễn ra trong năm 2016 ở Thiên Tân (Trung Quốc), King Abdullah (Saudi Arabia ), và Yokohama (Nhật Bản) đã bàn thảo đến chủ đề này với những bài học kinh nghiệm và những lời cảnh báo. Tương tự, ở Việt Nam trong mấy tháng gần đây các cơ quan chức năng đã tổ chức nhiều hội thảo các cấp với những tranh luận nhiều chiều về SC.

Những mẫu hình thành công của SC

Chúng ta xem xét qua các thành phố tạm được coi là thông minh. Thành phố hành chính mới của Malaysia tên là Putrajaya được xây dựng trên một vùng đất hoang vu có diện tích 50 km2 cách Kuala Lumpur chừng 30 km. Được xây dựng năm 1995 hoàn thành năm 2002 (theo sáng kiến của Thủ tướng lúc đó là Mahathir Mohammad), với mức đầu tư ban đầu là 11 tỷ USD, thành phố được qui hoạch tối đa cho 250.000 dân, hiện nay mới chỉ có 65.000 dân. Hầu hết những người sinh sống làm việc ở đây là các công chức, nhân viên phục vụ trong các công sở hành chính của chính phủ.

Thành phố Songdo của Hàn Quốc nằm ở Incheon cách Seoul hơn 40 km, là thành phố hoàn toàn được xây dựng mới trên vùng đất lấn biển với diện tích 6,5 km2. Thành phố được xây dựng năm 2009 dưới thời Tổng thống Lee Myung Bak, được thiết kế tối đa cho 250.000 người dân với mức đầu tư cực lớn là 35 tỷ USD. Tuy nhiên, đến nay mới có khoảng 40.000 người sinh sống, hơn 100.000 đến làm việc ban ngày. Dân cư ở đây đa phần là các nhà đầu tư nước ngoài và các đại gia trong nước.

Thành phố đại học Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông được xây dựng 2002 trên một hòn đảo với diện tích 43 km2, dân số chính của thành phố này là 70.000 sinh viên, chính phủ Trung Quốc đầu tư 7 tỷ USD.

Từ ba ví dụ trên đây, giúp chúng ta nhận ra điều quan trọng đầu tiên là các thành phố tạm được chấp nhận là SC có một số đặc điểm khá giống nhau:

  • Thứ nhất, đó là những thành phố xây dựng hoàn toàn mới trên những vùng đất mới không có người ở. Việc này cho phép triển khai được các ý tưởng kỹ thuật một cách chính xác và thực hiện một cách đồng bộ, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cao trên từng mét vuông thực địa;
  • Diện tích nhỏ, dân số ít là một ưu thế quan trọng cho việc quản lý và kiểm soát. Thành phố thông minh cực kỳ phức tạp về kỹ thuật, một khi không có sự kiểm soát tốt sẽ mang lại những rủi ro khủng khiếp;
  • Mức đầu tư xây dựng SC cực kỳ lớn, lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ USD, với mức đầu tư này người ta có thể thực hiện được những yêu cầu công nghệ phức tạp nhất, các ý tưởng lãng mạng nhất hay điên rồ nhất. Ví dụ như năm 2005, để xây dựng King Abdullah của Saudi Arabia với diện tích 170 km2 trên một sa mạc nóng bóng, các nhà đầu tư đã phải bỏ ra hơn 100 tỷ USD và số tiền chưa dừng lại ở con số này;
  • Một điều quan trọng cần nhấn mạnh những cư dân của các TP thông minh này đều là cần trở thành “cư dân thông minh”, có trình độ học vấn, có việc làm ổn định và thu nhập cao. Những người sống được ở Songdo phải có thu nhập từ 7-10.000 USD/ tháng. Chính những công dân thông minh này là nguồn lực mạnh nhất duy trì sự sống lâu dài cho thành phố thông minh cả trên hai nghĩa tài chính và “ý thức xây dựng”.

Các yếu tố cần và đủ cho việc xây dựng thành phố thông minh

Để có được một thành phố thông minh theo đúng nghĩa, các thành phố phải đảm bảo có được 5 yếu tố cơ bản và cốt lõi sau đây:

1. Hệ thống hạ tầng khung ICT: Một thành phố đạt đến cấp độ thông minh thì phải có được một hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung ICT hiện đại, đảm bảo hoàn thiện và phủ kín toàn thành phố. ICT là khái niệm kết hợp của IT (công nghệ thông tin-information technology) và C (truyền thông communication). Hệ thống hạ tầng khung này nhằm đảm bảo một nguyên lý cực kỳ quan trọng của thành phố thông minh là “vạn vật được kết nối” (Internet of things). Nói một cách dễ hiểu hơn, con người thông qua hỗ trợ kỹ thuật sẽ kết nối được với thiên nhiên, nhà ở, đường xá, cây cối, nhà bếp, xe cộ và cố nhiên là với con người trong một mạng lưới thông suốt: Tốc độ cực nhanh, độ phủ rộng, qui mô thông tin lớn, nội dung đa dạng, chất lượng cao, sử dụng dễ dàng. Để làm được điều đó, người ta phải sử dụng các thiết bị công nghệ cao (high technical) như các cảm biến đa chủng (sensor), camera, mạng không dây tốc độ cao, các đường truyền cáp quang, xử lý dữ liệu lớn, tốc độ cực nhanh, kết nối liên thông các lĩnh vực kỹ thuật và phi kỹ thuật, thêm vào nữa là ứng dụng tự động hoá trong sản xuất và đời sống, chẳng hạn robot, xe hơi không người lái,.. và cố nhiên cả sự hỗ trợ của khoa học không gian như vệ tinh viễn thông, vệ tinh thời tiết, GIS, GPS,… Để có thể tiếp nhận và xử lý dữ liệu, mỗi thành phố cần có các trung tâm tích hợp, xử lí dữ liệu cực kỳ lớn (Big Data), đảm bảo dung lượng đủ cho địa bàn, lĩnh vực mà mình muốn ứng dụng và dư địa cho những năm tới khi mở rộng tầm mức hoạt động.

Hệ thống hạ tầng tương thích của các loại hình dịch vụ, các lĩnh vực định áp dụng công nghệ của SC. Xây dựng được một hạ tầng khung ICT chưa đủ, thành phố đó phải xây dựng một hạ tầng hiện đại, đồng bộ ở những lĩnh vực định ứng dụng các “thông minh”. Các lĩnh vực như giao thông, bệnh viện, trường học phải hiện đại đến mức tương hợp về trình độ, qui mô với công nghệ và kỹ thuật ICT định ứng dụng. Theo thiết kế, thì Thành phố thông minh có 5 cấp độ bao gồm: Nhà ở hộ gia đình thông minh; cộng đồng thông minh; không gian công cộng thông minh; dịch vụ xã hội thông minh và nhà nước thông minh. Nếu thành phố có cơ sở hạng tầng khung ICT hiện đại nhưng ở các cá nhân, hộ gia đình, trường học, bệnh viện, toà cao ốc không được trang bị các thiết bị có cùng chức năng thì tất cả trở nên vô nghĩa. Một ví dụ dễ hiểu, chỉ với một Smart phone, bất kỳ ai ở một chỗ cũng có thể kết nối và biết được tất cả từ thời tiết, giá cả, tình trạng giao thông, và thực hiện được các giao dịch từ việc trả tiền thuế, đăng ký kinh doanh, đến thi cử, khám bệnh… Để làm được chuyện này thành phố phải có một hệ thống bao gồm: Thu thông tin đầu vào, xử lý thông tin và nơi phân phối thông tin đầu ra, kèm theo là các mênh lệnh, hay khuyến cáo. Người ta phải gắn hàng triệu cảm biến (sensor), hàng triệu camera có độ phân giải cao với các chức năng rất khác nhau khắp nơi trong thành phố từ hộ gia đình, toà cao ốc, đường phố, công viên, công sở và cả toilet công cộng. Để thu nhận được tín hiệu người ta sử dụng hai loại cảm biến là cảm biến vật lý (sóng điện từ, ánh sáng, nhiệt độ, áp suất, âm thanh, rung động, chuyển động, khoảng cách, gia tốc, hình ảnh) và cảm biến hóa học (độ ẩm, khói, độ PH,…). Các cảm biến và các camera này thu được tín hiệu và chuyển thẳng về một trung tâm xử lý dữ liệu khổng lồ (big data) cấp thành phố hay cấp vùng. Ở đây, các chuyên gia nhận và xử lý thông tin, sau đó chuyển vào các kênh khác nhau. Có những thông tin được chuyển đến truyền thông đại chúng (mass media) như đài phát thanh, truyền hình, mạng internet, có những thông tin chuyển đến cơ quan chức năng như an ninh, cứu hoả, bệnh viện và có thông tin chuyển đến các trụ thông tin được lắp đặt khắp thành phố. Ở một số nước, họ chuyển thông tin công cộng đến hộp thu phát thông tin được gắn trên các cột đèn đường, cột đèn báo giao thông có khoảng cách 25-30 mét, người sử dụng chỉ việc đến sát cột điện là thu nhận được tất cả thông tin mà mình cần biết.

2. Khả năng người dân đón nhận SC: Thành phố thông minh là sự cộng hưởng từ nhiều yếu tố và nhiều phía, trong số đó, công dân thông minh (Smart citizen) được coi là một trong số các yếu tố quyết định sự thành bại của tham vọng này, bởi người dân vừa là chủ thể vừa là đối tác. Điều này được thể hiện ở chỗ:

– Người dân phải có tài chính cá nhân đủ để mua các thiết bị tối thiểu như laptop, smart phone, camera, cảm biến, đường truyền, …Người già ở Hà Nội, TP. HCM muốn tham gia vào hệ thống hỗ trợ sức khoẻ tại gia thì họ phải có tiền để gắn chip vào cơ thể, có máy tính nối với internet băng thông rộng để truyền thông tin, có camera có độ nét cao để bác sĩ nhận biết qua hình ảnh, có cảm biến nhiệt, cảm biến tiếng động để cho việc chẩn đoán từ xa;

– Dân trí đủ cao để sử dụng được các công nghệ và kỹ thuật mới. Không phải ai cũng có khả năng sử dụng các thiết bị kỹ thuật mới. Để hỗ trợ cho mục tiêu Quốc gia thông minh (Smart Nation), chính phủ Singapore cung cấp cho mỗi người già trên 60 tuổi 500 US Sing để đi học về IT trước khi triển khai đề án SN, để đảm bảo mọi người trở thành đối tác của chính phủ.

– Chấp nhận hợp tác, cùng hành động, cùng chia sẻ một cách tự nguyện. Ở những quốc gia nghèo, người dân có thể không hợp tác, thậm chí một số người còn lấy cắp các thiết bị kỹ thuật để bán như camera, cảm biến, dây dẫn,…

Nói như thế để thấy một thành phố chỉ trở thành thông minh khi có các “công dân thông minh”.

  • Phải có một ngũ chuyên gia cực giỏi và trung thành với lợi ích nhân dân. Để quản lý, vận hành một hệ thống kỹ thuật của thành phố thông minh, họ không chỉ là chuyên gia về công nghệ thông tin mà còn về các lĩnh vực khác như kinh tế, xã hội, tâm lý. Bởi bài toán SC không thuần tuý là IT mà là những vấn đề xã hội. Một điều khác nữa là các thành phố thông minh sẽ có các trung tâm xử lý thông tin, các trung tâm này được coi là bộ não của thành phố. Nếu các chuyên gia trong hệ thống tiếp tay cho kẻ xấu, tuồn thông tin mật của thành phố cho bọn khủng bố, bọn bắt cóc; bán thông tin cá nhân cho các nhà đầu cơ xấu (đất đai, thu nhập, thuế, số điện thoại) thì hậu quả rất tai hại.
  • Cần phải có “chính quyền thông minh”, “lãnh đạo thông minh”, gồm những người có tài, có tâm, minh bạch, bởi chính quyền thông minh sẽ biết ra quyết sách đúng, lựa chọn đúng lĩnh vực ưu tiên, quyết định mức đầu tư phù hợp và biết cách duy trì thành quả lâu dài, không rơi vào nôn nóng nhất thời và duy ý chí. Chính quyền thông minh sẽ có khả năng huy động nguồn lực trong và ngoài nước, có khả năng kết nối người dân và các tổ chức xã hội để thực hiện mục tiêu mong ước. Nói cho cùng thì công nghệ thông tin, kỹ thuật truyền thông hiện đại chỉ là công cụ, mà đã là công cụ cho dù hiện đại, tinh xảo đến mấy cũng mua được, cái quan trọng hơn là phải có con người thông minh sử dụng chúng. Do vậy, các chuyên gia quốc tế hàng đầu luôn nhấn mạnh các giải pháp thông minh của người lãnh đạo quan trọng hơn là công cụ thông minh.

Những mặt trái của thành phố thông minh

Sau gần 10 năm theo đuổi, các chuyên gia đã rút ra được những mặt trái của SC, gồm có:

Trước hết là sự cố rủi ro: Cả thành phố như một máy tính khổng lồ, một sự cố ngoài ý muốn có thể đưa đến hệ quả không lường được lớn hơn gấp nhiều lần so với thành phố hoạt động cơ học hay thủ công. Ví dụ: Hệ thống cảm biến bị hỏng không báo cháy trong cao ốc, hệ thống tự động điều khiển giao thông trên đường cao tốc bị hỏng khiến xảy ra tai nạn liên hoàn, hàng trăm xe hơi đâm vào nhau ở Pháp, Anh; hay hệ thống máy tính bị hỏng ở sân bay làm cho hoạt động bị tê liệt ở sân bay Tân Sơn Nhất là một ví dụ nhỏ, cục bộ, lớn hơn nữa là hacker xâm nhập được vào hệ thống máy tính ở trung tâm lấy cắp thông tin, làm tê liệt hoặc phát ra những quyết định giả dẫn đến huỷ diệt toàn thành phố.

SC tạo ra một xã hội lạnh lùng, cô đơn, tách biệt: Trong thành phố thông minh, hầu như các quan hệ xã hội, giao dịch dân sự được chuyển từ mặt đối mặt chuyển sang quan hệ gián tiếp thông qua Smart phone và các phương tiện thông tin khác. Kiểu quan hệ này cực nhanh, hiệu quả nhưng làm mất “cảm xúc xã hội”, tình cảm và sự quan tâm lẫn nhau. Xã hội sẽ gia tăng tình trạng phụ nữ độc thân, con trẻ người già cô đơn tự tử, các nhà quản lý xa dân vì các thủ tục hành chính được làm trực tuyến, thậm chí quan hệ gia đình, vợ chồng, cha mẹ, con cái cũng rơi trong tình trạng của toàn xã hội là “giao tiếp nhiều, nhưng không gặp gỡ ai”. Trước kia, khi đến một thành phố lạ, chúng ta hỏi đường, còn bây giờ tất tần tật hiển thị trên cái màn hình bé xíu, vậy là SC đã làm triệt tiêu “không gian sống sinh động” chuyển sang “không gian điện tử”, huỷ hoại môi trường dẫn xuất và chất xúc tác kết giao xã hội. Vào mùa đông, hàng trăm người già trên đất nước Nhật bị chết trong căn hộ đóng kín mà không ai biết là một ví dụ cay đắng cho một xã hội công nghệ thông tin và dịch vụ quá hoàn thiện.

Tạo ra khoảng cách tâm lý – xã hội: Việc tạo ra một thị trấn thông minh độc lập hay một khu dân cư thông minh trong lòng một thành phố lớn sẽ tạo ra một ốc đảo của những người “thượng lưu, giàu có” trong một thành phố phát triển ở trình độ thấp hơn. Điều đó có thể gây ra những xung đột xã hội. Những người nghèo, người dễ bị tổn thương như già cả, tật nguyền, trẻ mồ côi rất dễ bị đứng ngoài lề thành phố thông minh, đơn giản là họ không có đủ tiền để mua sắm các thiết bị đắt tiền tham gia cuộc chơi, hoặc không biết sử dụng các công nghệ-kỹ thuật mới. Người già cô đơn được tham gia vào mạng lưới y tế của thành phố thông minh, nhưng nếu họ không có tiền lắp đặt camera, cảm biến và máy tính trong nhà thì họ không có cách nào tham gia được vào hệ thống tầm soát sức khoẻ từ xa rất thông minh này.

Giảm sáng tạo cá nhân do lập trình hoàn hảo: Thành phố thông minh là một sự sắp đặt hoàn hảo của những tập đoàn kiến tạo nên nó, hay nói một cách khác nó là một thành phố được lập trình sẵn đến từng chi tiết nhỏ nhất. Chính điều đó đã làm giảm sự sáng tạo cá nhân, mất sự lãng mạn và sự bất ngờ không đoán định trước các tình huống khác nhau mà người ta gọi đó là “gia vị đô thị”. Các thành phố như Bangkok, TP HCM thu hút khách du lịch chính là ở chỗ nó có nhiều cái “ngẫu nhiên”, “bất ngờ” và “lộn xộn” thú vị. Các cư dân của thành phố Songdo cho hay họ sống trong một thành phố tự động hoá, tin học hoá quá cao nên đời sống xã hội khô cứng, cơ học, máy móc, tẻ nhạt, làm mất hẳn đi sự thú vị của đô thị hữu cơ. Hơn thế nữa nó làm cho người ta lười biếng vì đã có người nghĩ thay và bao cấp “sự sáng tạo”. Một thành phố như thế tối ưu về kỹ thuật, nhưng không hoàn hảo về văn hoá và xã hội.

Quyền tự do cá nhân bị xâm phạm: Để đảm bảo cho việc kiểm soát chặt chẽ toàn thành phố từ việc cháy nổ, tai nạn giao thông đến an ninh trật tự, khắp thành phố lắp đặt một mạng lưới camera theo dõi 24 giờ/ ngày và liên tục 365 ngày/ năm, chính điều này làm cho người dân nhận thấy nhất cử nhất động của họ ở bất cứ nơi nào trong thành phố đều bị theo dõi rất chặt chẽ mọi nơi, mọi lúc làm ảnh hưởng đến quyền tự do của con người. Chính vì điều này mà SC không được chào đón nồng nhiệt ở Mỹ, Đức và Canada.

Thông tin bị rò rỉ: Ở thành phố thông minh, dường như tất cả các thông tin cơ bản của cá nhân, gia đình và các tổ chức được lưu trữ ở một trung tâm nhằm phục vụ cho các hoạt động dân sinh như an ninh, thuế, việc làm, cư trú,… Khả năng bị rò rỉ do lỗi kỹ thuật, do thông tin bị bán ra ngoài bị dùng vào việc xấu là hoàn toàn hiện thực, các thông tin này có thể được dùng cho kinh doanh đen, khủng bố, khai thác vào việc hãm hại lẫn nhau.

Dôi dư lao động: Thành phố thông minh không cần nhiều lao động, rất nhiều lực lượng lao động mất việc, chẳng hạn như cảnh sát giao thông, cảnh sát du lịch, điều này khiến cho thất nghiệp tăng rất cao, thị trường lao động dôi dư, dẫn đến các tệ nạn xã hội nảy sinh; phúc lợi xã hội phải gánh rất nặng.

Nợ nần quốc gia và cá nhân: Vốn đầu tư cho thành phố thông minh ở cấp quốc gia/thành phố và người dân rất lớn, lên đến nhiều tỷ USD, nếu tính toán không cẩn thận có thể mang lại nợ nần cho quốc gia và cả người dân; đồng thời còn có nguy cơ lệ thuộc quá mức vào công nghệ, các phần mềm nhất là những tập đoàn lớn như CISCO, SIEMENS, IBM,.. do các công nghệ rất mau lạc hậu, phải mua hoặc nâng cấp liên tục. Nhiều nhà nghiên cứu đã cảnh báo việc đầu tư cho các thành phố thông minh có thể trở thành vũ khí bị chính trị hóa. Các thành phố có thể bị lôi cuốn vào các cuộc chạy đua mua sắm thiết bị nhưng không đầu tư nâng cấp đồng bộ về hạ tầng mềm, nền tảng xã hội để khai thác hiệu quả thông qua quá trình quản trị phù hợp. Kết quả là đầu tư lớn nhưng hiệu quả đem lại vẫn không giúp các thành phố thông minh hơn hay đủ để cạnh tranh trên phạm vi quốc tế. Một ví dụ là thành phố Đà Nẵng mới chỉ lắp đặt hơn 1.500 camera quan sát phục vụ giao thông đã phải chi hơn 120 tỷ đồng.

Một vài gợi ý cho việc xây dựng TP thông minh trong bối cảnh Việt Nam

Cho đến nay ở Việt Nam đã có khoảng 10 thành phố chính thức ký kết các hợp tác với đối tác trong và ngoài nước về việc xây dựng SC: Năm 2012, Đà Nẵng là đô thị đầu tiên ký hợp tác với tập đoàn công nghệ IBM; năm 2015, tỉnh Bình Dương đã ký hợp tác với Hà Lan; năm 2016, TP HCM, Lâm Đồng (TP.Đà Lạt), Kiên Giang (Phú Quốc) ký kết thỏa thuận với; năm 2017, Tiền Giang ký kết với VNPT xây dựng TP. Mỹ Tho thành SC. Ngoài ra các thành phố khác cũng đang trên đường khảo sát: Hà Nội, Hạ Long, Hải Dương, Hải Phòng, Ninh Bình, …Thực trạng này cho thấy một phong trào thi đua đã xuất hiện. Điều này là nguy hiểm, bởi ở Việt Nam có nhiều phong trào sớm bị thất bại như xây dựng các trung tâm hành chính cấp tỉnh, thành phố; phát triển dư thừa các trường đại học dân lập, đầu tư khu công nghiệp, cảng biển, sân bay. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, theo chúng tôi cần lưu ý một số điểm:

– Việc tiến hành xây dựng các TP quá lớn về diện tích, dân số quá đông, nhân khẩu học – xã hội quá khác biệt như Hà Nội và TP. HCM trở thành TP thông minh hoàn toàn (Full Smart City) là điều không hiện thực, mà chỉ nên chọn một vài lĩnh vực nóng và có thể làm được, chẳng hạn như giao thông, du lịch, y tế, môi trường…

– Nên chọn một số địa điểm thuận tiện cho việc triển khai, chẳng hạn như ở TP. HCM có những điểm như Khu đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM; Khu công nghệ cao, Khu phần mềm Quang Trung, Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Khu đô thị mới Thủ Thiêm, khu vùng lõi 930 ha… Đó là khu vực có thể xây dựng SC thành công.

– Với các thành phố trung bình và nhỏ như Đà Nẵng, Bình Dương, Phú Quốc, Đà Lạt có thể ứng dụng SC, nhưng cần cân nhắc thật kỹ lĩnh vực nào và qui mô tới đâu. Chẳng hạn như Phú Quốc cần đưa ngay tiêu chí SC vào quản lý và xử lý rác thải, Bình Dương cần đưa SC vào quản lý dân số vì đây là nơi có lượng người nhập cư cao nhất, phức tạp nhất cả nước,… Các thành phố có sự cố kết cộng đồng cao, thân thiện với khách du lịch như Đà Lạt, Nhà Trang, Phú Quốc có cần thiết phải phủ kín ICT không?. GS. Martin Nedden – Giám đốc Viện nghiên cứu các vấn đề đô thị của Quốc gia Đức, nguyên Phó Thị trưởng thành phố Leipzig trong lần đến làm việc tại TP. HCM ngày 7-10-2016 đã cho hay: Đức không theo đuổi mô hình SC mà theo đuổi mô hình “Thành phố xã hội” với mục tiêu tạo dựng cuộc sống “giản dị, ít nhân tạo, nhiều tự nhiên”.

Để kết thúc bài viết này, tôi muốn dẫn ra lời phát biểu của ông Lý Hiển Long – Thủ tướng Singapore trong ngày 24/11/2014, ngày khởi động chương trình “Quốc gia thông minh”: “Thông minh không phải được đo bằng sự phát triển của công nghệ, mà ở chỗ xã hội sử dụng công nghệ để xử lý các vấn đề phát sinh cũng như các thách thức gặp phải. Người dân là trung tâm của quốc gia thông minh chứ không phải là công nghệ”.

Tài liệu tham khảo
• Anthony M. Townsend. Smart Cities: Big Data, Civic Hackers, and the Quest for a New Utopia. Published October 6th 2014 by W. W. Norton & Company
• Nguyễn Minh Hoà. Phát triển thành phố thông minh ở Việt Nam: hiện trạng và tương lai. Báo cáo tại Hội thảo “Viễn cảnh thành phố Châu Á tương lai” tổ chức tại University of Sciences, Penang, Malaysia, 9-2016.
• Nguyễn Minh Hoà. Phú Quốc tiếp cận đến mô hình đô thị thông minh như thế nào là hợp lý. Hội Qui hoạch phát triển Đô thị Việt Nam; UBND tỉnh Kiên Giang. Kỷ yếu Hội thảo “Giải pháp nào cho công tác qui hoạch và quản lý qui hoạch nhằm xây dựng Đô thị Phú Quốc thành đảo Du lịch-Nghỉ dưỡng-Sinh thái biển đặc sắc”, 18-3-2017.
• Nguyễn Minh Hoà. Thành phố thông minh: xu hướng tất yếu hay sự lựa chọn khôn ngoan. Người Đô Thị. Số 59. 4-2017.
• Nguyễn Minh Hoà. Đô thị thông minh: Những chiều kích và hệ quả khác nhau. Bộ Xây dựng, Viện Qui hoạch xây dựng Miền Nam. Kỷ yếu hội thảo “Đô thị thông minh trong qui hoạch và phát triển đô thị”. 19-5-2017.
• Allwinkle, S. & Cruickshank, (2011) Creating smart-er cities: An overview, Journal of Urban Technology.
• Batty, M. (2013) Big data, smart cities and city planning, Dialogues in Human Geography.

 

PGS.TS. Nguyễn Minh Hoà

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 6/2017)