Quy hoạch phát triển hành lang xanh Thủ đô Hà Nội Cơ hội và thách thức

Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 đã được thiết lập với việc mở rộng Thủ đô chủ yếu về phía Tây, thuộc tỉnh Hà Tây cũ. Một trong những nét mới của đồ án là thiết lập các hành lang xanh, vành đai xanh đan xen và bao bọc đô thị. Theo quy hoạch chung, “Hành lang xanh” này tập trung chủ yếu từ vành đai 4 tới khu vực sông Đáy, sông Tích, trên địa bàn các huyện Phúc Thọ, Đan Phượng, Thạch Thất, Hoài Đức, Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai, Ứng Hoà và Phú Xuyên – Giáp với các đô thị vệ tinh như Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên. Hành lang xanh cũng có một phần ở phía Bắc của huyện Mê Linh, khu đồi núi Hầm Lợi gần Sóc Sơn.
Hà nội rất cần những vành đai xanh như môt kho tài sản thiên nhiên và nhân văn quý giá
Hành lang xanh toàn thành phố có diện tích khoảng 2.341 km2, chiếm 68% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó diện tích chủ yếu là ở khu vực hành lang xanh phía Tây, bao bọc từ ngoài vành đai 4. 
Việc hình thành hệ thống hành lang xanh bao bọc bên ngoài khu vực phát triển (còn được gọi là vành đai xanh – green belt) cho các đô thị lớn với các dạng khác nhau như vành đai rừng, vành đai nông nghiệp…là rất cần thiết và đã áp dụng thành công cho nhiều đô thị lớn trên thế giới. Vành đai xanh tạo nên những giới hạn của sự phát triển đô thị, tránh việc mở rộng lan tỏa tự phát, đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển với tạo lập môi trường sống tốt cho đô thị, và đã trở thành một bộ phận gắn liền với cấu trúc đô thị.
Phương án quy hoạch hai bên bờ sông Hồng
Thủ đô Viennna của Áo là thành phố thiết lập hành lang xanh sớm nhất – từ hơn 150 năm trước, diện tích vành đai xanh bằng 50% diện tích của cả thành phố, khoảng 41.500 ha. Tuy nhiên, vẫn có thể coi Anh là đất nước đi đầu trong phát triển lý luận về hành lang xanh và đưa vào đô thị một cách bài bản. Vành đai xanh lớn của vùng London được thiết lập năm 1935, đến năm 1955, hầu hết các đô thị ở Anh đều được xây dựng các vành đai xanh. Tới năm 2009, tổng diện tích vành đai xanh của các đô thị lớn (Metropolitan) ở Anh đã lên tới 514.495 ha, trong đó vùng London có 31.278 ha là vùng vành đai xanh.
Thành phố Melbourne Australia
Vành đai xanh của thành phố Adelaide (bang South Australia) là hệ thống 29 công viên với diện tích khoảng 7,6 km2. Hệ thống công viên này vừa là lá phổi xanh đô thị, vừa là nơi cung cấp các dịch vụ vui chơi, giải trí, ngắm cảnh của người dân.
Trong những năm 1950-1960, vành đai xanh đã trở thành một nội dung  phổ biến, mang tính quốc tế trong mọi đồ án quy hoạch các đô thị lớn. Tới các đô thị lớn của châu Âu hiện nay, chúng ta có thể nhìn thấy các vành đai xanh bao bọc lấy đô thị. Ra khỏi thành phố là những cánh rừng, đồng ruộng thuần khiết, tuyệt nhiên không có những công trình xây dựng lan tỏa hai bên đường như ở các đô thị lớn của chúng ta hiện nay.
Khái niệm Hành lang xanh gần đây mới đưa vào các đồ án Quy hoạch ở Việt Nam chứng tỏ chúng ta khá chậm trong việc tiếp thu các kinh nghiệm phát triển đô thị trên thế giới. Tuy nhiên cũng chưa phải đã quá muộn, hành lang xanh đưa vào trong Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thực sự là cơ hội để thực hiện được mục tiêu phát triển đô thị theo hướng bền vững.
Cơ hội để phát triển hành lang xanh
Trên thế giới, có nhiều mô hình phát triển chức năng hành lang xanh khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên, tính chất vai trò của nó với đô thị lớn. Nhìn chung có một số mô hình, chức năng sau:
– Đất nông nghiệp và các khu dân cư nông nghiệp.
– Rừng tự nhiên hoặc rừng bảo tồn.
– Các khu du lịch, thể thao, vui chơi giải trí.
– Khu vực nhà vườn, mật độ xây dựng thấp, nhà không để ở mà chỉ để phục vụ làm nhà nghỉ cuối tuần cho người dân đô thị.
– Khu nhà biệt thự mật độ thấp.
Trong Đồ án quy hoạch Thủ đô cũng đã xác định hành lang xanh có các chức năng chính là: diện tích đất nông nghiệp, đa dạng sinh học, di sản văn hóa, diện tích phát triển dựa trên bảo tồn, khu vực nông thôn (làng nông nghiệp, làng nghề,…). 
Đây là sự nhìn nhận mới, bởi lẽ trước đây khu vực vùng ven nội đô thường chỉ được nhìn nhận như đất nông nghiệp ngoại thành với sự gắn kết về góc độ kinh tế, lao động. Tuy nhiên, hành lang xanh là phần gắn kết chặt chẽ, là bộ phận quan trọng làm tăng diện tích cây xanh, diện tích thiên nhiên để bảo vệ môi trường, đáp ứng nhu cầu của người dân đô thị chứ không chỉ cho cuộc sống của người dân làng xã, nông thôn.
Với khu vực đã được xác định, hành lang xanh của Hà Nội thực sự có nhiều cơ hội, thuận lợi để phát triển:
– Về điều kiện tự nhiên: Có địa hình phong phú, đồng bằng xen lẫn đồi núi, có sông Tích, Sông Đáy, đặc biệt là khu vực rừng quốc gia Ba Vì, khu vực đền Sóc  còn có diện tích cây xanh, độ che phủ lớn, nhiều suối, hồ có cảnh quan đẹp. Đây là điều kiện thuận tiện để phát triển khu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho người dân cũng như các nhu cầu phát triển nhà vườn, nhà nghỉ cuối tuần.
– Khu vực còn nhiều đất nông nghiệp, ngoài trồng lúa đã có nhiều hình thức canh tác khác như thâm canh trồng hoa, trồng cây đặc sản, trồng cây cảnh mang lại giá trị kinh tế cao. Đồng thời hệ sinh thái đồng ruộng cũng góp phần vào việc bảo vệ môi trường và hệ sinh thái đặc trưng lúa nước của vùng ĐBSH.
– Các làng xã bên trong hành lang xanh có giá trị văn hóa cao: Các điểm dân cư làng xã vùng ven Hà Nội phần lớn là các làng truyền thống, có giá trị văn hóa lịch sử đa dạng, phong phú. Hệ thống đình chùa của khu vực rất phong phú, có nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng như chùa Thầy, chùa Trăm gian, chùa Trầm …Yêu cầu bảo tồn các giá trị di sản này cũng là cơ hội để có thể gìn giữ các khu vực có cảnh quan phù hợp, mật độ xây dựng thấp. Bên cạnh đó, còn có các giá trị phi vật thể khác như nghề truyền thống, ẩm thực, lễ hội…rất phong phú. Đây cũng là cơ hội để phát triển các hoạt động du lịch, gắn kết hoạt động nghỉ ngơi vui chơi giải trí với du lịch sinh thái, du lịch văn hóa.
– Đã hình thành nhiều điểm khu du lịch sinh thái: Có những khu lớn như khu du lịch Tản Đà, Khoang Xanh, Suối Tiên, khu du lịch sinh thái Bảo Sơn, khu du lịch Tuần Châu – Hà Tây…và hàng trăm hồ câu, khu du lịch sinh thái có quy mô từ vài ha tới vài chục ha, ví dụ như Song Phượng vườn (Thạch Thất), khu du lịch sinh thái Cọ Xanh (Đông Anh), Khu Đồi Thông (Thạch Thất), hồ câu Từ Hải (Thường Tín). Thực tế đã cho thấy nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cuối tuần là rất lớn và cảnh quan đồng quê, ẩm thực, thú vui câu cá, chơi cây xanh thu hút nhiều người dân đô thị. Đây cũng sẽ là tiền đề để hình thành các mô hình sinh thái vừa gia tăng yếu tố sinh thái khu vực, vừa tạo được các nguồn thu để phục vụ cho công tác xây dựng.
Nhìn chung, khu vực Hành lang xanh Hà Nội là một kho tài sản thiên nhiên và nhân văn quý giá, đó là những cơ hội để có thể xây dựng các mô hình phát triển, đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, điều đó cũng không có nghĩa việc phát triển Hành lang xanh theo các mục tiêu là dễ dàng. Có rất nhiều thách thức cần phải vượt qua.
Mô hình quy hoạch Hà Nội mở rộng đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050
Các thách thức để đạt được các mục tiêu theo định hướng quy hoạch:
Thứ  nhất, phạm vi của vành đai xanh phải thực sự là ranh giới phát triển của đô thị. Như vậy, dự báo về phát triển dân cư đô thị phải tương đối chính xác. Bởi lẽ không có nghĩa cứ có vành đai xanh là ngăn được sự phát triển của đô thị. Nếu dự báo sai hoặc các chính sách kiểm soát phát triển đô thị lớn kém hiệu quả, căn bệnh đô thị “to đầu” vẫn hình thành thì trước sức ép tăng dân cư và nhu cầu mở rộng diện tích, việc lấy đất của vành đai xanh cho phát triển đô thị  sớm muộn cũng sẽ xảy ra. Vấn đề này đòi hỏi phải có chính sách vĩ mô, dựa trên sự điều chỉnh đầu tư phát triển theo quy hoạch hệ thống đô thị quốc gia.
Thứ hai là việc ngăn chặn các dạng phát triển lệch so với mục tiêu “xanh”, không để các dạng phát triển như nhà ở mật độ cao, các khu công nghiệp độc hại … hình thành bên trong hành lang xanh. Có chính sách kiềm chế hoặc giảm mật độ dân cư, xây dựng ở khu vực vành đai xanh hiện có.
Đây chính là điều đáng lo ngại, thách thức hiện hữu trước mắt. Khu vực vành đai xanh phía Tây Hà Nội có 10 thị trấn và khoảng 250 xã với các làng nông thôn truyền thống, trong đó có nhiều làng nghề hoạt động phi nông nghiệp đang gia tăng với lượng dân nhập cư đang tăng đáng kể. Tình trạng ô nhiễm ở nhiều làng nghề, đặc biệt ở huyện Thạch Thất là đáng báo động.
Khu vực hành lang xanh phía Bắc Hà Nội, các làng xã cũng có nguy cơ tăng mật độ dân cư từ khía cạnh khác, đó là việc nhập cư của dân lao động làm việc tại các khu công nghiệp lân cận, có thể thấy hiện tượng này tại các xã như Kim Chung (Đông Anh), Thạch Bàn… Đây là một thách thức lớn bởi các làng xã cũng là những cơ thể sống, có tính lịch sử, cộng đồng truyền thống cao, mối quan hệ xã hội đa chiều và đặc tính tiểu nông còn rõ nét, các mệnh lệnh hành chính rất khó có hiệu quả.
Nếu các làng xóm phát triển với mật độ cao, trở thành các điểm dân cư kiểu đô thị hoặc nửa đô thị thì không thể kiểm soát theo cơ chế của bộ phận thuộc hành lang xanh, mà phải rút khỏi cơ chế quản lý chung, coi như thành phần ngoại lai. Với hiện trạng phân bố rải đều của các làng xã hiện nay, phần đất của hành lang xanh sẽ bị chia cắt loang lổ bởi các làng xã đô thị hóa cao, làm giảm đi tác động bảo vệ môi trường chung cho đô thị. Đồng thời diện tích thực sự của Hành lang xanh cũng sẽ giảm xuống.
Về vấn đề này cũng đã có bài học từ sự phát triển vành đai xanh của Thủ đô Seoul – Hàn Quốc. Sau một thời gian phát triển, đến năm 2002, nhiều diện tích bên trong Hành lang xanh phải rút khỏi danh mục quản lý theo luật “Phát triển vành đai xanh” vì mật độ đã quá cao.
Bên cạnh các làng xã hiện hữu còn có các thị trấn và một số công trình sản xuất công nghiệp nằm rải rác. Khả năng phát triển các đô thị này theo hướng đô thị sinh thái cũng sẽ không dễ dàng nếu không được đầu tư thích đáng. Tình trạng phát triển bám dọc theo đường quốc lộ 32, quốc lộ 6 cũng là một trở ngại với mục tiêu hình thành một môi trường sinh thái tốt trong vành đai xanh, sự chia cắt của các tuyến đường với nhà dân hai bên đi kèm làm giảm đi tính liên kết của hệ thống sinh thái, thường là tiền đề cho các dạng lấn chiếm, xây dựng tự phát.
Thứ ba là thách thức từ việc hình thành, phát triển các chức năng “xanh” bên trong hành lang xanh với các mô hình phát triển phù hợp.
Phát triển theo dạng sản xuất nông nghiệp truyền thống là phù hợp nhất với trình độ, tập quán và tâm lý của người dân, dễ được chấp nhận với cả người dân làng xã và dân đô thị. Bất kỳ việc sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích gì khác cũng hết sức nhạy cảm.
Tuy nhiên việc sản xuất nông nghiệp theo phương thức truyền thống hiện nay chưa hoàn toàn hiệu quả, sản lượng thấp, đất chia manh mún. Chính từ hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thấp mà dẫn đến gia tăng tâm lý muốn chuyển đổi đất nông nghiệp sang làm các chức năng khác.
Với mục tiêu bảo vệ môi trường cho đô thị, đây không chỉ đơn thuần là đất nông nghiệp mà còn phải là đất cây xanh cho bảo vệ môi trường, cây xanh tạo cảnh quan ven sông, cây xanh bảo vệ hành lang thoát lũ…
Với mục tiêu giữ mật độ xanh cao nhưng phải khai thác hiệu quả sử dụng đất, ngoài mô hình nông nghiệp truyền thống còn cần có các mô hình nông nghiệp đô thị với việc đầu tư công nghệ cao, sản xuất theo mô hình công nghiệp để tăng hiệu quả kinh tế, đây cũng là giải pháp để có thể giữ người dân ở lại làng xóm, gắn bó với nghề nông.
Nhiều nơi trên thế giới cũng đã hình thành mô hình này có hiệu quả, đặc biệt mô hình “hưu nhàn nông nghiệp” – cho phép người dân đô thị thuê đất làm nông nghiệp ở Đài Loan và một số nước châu Âu đang áp dụng cũng rất phù hợp với nhu cầu của nhiều người dân đô thị đã về hưu hiện nay.
Mô hình du lịch sinh thái cũng cần được chấp nhận vì nó có thể khai thác đất đai có hiệu quả, thân thiện với môi trường và là mô hình đang có sức hút đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi của người dân đô thị.
Chức năng phục vụ vui chơi giải trí khác như công viên rừng, khu thể thao ngoài trời cũng có thể được xem xét chấp nhận vì cũng phục vụ cho mục tiêu xanh, môi trường và hoạt động nghỉ ngơi cuối tuần của người dân đô thị.
Một số nước đang phát triển như Ấn Độ còn linh hoạt hơn bằng việc chấp nhận một số dạng nhà ở biệt thự vườn đơn lẻ (không phải là khu đô thị mới), mật độ thấp, đất rộng trong khu vực vành đai xanh cho những người có thu nhập cao, đây là một cách tạo nguồn thu để phát triển hạ tầng chung.
Tuy nhiên, ngay cả những mô hình này cũng có những mặt hạn chế nhất định – rất cần hình thành các tiêu chí đánh giá để so sánh, cân nhắc khi thực hiện. Ví dụ mô hình sản xuất nông nghiệp truyền thống sẽ duy trì được đất nông nghiệp nhưng với hiệu quả kinh tế thấp lại không hỗ trợ cho quá trình ổn định, đảm bảo đời sống người dân trong quá trình đô thị hóa; hoặc với mô hình “vườn đô thị” cho người hưu nhàn là một mô hình tăng hiệu quả sử dụng đất nhưng phải kiểm soát thường xuyên, nghiêm ngặt vì dễ bị biến tướng thành đất xây dựng. 
Thay lời kết: 
Thách thức bao trùm đối với hành lang xanh Thủ đô Hà Nội chính là một hệ thống chính sách quản lý phát triển, được luật hóa hiện nay chưa được hình thành. Các điều khoản quy định trong đồ án Quy hoạch dù ở cấp độ nào cũng không có đủ sức mạnh để quản lý có hiệu quả bởi tất cả đều là những mô hình phát triển mới, liên quan đến chính sách đất đai, quyền sử dụng và chính sách đầu tư…Sự nhận thức của giới chuyên môn và của cả xã hội với vai trò của vành đai xanh, hành lang xanh đối với các đô thị lớn nhìn chung còn mờ nhạt. 
Với điều kiện phát triển phức tạp hiện nay, rất cần nghiên cứu để xây dựng Luật “Phát triển hành lang xanh”, lồng ghép với Luật Phát triển đô thị để áp dụng cho tất cả các đô thị lớn ở Việt Nam.
Cơ hội và thách thức luôn là 2 mặt của một quá trình phát triển, tuy nhiên khẳng định tính tích cực sẽ luôn là ưu thế. Hy vọng Hành lang xanh, vành đai xanh của Thủ đô Hà Nội sẽ là một điểm sáng trong công tác quy hoạch và là một minh chứng cho niềm tin vào Thủ đô phát triển bền vững trong tương lai. 
PGS.TS.KTS Phạm Hùng Cường
Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Xây dựng