Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản kiến trúc tại các điểm du lịch ở Quảng Ninh

Tóm tắt

Quảng Ninh có hệ thống di sản kiến trúc phong phú, phân bố tại các điểm du lịch khác nhau về giá trị, quy mô, cường độ khai thác và cấu trúc quản lý. Điều này đặt ra yêu cầu xây dựng công cụ theo dõi và đánh giá hiệu quả quản lý phù hợp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu, khảo sát thực địa tại các điểm du lịch có di sản kiến trúc, điều tra xã hội học tại một số điểm đại diện, phỏng vấn cán bộ quản lý và tham vấn chuyên gia. Theo tiếp cận quản lý dựa trên kết quả, các điểm khảo sát được phân thành 5 nhóm; đồng thời xác lập 6 nhóm tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý gồm: Bảo tồn giá trị di sản; quản trị và điều hành; hiệu quả kinh tế – xã hội; phát triển du lịch bền vững; môi trường và cảnh quan; giáo dục, nhận thức và sự tham gia của cộng đồng. Sáu nhóm tiêu chí được cụ thể hóa thành 24 chỉ số, gồm bộ tiêu chí tối thiểu áp dụng chung và bộ tiêu chí mở rộng lựa chọn theo từng nhóm điểm; đồng thời xác định nguồn dữ liệu và cơ chế vận hành, phản hồi nhằm hỗ trợ điều chỉnh quản lý.

Từ khóa: Di sản kiến trúc; quản lý di sản; bộ chỉ số; hiệu quả quản lý; điểm du lịch; Quảng Ninh.

Solutions for Improving the Effectiveness of Architectural Heritage Management at Tourist Sites in Quang Ninh Province

Abstract: Quang Ninh possesses a rich system of architectural heritage distributed across tourist sites that vary in heritage significance, spatial scale, tourism intensity, and management structure, creating a need for appropriate tools to monitor and assess management effectiveness. The study employs document review and synthesis, field surveys at tourist sites with architectural heritage, questionnaire-based surveys at selected representative sites, interviews with management officials, and expert consultation. Based on a results-based management approach, the surveyed sites are classified into five groups, while six groups of criteria for assessing management effectiveness are established: Heritage value conservation; Governance and administration; Socio-economic effectiveness; Sustainable tourism development; Environment and landscape; and Education, awareness, and community participation. These six groups of criteria are operationalized into 24 indicators, comprising a minimum indicator set applicable to all site groups and an extended indicator set selected according to the characteristics of each group. The study also identifies relevant data sources and proposes operational and feedback mechanisms to support management adjustment.

Keywords: Architectural heritage; Heritage management; Indicators; Management effectiveness; Tourist sites; Quang Ninh.

1. Đặt vấn đề

Quảng Ninh có hệ thống di sản văn hóa phong phú và hoạt động du lịch phát triển mạnh [4], [16]. Toàn tỉnh hiện có 636 di tích, đồng thời có 88 điểm du lịch đã được công nhận [13], [16]. Năm 2025, Quảng Ninh đón 21,28 triệu lượt khách, tổng thu du lịch đạt khoảng 57.000 tỷ đồng [3]. Quy mô di sản lớn và cường độ khai thác du lịch cao đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý di sản kiến trúc (DSKT).

Khảo sát các điểm du lịch có DSKT cho thấy điều kiện quản lý giữa các điểm có sự khác biệt: Các quần thể di sản trọng điểm thường có lượng khách cao và nhiều chủ thể tham gia; các điểm tâm linh – lễ hội chịu áp lực tập trung theo mùa vụ; các điểm khác gắn trực tiếp với đời sống của người dân với phương thức quản lý khác nhau, khiến khó đánh giá chất lượng và hiệu quả quản lý.

Trong thực tế, kết quả quản lý thường được phản ánh thông qua số lượng nhiệm vụ đã thực hiện như kiểm tra, tu bổ, đầu tư, tổ chức hoạt động, lượng khách hoặc doanh thu. Các thông tin này cần thiết nhưng chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả quản lý nếu giá trị di sản suy giảm, cảnh quan bị tác động hoặc nguồn lực không được tái đầu tư phù hợp.

Các tiếp cận quản lý di sản hiện nay nhấn mạnh quản trị đa bên, bảo tồn, kinh tế di sản, kiểm soát sức chứa và sự tham gia cộng đồng [1], [2], [6], [7], [12], [15]. Với sự phân hóa giữa các nhóm điểm tại Quảng Ninh, một hệ thống quá đơn giản khó đáp ứng yêu cầu tại các di sản trọng điểm, trong khi một hệ thống quá phức tạp và áp dụng đồng loạt có thể vượt quá năng lực dữ liệu của các điểm quy mô nhỏ.

Nguồn ảnh: Tác giả

Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý DSKT tại các điểm du lịch TP Quảng Ninh trên sáu phương diện, nhằm theo dõi kết quả, nhận diện vấn đề và cung cấp căn cứ điều chỉnh quản lý, thay vì chỉ phục vụ xếp hạng các điểm di sản.

2. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở khoa học

Thứ nhất là cơ sở pháp lý, gồm các quy định của pháp luật về di sản văn hóa, du lịch, quy hoạch, xây dựng, cùng các chính sách của TP Quảng Ninh, xác lập yêu cầu về hồ sơ, bảo vệ, tu bổ, khai thác và trách nhiệm của các chủ thể quản lý [9], [9], [10], [11].

Thứ hai là cơ sở lý luận, nghiên cứu kế thừa cách tiếp cận quản lý dựa trên kết quả, theo đó hiệu quả không chỉ được xác định bằng nguồn lực đầu vào hoặc số lượng hoạt động đã hoàn thành mà thông qua những thay đổi và kết quả đạt được so với mục tiêu quản lý. Đối với quản lý DSKT, chuỗi hoạt động đánh giá được xác định theo hướng: Mục tiêu quản lý → Tiêu chí đánh giá → Chỉ số theo dõi → Dữ liệu → Kết quả đánh giá → Phản hồi và điều chỉnh. Khung đánh giá đồng thời kế thừa quản trị đa bên [1], [12], quản lý du lịch di sản và kiểm soát áp lực khách [5], [6], [7], [8], kinh tế di sản gắn khai thác với tái đầu tư [15], và tiếp cận cảnh quan đô thị lịch sử [17].

Thứ ba là cơ sở thực tiễn của Quảng Ninh. Kết quả khảo sát cho thấy hiệu quả quản lý DSKT chịu tác động đồng thời bởi giá trị di sản, đặc điểm không gian, cường độ du lịch, cấu trúc chủ thể và năng lực quản lý.

Đây là căn cứ để bộ chỉ số vừa bao quát các yêu cầu chung, vừa có khả năng lựa chọn và điều chỉnh theo từng nhóm điểm.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp dữ liệu định lượng. Khảo sát thực địa được thực hiện tại các điểm du lịch có DSKT, tập trung vào hiện trạng bảo tồn, tổ chức quản lý, không gian – cảnh quan, hoạt động du lịch và các chủ thể tham gia.

Điều tra xã hội học đối với cộng đồng địa phương và khách du lịch tại các điểm đại diện được sử dụng để bổ sung thông tin về giá trị di sản, không gian – môi trường, trải nghiệm và mức độ tham gia; phỏng vấn cán bộ quản lý và tham vấn chuyên gia hỗ trợ rà soát tính phù hợp và khả năng áp dụng của khung đánh giá

Việc lựa chọn chỉ số dựa trên năm yêu cầu: Phân loại để gắn trực tiếp với mục tiêu quản lý; đại diện cho các nhóm tiêu chí; có nội dung và cách xác định phù hợp; có nguồn dữ liệu kiểm chứng và khả năng cập nhật; phù hợp với đặc điểm của các nhóm điểm. Bộ chỉ số tập trung vào các nội dung cần được theo dõi thường xuyên.

3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

3.1. Phân nhóm điểm du lịch có DSKT theo yêu cầu đánh giá

Kết quả khảo sát cho phép phân thành năm nhóm: (1) Di sản trọng điểm, quy mô lớn, có áp lực khách và cấu trúc quản lý phức tạp; (2) Tâm linh – lễ hội, có tính mùa vụ và vai trò lớn của cơ sở tôn giáo; (3) Cộng đồng – làng quê – vùng đệm, nơi bảo tồn gắn với sinh kế cư dân; (4) Di tích đơn lẻ, quy mô nhỏ, thường quản lý kiêm nhiệm; (5) Điểm đặc thù do doanh nghiệp, lực lượng vũ trang hoặc đơn vị chuyên biệt trực tiếp quản lý. Sự phân nhóm này là cơ sở để xác định bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý.

3.2. Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý

3.2.1 Bộ tiêu chí đánh giá

Sáu nhóm tiêu chí được xác lập phản ánh các kết quả nghiên cứu, đó là:

  • Bảo tồn giá trị di sản giữ vai trò nền tảng, tập trung vào hồ sơ, chất lượng can thiệp, kiểm soát vi phạm và dữ liệu bảo tồn;
  • Quản trị và điều hành phản ánh mức độ rõ ràng trong phân công trách nhiệm, hiệu quả phối hợp, khả năng xử lý công việc, tính công khai và trách nhiệm giải trình;
  • Hiệu quả kinh tế – xã hội đánh giá đóng góp của di sản đối với việc làm, sinh kế, nguồn thu và khả năng tái đầu tư;
  • Phát triển du lịch bền vững tập trung vào khả năng điều tiết dòng khách, kiểm soát sức chứa, tổ chức sản phẩm, dịch vụ và chất lượng trải nghiệm;
  • Môi trường và cảnh quan đánh giá việc kiểm soát vùng bảo vệ, vùng phụ cận, tuyến tiếp cận, tầm nhìn, môi trường và rủi ro;
  • Giáo dục, nhận thức và sự tham gia của cộng đồng phản ánh khả năng diễn giải, truyền thông, tham vấn và giám sát xã hội.

Từ sáu nhóm tiêu chí, nghiên cứu đề xuất 24 chỉ số. Mỗi chỉ số gắn với nội dung cần theo dõi, ý nghĩa quản lý và cấp độ áp dụng nhằm tăng khả năng thích ứng với sự khác biệt giữa các nhóm điểm.
Các chỉ số sử dụng dữ liệu định lượng, định tính hoặc kết hợp. Ý nghĩ của việc phân tầng áp dụng không làm giảm yêu cầu bảo tồn tại mỗi điểm khác nhau mà điều chỉnh mức độ phức tạp của công cụ cho phù hợp thực tiễn. Bộ chỉ số tối thiểu xác lập yêu cầu quản lý nền tảng, còn bộ mở rộng áp dụng khi điều kiện khai thác và quản trị phức tạp hơn.

Bảng 1. Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý di sản kiến trúc tại các điểm du lịch TP Quảng Ninh

3.2.2 Áp dụng bộ tiêu chí

Bộ chỉ số được phân thành hai cấp độ: 10 chỉ số tối thiểu áp dụng chung cho toàn bộ các điểm, tập trung vào các yêu cầu quản lý nền tảng; 14 chỉ số mở rộng được lựa chọn theo quy mô, giá trị di sản, áp lực du lịch, nguồn thu, năng lực dữ liệu và mô hình quản lý. Việc phân tầng giúp giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu thống nhất và tính khả thi.

Bảng 2. Định hướng áp dụng bộ chỉ số theo nhóm điểm

Khả năng vận hành của bộ chỉ số phụ thuộc vào nguồn dữ liệu và trách nhiệm cập nhật.

Bảng 3. Định hướng nguồn thu thập dữ liệu

Chu kỳ cập nhật cần phù hợp với tính chất dữ liệu. Hồ sơ pháp lý được cập nhật khi có thay đổi; tình trạng kỹ thuật theo kỳ kiểm tra hoặc sau can thiệp; dòng khách theo tháng, mùa hoặc khung thời gian ngắn hơn tại điểm chịu áp lực cao; biến động không gian – cảnh quan cập nhật định kỳ và khi phát sinh sự việc.

Cơ chế thực hiện bao gồm: Giám sát, báo cáo, phản hồi và điều chỉnh. Giám sát thực hiện theo nguyên tắc khách quan, minh bạch, liên tục và có khả năng điều chỉnh; được tổ chức theo ba cấp độ: Tại điểm do BQL hoặc chủ thể trực tiếp quản lý; giám sát chuyên môn của cơ quan quản lý nhà nước; và giám sát xã hội thông qua cộng đồng và các bên liên quan. Cơ chế báo cáo là khâu trung gian giữa hoạt động giám sát và quá trình ra quyết định quản lý; kết quả giám sát được tổng hợp theo biểu mẫu và chu kỳ thống nhất, theo ba cấp: Điểm di sản, địa phương và cấp tỉnh, làm căn cứ cho quyết định và điều chỉnh quản lý. Phản hồi và điều chỉnh cần thực hiện theo nguyên tắc: Phát hiện vấn đề – Xác định nguyên nhân – Phân công trách nhiệm – Điều chỉnh giải pháp – Theo dõi lại kết quả.

Đình Quan Lạn – Nguồn: thegioidisan.vn

4. Kết luận

Sự khác biệt về giá trị, quy mô, cường độ khai thác, nguồn lực và cấu trúc chủ thể tại các điểm du lịch có DSKT ở Quảng Ninh đòi hỏi đánh giá quản lý theo kết quả thay vì chỉ dựa vào nguồn lực và số lượng hoạt động.

Nghiên cứu phân các điểm khảo sát thành 5 nhóm, trên cơ sở đó xác lập 6 nhóm tiêu chí, được cụ thể hóa thành 24 chỉ số có khả năng theo dõi và kiểm chứng. Cơ chế phân tầng gồm 10 chỉ số tối thiểu và 14 chỉ số mở rộng vừa tạo ngưỡng quản lý nền tảng chung, vừa cho phép điều chỉnh theo mức độ phức tạp của từng nhóm điểm.

Đình Trà Cổ
Nguồn: Laodong.vn

Khả năng vận hành phụ thuộc vào nguồn dữ liệu, chu kỳ cập nhật và trách nhiệm của chủ thể quản lý; kết quả đánh giá cần gắn với cơ chế phản hồi và điều chỉnh để bộ chỉ số trở thành công cụ hỗ trợ quản lý dựa trên kết quả

Việc đánh giá hiệu quả thực tế cần tiếp tục thông qua thu thập dữ liệu cơ sở, áp dụng theo chu kỳ tại các nhóm điểm đại diện và hiệu chỉnh các ngưỡng mục tiêu trước khi triển khai rộng trên phạm vi toàn tỉnh.

ThS.KTS Lương Vũ Đàm Ninh
GS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2026)


Tài liệu tham khảo
[1] Aas, Christina; Ladkin, Adele and Fletcher, John (2005): “Stakeholder Collaboration and Heritage Management”, Annals of Tourism Research, 32(1), tr. 28–48;
[2] European Expert Network on Culture and Audiovisual (2019): Carrying Capacity at Sensitive Cultural Heritage Sites, European Commission, Brussels;
[3] Hoàng Quỳnh (2025): “Du lịch Quảng Ninh bứt phá ngoạn mục, Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh, ngày 26/02/2026;
[4] Hoàng Yến (2026): “Đưa du lịch Quảng Ninh trở thành kinh tế mũi nhọn”, Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh, ngày 10/01/2026;
[5] ICOMOS (1999): International Cultural Tourism Charter: Managing Tourism at Places of Heritage Significance, ICOMOS, Mexico;
[6] ICOMOS/ICCROM/UNESCO/IUCN (2013): Managing Cultural World Heritage (Resource Manual), UNESCO World Heritage Centre, Paris;
[7] IUCN (2018): Tourism and Visitor Management in Protected Areas: Guidelines for Sustainability, Best Practice Guidelines No. 27, IUCN, Gland;
[8] Pedersen, Arthur (2002), Managing Tourism at World Heritage Sites: A Practical Manual for World Heritage Site Managers, UNESCO World Heritage Centre, Paris;
[9] Quốc hội (2017): Luật Du lịch số 09/2017/QH14;
[10] Quốc hội (2024): Luật Di sản Văn hóa số 45/2024/QH15;
[11] Quốc hội (2024): Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15;
[12] Ripp, Matthias and Rodwell, Dennis (2016): “The Governance of Urban Heritage”, The Historic Environment: Policy & Practice, 7(1), tr. 81–108;
[13] Sở Du lịch Quảng Ninh (2023): Danh sách khu điểm du lịch đã công nhận trên địa bàn TP Quảng Ninh;
[14] Sở Văn hóa và Thể thao Quảng Ninh (2024): Báo cáo về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn TP giai đoạn 2018–2024, Quảng Ninh;
[15] Throsby, David (2012): “Heritage Economics: Theoretical Framework and Practical Applications”, trong Licciardi, Guido and Amirtahmasebi, Rana, chủ biên, The Economics of Uniqueness: Investing in Historic City Cores and Cultural Heritage Assets for Sustainable Development, The World Bank, Washington, D.C., tr. 41–54;
[16] UBND Quảng Ninh (2025): “Phê duyệt danh mục di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn TP Quảng Ninh”, ngày 09/01/2025;
[17] UNESCO (2011): Recommendation on the Historic Urban Landscape, UNESCO, Paris.