Phê bình kiến trúc: Từ “đọc” đến “đối thoại” trong kỷ nguyên số – Phần 1: Phê bình kiến trúc qua lăng kính ký hiệu học

Tóm tắt

Bài báo gợi mở một cách tiếp cận và một góc nhìn cho phê bình kiến trúc đương đại qua lăng kính Ký hiệu học không gian trước những biến động của kỷ nguyên số. Bằng việc soi rọi tiến trình dịch chuyển các hệ hình tư duy từ Hình thức luận, qua Cấu trúc luận, đến Hiện tượng luận, nghiên cứu chỉ ra sự “lỗi nhịp” của lối tư duy “đọc” truyền thống, từ đó nhận ra phê bình kiến trúc cần chuyển dịch sang hệ hình “đối thoại” tương tác đa chiều. Để bạn đọc theo dõi trọn vẹn mạch lý luận, nội dung sẽ được đăng qua 3 kỳ liên tiếp:

  • Phần 1 – Phê bình kiến trúc qua lăng kính Ký hiệu học: Xem kiến trúc như một văn bản không gian, đi từ thông điệp, hệ thống ký hiệu đến cơ chế tạo nghĩa; qua đó định vị phê bình như là hành vi “đọc” văn bản không gian này, tức “giải nghĩa” kiến trúc.
  • Phần 2 – Sự chuyển dịch ý nghĩa kiến trúc trong bối cảnh mới: Qua các hiện tượng kiến trúc với bản chất ý nghĩa luôn tiếp diễn theo thời gian, cộng thêm áp lực từ tính bối cảnh mới, đã thúc đẩy sự dịch chuyển của Ký hiệu học biểu hiện qua văn bản kiến trúc đổi thay từ đóng sang mở, từ đơn sang đa, từ tĩnh sang động; từ đó phát lộ sự “lỗi nhịp” của tư duy “đọc” truyền thống.
  • Phần 3 – Hướng đi cho phê bình kiến trúc đương đại: Đề xuất ứng xử phê bình theo tư duy “đối thoại” trước sự nhiễu loạn của xã hội truyền thông ở giai đoạn “Giải mã” và sự can thiệp của AI ở giai đoạn “Cài mã”, hướng tới lối kết mở giúp dung hợp nghịch lý đương đại và gìn giữ các giá trị nhân văn.

Từ khoá: Cài mã, giải mã, hệ hình tư duy, Ký hiệu học không gian, Phê bình kiến trúc, trí tuệ nhân tạo AI, văn bản mở, xã hội truyền thông, ý nghĩa kiến trúc.

Lời mở đầu

Trong bối cảnh truyền thông kỹ thuật số đương đại, sự cảm thụ kiến trúc đang đứng trước những dịch chuyển sâu sắc. Sự tương tác trên không gian mạng dường như đang lấn át trải nghiệm thực tế – Một công trình có thể trở nên có tiếng trên màn hình nhờ những diễn ngôn nổi bật, những bài đánh giá trực tuyến hay hình ảnh check-in lung linh. Hiện tượng này khắc hoạ kiến trúc như một phương tiện truyền thông, hơn chỉ là vào chức năng như kẻ cung ứng không gian hữu ích.

Song, khi phương tiện truyền thông ấy bị chi phối mạnh bởi mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo (AI), những câu hỏi thực tế được đặt ra: Kiến trúc ngày nay nên thiết kế phục vụ cho không gian ảo trên mạng, hay cho trải nghiệm thực ngoài đời, hay dung hòa cả hai? Trước sự trợ giúp của AI, khi những vẻ đẹp hào nhoáng dễ tạo ra trên hình ảnh, người thiết kế nên chạy theo xu hướng bề nổi đó, hay cần giữ lại sự chân thật cần có của kiến trúc? Liệu tư duy thiết kế có đang quay lại thời Hình thức luận, tạo ra kiến trúc “màn hình” – Chỉ để thoả mãn thị hiếu số đông đang ngắm nhìn qua điện thoại?

Để trả lời những trăn trở này, cần nhiều người hoạt động kiến trúc cùng tự vấn, trong đó người làm phê bình kiến trúc (PBKT) cần phát huy hơn nữa vai trò của mình. PBKT nay cần có thái độ hợp thời với AI, song đòi hỏi tư duy phản biện đa nhiệm và sáng suốt hơn. Nhận thấy Ký hiệu học là một lối tiếp cận mang tính phương pháp luận, người viết hy vọng đây là một công cụ hữu hiệu, nhằm định hình một lối ứng xử hợp thời và thiết lập thêm một hướng đi cho nền phê bình kiến trúc đương đại.

Phần 1: Phê bình kiến trúc qua lăng kính kí hiệu học

Từ thông điệp đến bản chất ý nghĩa kiến trúc

Đã có nhiều nghiên cứu bàn về “Kiến trúc là gì?”, nay thử bàn “Ý nghĩa kiến trúc là gì?”

Đi từ những định nghĩa kiến trúc như PGS. Trương Quang Thao đã góp nhặt [8], liệt kê vài định nghĩa điển hình, thường có dạng cấu trúc “tam nguyên”.

Screenshot

Dường như đã có sự dịch chuyển ngầm về tư duy, khi hai trụ cột đầu: Tiện dụng/công năng – Bền vững/kết cấu, chỉ khác nhau từ dùng, nghĩa thì tương đồng hầu như không thay đổi về bản chất – nói về “phần xác” vật lý. Tuy nhiên, có thể thất sự khác biệt ở trụ cột thứ ba: Thích thú/đẹp đẽ/ hình thức sang “biểu tượng”. Tại sao có sự dịch chuyển này?

Sự xuất hiện của khái niệm “biểu tượng” trong định nghĩa của Kenzo Tange đánh dấu một bước ngoặt quan trọng: Kiến trúc không còn chỉ để “nhìn” hay để thoả mãn thị giác, mà bắt đầu được hiểu như một thứ có thể “đọc” được. Đến đây, kiến trúc như một hệ thống truyền thông.

Thật vậy, Robert Venturi cũng cho rằng “Kiến trúc như một biểu tượng”, “Biểu tượng có trước hình thức: Las Vegas như là một hệ thống truyền thông”. Năm 1964, J.Summerson đã cho ra đời một công trình nghiên cứu: Ngôn ngữ cổ điển của kiến trúc, năm 1973 Bruno Zevi đưa ra Ngôn ngữ Hiện đại của kiến trúc và tiếp theo năm 1977, Charles Jencks công bố Ngôn ngữ của kiến trúc Hậu hiện đại,… Tất cả như thừa nhận kiến trúc như là một thực thể biết nói, xác nhận kiến trúc như là một dạng ngôn ngữ.

Khi được coi như một ngôn ngữ, kiến trúc sở hữu khả năng mang tải và truyền đạt thông tin. Lúc này, người kiến trúc sư (KTS) không chỉ thực hiện những hành vi kỹ thuật như dựng tường hay đổ bê tông; mà thông qua đó, họ “mã hóa” những tâm tình, tư tưởng và giá trị nhân văn vào vật thể kiến trúc. Nhìn vào hai cây thánh giá của Tadao Ando để thấy rõ cơ chế này: Một khe sáng chữ thập như xé toạc bóng tối trong không gian nén đặc của Nhà thờ Ánh sáng chính là “mã” cho sự tĩnh tại nội tại và dường như cho cả sự khổ hạnh; trong khi đó một cấu trúc thép vươn cao độc lập giữa mặt nước bao la của Nhà thờ trên nước lại là “mã” cho sự khai phóng, hướng ngoại và khát vọng tự do. Những ý đồ tổ chức không gian ấy không đơn thuần phục vụ cho những khối tích vô tri, mà chính là Thông điệp kiến trúc gửi đến người trải nghiệm và thấu cảm.

Bản chất của mọi quá trình giao tiếp nằm ở sự tương tác giữa hành vi truyền tải và năng lực lãnh hội thông điệp; đó cũng chính là nơi ý nghĩa được xác lập. Chiếu theo lăng kính này, thông điệp kiến trúc không nằm ngoài ý nghĩa – Trái lại, nó chính là phương thức tồn tại và là cách thức mà ý nghĩa kiến trúc “lên tiếng”. Thật vậy, ý nghĩa không tồn tại tự thân trong các thực thể vật lý như viên gạch hay tấm kính. Nó chỉ thực sự nảy sinh thông qua hành vi cài nghĩa ý đồ của người thiết kế và sự giải nghĩa, lĩnh hội của người sử dụng (NSD) thông qua trải nghiệm thực tế và thấu cảm. Vì lẽ đó, có thể đi đến một định nghĩa: Ý nghĩa kiến trúc chính là tổng hòa các thông điệp kiến trúc được cài đặt và chiêm nghiệm.

Ký hiệu không gian và cơ chế tạo nghĩa

Nếu thông điệp là bản chất của ý nghĩa kiến trúc, thì để cấu thành nên những thông điệp đó, kiến trúc bắt buộc vận hành như một hệ thống biểu đạt có cấu trúc. Nhìn nhận từ góc độ phương pháp luận, đây chính là lãnh địa của Ký hiệu học. Lý giải sâu hơn về cơ chế này, PGS.TS. Trương Quang Thao khẳng định: Hệ thống truyền thông kiến trúc thực chất là một hệ thống ký hiệu – Ký hiệu không gian [8]. Tương tự như trong ngôn ngữ tiếng nói, các từ ngữ được ghép lại để tạo thành câu; trong kiến trúc, các “ký hiệu không gian” (hình khối, đặc rỗng, ánh sáng, vật liệu,…) được tổ chức để tạo thành những thông điệp hoàn chỉnh.

Dưới lăng kính của lý thuyết truyền thông và Ký hiệu học, vật thể kiến trúc đóng vai trò là vật chuyển tải thông tin; tiến trình thiết kế là quá trình cài đặt các “mã” ý nghĩa của người thiết kế; và quá trình sử dụng chính là hành vi đọc, “giải mã” các thông điệp ý nghĩa ấy. Tiến trình truyền thông này kéo dài từ bản vẽ cho đến khi công trình chấm dứt sự tồn tại vật chất và diễn ra qua hai giai đoạn tương tác chính:

  • Giai đoạn tạo lập ký hiệu (1): KTS tham gia với tư cách là nguồn phát, chủ động cài đặt ý đồ qua từng nét vẽ;
  • Giai đoạn sử dụng ký hiệu (2): Người sử dụng đóng vai trò là nguồn nhận. Khái niệm người sử dụng ở đây không chỉ giới hạn ở những đối tượng sử dụng trực tiếp, mà còn mở rộng ra các thành phần gián tiếp như: Cộng đồng đô thị, nhà quản lý, người quan sát, giới phê bình và các nhà nghiên cứu kiến trúc. Khi công trình rời khỏi bàn tay của KTS, nó bắt đầu hành trình truyền thông của mình đến với người sử dụng.

Về bản chất, hành vi ký hiệu hóa là việc chuyển đổi một vật thể trung tính, vô nghĩa thành vật có nghĩa. Thao tác này gồm hành vi “cài mã” (encoding) ở giai đoạn tạo lập và “giải mã” (decoding) ở giai đoạn sử dụng, tạo nên các tương tác sinh nghĩa cho kiến trúc. Sự tạo nghĩa này thiết lập mối liên kết giữa cái mang nghĩa và cái có nghĩa, tuân theo cấu trúc của ký hiệu (sign) hay biểu tượng (symbol): Một thành phần vật chất đứng ra đại diện và “nói thay” cho một nội dung khác; hai thực thể này không tách rời nhau mà kết liền nhau làm một. Dựa trên hệ hình lý thuyết của Ferdinand de Saussure [7], mối quan hệ này thường được cấu trúc hóa dưới dạng công thức:

Trong đó, “cái biểu thị” (Signifiant – Sa) là hình thái vật lý biểu lộ ra bên ngoài, còn “cái được biểu thị” (Signifié – Se) là phần nghĩa ẩn mình bên trong. Khi dịch chuyển cấu trúc này vào kiến trúc, mối quan hệ trên được cụ thể hóa thành các cặp tương ứng: Vật mang nghĩa/ Vật thể kiến trúc hay Không gian kiến trúc và Vật có nghĩa/ Chức năng hay công năng hữu ích:

Tương tự, qua kiến trúc cơ chế tạo nghĩa cũng qua hai giai đoạn. Trong giai đoạn khởi tạo, ý nghĩa kiến trúc tồn tại dưới dạng những mục tiêu tự thân của người thiết kế. Khi đặt bút vẽ, KTS không chỉ giải quyết các thông số kỹ thuật thuần túy mà đang thực hiện một hành vi “cài mã”. Những quan điểm triết học, nhân sinh và thông điệp văn hóa được nén chặt vào các ký hiệu không gian. Lúc này, ý nghĩa chính là nỗ lực tạo ra một trật tự không gian mang tải một thông điệp có giá trị nhất định, chờ đợi được phát lộ. Đó là chức năng hữu ích tiềm ẩn (vật có nghĩa) được biểu thị bằng vật thể kiến trúc (vật mang nghĩa).

Mặt khác, chiếu theo tính tổng toàn của kiến trúc [5], kiến trúc chứa đựng trong không gian nó tạo ra cùng lúc ba vật thể vật lý, xã hội và nghệ thuật. Thật vậy, vật thể kiến trúc cũng như bất cứ vật thể tạo tác nào, trước hết phải là một vật thể vật lý: Một hệ thống kết cấu mang lực, kết cấu bao che hay kết cấu trang trí. Đó là hình hài của kiến trúc, nó đảm nhận chức năng sử dụng. Thứ đến, cái vật thể vật lý ấy tạo ra không gian, không phải không gian trung tính mà có mục tiêu sử dụng, tức quy định những ứng xử của người tiêu dùng sử dụng nó, theo những nhu cầu xã hội của họ đối với không gian họ cần tới. Tức là, kiến trúc thoả mãn các chức năng xã hội, và vật thể trông coi chức năng này gọi là vật thể xã hội. Sau cùng, kiến trúc mang lại cho người tiêu dùng sự thỏa mãn về các nhu cầu mỹ cảm và tâm thức: Kiến trúc là vật thể nghệ thuật và chức năng mỹ cảm thể hiện qua vật thể nghệ thuật này. Vậy là Kiến trúc chứa đựng trong không gian nó tạo ra cùng lúc ba vật thể: Vật lý, xã hội, nghệ thuật và biểu hiện tương ứng thành các chức năng sử dụng, chức năng xã hội và chức năng mỹ cảm. Cụ thể hóa qua sơ đồ phân giải dưới đây:

Screenshot

Bước sang giai đoạn sử dụng ký hiệu, ý nghĩa kiến trúc được biểu thị cụ thể thành công năng hữu ích hiển hiện (vật có nghĩa). Các công năng này chỉ thực sự sinh nghĩa khi được đặt vào trạng thái vận hành thực tế, tức các chức năng (function) tiềm ẩn ở giai đoạn tạo lập đang hoạt động thành công năng (functioning) hiển hiện. Nói cách khác, thông điệp kiến trúc sẽ rơi vào trạng thái tĩnh lặng nếu thiếu đi hành vi “đọc”, hoặc nếu người tiếp nhận không thể hiểu “thông” thông điệp đó. Ý nghĩa kiến trúc chỉ thực sự trọn vẹn khi nó được chuyển hóa thành những giá trị mà người sử dụng nhận lãnh và chiêm nghiệm thông qua hành vi “giải mã”. Chính vì vậy, ý nghĩa cuối cùng của một công trình là sự tổng hòa giữa những thông điệp được cài đặt từ người kiến tạo và những giá trị thực tế được cộng đồng người sử dụng nhận lãnh và thấu cảm.

Kiến trúc như là một văn bản

Trong một thời gian dài, kiến trúc thường bị đóng khung trong vai trò của một loại hình nghệ thuật thị giác, nơi đòi hỏi thỏa mãn thị hiếu nhãn quan qua các quy luật về tỉ lệ, hình khối hay màu sắc. Tuy nhiên, dưới lăng kính của tư duy Ký hiệu học, kiến trúc đã thoát khỏi cái ý niệm duy mỹ đó, để bước sang địa phận của sự diễn ngôn. Một công trình giờ đây không còn chỉ để “ngắm” như một hình khối tĩnh, mà bắt đầu được thấu hiểu như một thực thể có thể “đọc” được – như một văn bản.

Thật vậy, Umberto Eco – nhà ký hiệu học lỗi lạc với “Tác phẩm mở” (The Open Work), người đã trực tiếp đưa khái niệm văn bản vào kiến trúc qua các nghiên cứu về Ký hiệu học. Kiến trúc, theo ông, là một loại văn bản đặc biệt vì nó có chức năng nguyên phát (primary function / để ở) và chức năng thứ phát (secondary function / để truyền tải ý nghĩa) [2].

Tiêu biểu nhất trong việc thực hành xu hướng này là KTS Peter Eisenman. Ông coi việc thiết kế không gian như là một hành động “viết” không gian. Trong các công trình của mình, Eisenman chủ động tách rời kiến trúc khỏi công năng và thẩm mỹ truyền thống; các hệ lưới, mảng tường hay điểm cột được ông đối xử như các “dấu vết” (traces) trên trang giấy không gian, thách thức người trải nghiệm phải tư duy để “đọc” được mạch suy nghĩ của tác giả [3].

Từ những nền tảng lý thuyết và thực tiễn đó, khi xem kiến trúc như một văn bản, chúng ta thừa nhận góc nhìn: Mỗi không gian, mỗi chi tiết cấu tạo đều là những ký hiệu mang tải thông điệp. Người KTS lúc này không còn là người sắp đặt khối tích thuần túy, mà trở thành “người viết” sử dụng ngôn ngữ không gian. Qua lăng kính này, các thành phần kiến trúc cơ bản nhất như sàn, mái, hay cửa sổ đều thoát ly khỏi giới hạn vật lý để trở thành những “từ vựng” cấu thành nên một hệ thống truyền thông phức hợp.
Kiến trúc cần được đọc các thông điệp mang ý nghĩa này. Phê bình kiến trúc là gì nếu không phải đi tìm “đọc” và “thông dịch” các ý nghĩa này?

Phê bình – Hành vi “đọc” văn bản kiến trúc

Trong hoạt động truyền thông kiến trúc, nguồn phát – KTS, kỹ sư…; nguồn nhận – người sử dụng, người quản lý, người quan sát, cộng đồng xã hội, người làm công tác giáo dục kiến trúc, người phê bình … Trong đó, người phê bình có thể nói là cầu nối giữa nguồn phát và nguồn nhận, người thể hiện sự thực hành mang tính lý thuyết nhất, hẳn sẽ giúp sự truyền thông kiến trúc thông suốt – Là người sẽ “giải mã” các thông điệp ý nghĩa của kiến trúc thành các công năng hữu ích hiển hiện thông qua các vật thể kiến trúc. Các cặp tương ứng là vật thể vật lý của kiến trúc sẽ đảm nhận công năng sử dụng; vật thể xã hội – vật thể trông coi công năng xã hội của kiến trúc; sau cùng, vật thể nghệ thuật với công năng mỹ cảm thể hiện qua nó. Qua khám phá những mối quan hệ này, sự tương tác giữa chúng, người phê bình sẽ “đọc’ và “thông dịch” các ý nghĩa của kiến trúc:

Mô hình hóa hai giai đoạn thực hiện Ký hiệu không gian kiến trúc thành sơ đồ như sau:

Đến đây, có thể thấy rằng: Ký hiệu học là công cụ hữu hiệu cho phê bình kiến trúc, bởi nay PBKT không còn là sự phán xét chủ quan, yêu ghét theo cảm tính mỹ học thông thường – Nó trở thành một hoạt động khoa học về nhận thức, tập trung phân tích cách thức một thông điệp kiến trúc được cài mã và giải mã trong thực tế đời sống. Cụ thể, đó là xem xét ba vật thể kiến trúc và các chức năng chúng thể hiện có mối quan hệ như thế nào, tương tác ra sao để thấy quá trình truyền thông có thông suốt không ở cả hai giai đoạn?

Thực tế vận hành cho thấy: Ý nghĩa phát sinh từ cộng đồng và truyền thông thường không trùng khít với ý đồ ban đầu của tác giả, minh chứng rõ nhất ở hiện tượng Nhà hát Opera Sydney: Công trình đã tạo nên nhiều ẩn dụ thú vị, nhưng không còn là ý tưởng “những đám mây trắng phau” ban đầu của tác giả. Những cánh buồm trắng no gió đón khách, những cánh hoa đang nở, những vỏ sò hay những con rùa đang giao phối… là những liên tưởng từ người quan sát nếu chỉ cần đổi góc nhìn.

Nguồn: https://learning.knoji.com
Nguồn: https://www.aboutaustralia.com
Nguồn: https://vi.pngtree.com
Nhà hát Opera Sydney

Nghĩa là, thông điệp kiến trúc được cài ở giai đoạn tạo lập không được “đọc” đúng ở giai đoạn sử dụng. Chính vì thế Roland Barthes cho ra đời tác phẩm “Cái chết của tác giả” – Ông cho rằng: Văn bản không phải là một dòng các từ ngữ giải phóng một ý nghĩa duy nhất (ý đồ của tác giả), mà là một không gian đa chiều [1]. Khi coi công trình là một văn bản, ý đồ của KTS không còn là chân lý độc tôn. Ý nghĩa của công trình chỉ thực sự ra đời khi có “người đọc” tham gia vào quá trình trải nghiệm.

Nếu cách đọc chỉ một chiều về phía tác giả, nó sẽ làm giới hạn ý nghĩa kiến trúc – Vì ý nghĩa của một công trình chính là sự tổng hòa giữa những thông điệp mà KTS muốn truyền tải và những giá trị mà cộng đồng người sử dụng nhận lãnh, thấu cảm. Ở đây, sự thấu cảm không đơn thuần là hiểu đúng ý đồ của KTS, mà còn là quá trình tương tác giữa trải nghiệm cá nhân của người dùng hay cộng đồng với hệ thống ký hiệu không gian trong ngữ cảnh của công trình. Điều này biến kiến trúc thành một hệ thống mở – Văn bản mở.

Dù là một nhà lý luận văn học, tư tưởng của Barthes đã góp phần tái định hình cách phê bình kiến trúc nhìn nhận về ý nghĩa. Phê bình lúc này đóng vai trò như một người phát lộ, giúp người sử dụng kiến trúc “đọc” xuyên qua lớp vỏ vật chất để chạm tới các tầng của ý nghĩa, nơi kiến trúc thực sự tương tác với con người và bối cảnh.

Sự chuyển dịch của Ký hiệu học

Trong kỷ nguyên đương đại, mối quan hệ tương tác giữa con người và bối cảnh không còn bó hẹp trong ranh giới của thực địa vật lý. Sự phát triển của truyền thông và công nghệ kỹ thuật số đặt ra một áp lực lớn, buộc “văn bản – kiến trúc” phải tự tiến hóa để thích nghi, thành các cấu trúc linh hoạt hơn như văn bản mở, văn bản vĩ mô, liên văn bản, văn bản số, hay văn bản của những trải nghiệm số đông… Thực tế đó trở thành động lực thúc đẩy hệ hình Ký hiệu học không gian dịch chuyển từ các ký hiệu đơn lẻ, tĩnh sang một hệ thống phức hợp và biến đổi liên tục. Bối cảnh mới tác động trực tiếp vào cả hai giai đoạn của tiến trình Ký hiệu học kiến trúc; trong đó, trọng tâm sự dịch chuyển rõ rệt từ ý đồ chủ quan của nguồn phát sang quá trình tiếp nhận và giải mã thực tế của người sử dụng.

Ở giai đoạn tạo nghĩa, KTS không còn cố gắng thiết lập một công trình đơn nghĩa theo kiểu áp đặt một ý định duy nhất cho người dùng. Thay vào đó, người thiết kế chủ động tạo ra tính đa nghĩa và không gian mở, cho phép người sử dụng tự do trải nghiệm và định hình ý nghĩa theo nhu cầu riêng. Hệ quả là ở giai đoạn giải nghĩa, vị thế của người tiếp nhận được nâng cao. Một công trình không còn là một đối tượng tĩnh tại để quan sát một chiều, mà trở thành một thực thể có khả năng tương tác liên tục với con người.

Để làm rõ quá trình tiếp nhận mang tính động này, lý luận kiến trúc dựa vào khái niệm “Mã hóa kép” (Double Coding) của Charles Jencks [4]. Jencks xác định kiến trúc là một văn bản mang tính truyền thông, được viết đồng thời cho hai đối tượng độc giả: quần chúng (đọc các ký hiệu truyền thống, bản địa, công năng) và các chuyên gia (đọc các ký hiệu học thuật, lịch sử, trường phái…).
Trong điều kiện hiện nay, tầng “mã hoá” quần chúng này tương thích với sự phát triển của văn bản trải nghiệm số đông trên mạng xã hội. Lớp mã này không còn giới hạn ở các yếu tố vật lý tại khu đất, mà mở rộng thành hệ thống hình ảnh đại chúng lưu hành trên môi trường số. Cấu trúc văn bản đa tầng này giải thích lý do một công trình có thể vừa gần gũi với số đông cộng đồng mạng, vừa giữ được tính học thuật đối với giới chuyên môn, tùy thuộc vào phông văn hóa của người đọc trong quá trình tiếp nhận kiến trúc.

Sự va chạm giữa các tầng nghĩa này cho thấy kiến trúc là một hệ thống ký hiệu phức hợp, bởi lẽ kiến trúc chứa đựng trong không gian nó tạo ra cùng lúc ba vật thể: Vật lý, xã hội và nghệ thuật. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa ba vật thể mới là điều làm nên công trình kiến trúc [10]. Không phải các vật thể ở tư thế cái này cộng với cái kia, cái này ở trong cái kia – Mà cái này vừa là cái kia. Hiện tượng này được VENTURI phát hiện và gọi đó là hiện tượng nhập nhằng (ambiguity) nước đôi (both – and) [6].

Chính sự chuyển dịch này làm thay đổi khả năng truyền tải thông điệp của kiến trúc thông qua quá trình tương tác giữa con người và không gian.

Tiến trình này vạch ra sơ đồ phát triển của ký hiệu học kiến trúc: Đi từ các Ký hiệu không gian cố định, phát triển thành một Hệ thống ký hiệu phức hợp đa tầng, và cuối cùng đạt đến trạng thái một Hệ thống ký hiệu biến đổi theo dòng thời gian. Sự dịch chuyển của hệ thống ký hiệu không gian kiến trúc này có thể tóm lược thành ba giai đoạn sau:

Vì thế, thay vì chỉ đứng bên ngoài “nhìn” trầm trồ trước vẻ đẹp hữu hình hay thụ động “đọc” ý tác giả; những khán giả ngày nay chủ động tham gia vào hành trình giải mã những ẩn ý mà tác giả đã cài đặt, tương tác và đồng sáng tạo nên những tầng nghĩa mới cho kiến trúc.

● Những hành vi “đọc” ấy sẽ ra sao khi chính bối cảnh thời đại đang thay đổi với tốc độ chóng mặt? Nếu lăng kính Ký hiệu học ở Phần 1 đã giúp chúng ta tiếp cận ý nghĩa kiến trúc như một “văn bản” mang tính cấu trúc; thì sang Kỳ 2, góc nhìn Hiện tượng luận sẽ đưa văn bản ấy hòa vào thực tại và trải nghiệm đương đại. Kính mời bạn đọc tiếp tục theo dõi Phần 2: “Sự chuyển dịch ý nghĩa kiến trúc trong bối cảnh mới” – Chúng ta sẽ cùng phân tích xem áp lực từ bối cảnh đã thúc đẩy sự dịch chuyển của hệ hình Ký hiệu học như thế nào, từ đó phát lộ sự lỗi nhịp của những tư duy “đọc” truyền thống.

TS.KTS Lê Trần Xuân Trang*
* Khoa Kiến trúc – Trường ĐH Kiến trúc TP. HCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06-2026)


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] Barthes, R. 1977: The death of the author. N.p.: Fontana Press;
[2] Eco, U. 1989: The Open Work. N.p.: Harvard University Press;
[3] Hale, Jonathan A. 2000: Building ideas – An introduction to Architectural theory. New York: John Wiley & Sons;
[4] Jencks, C. 1977: The Language of Post-Modern Architecture. N.p.: Rizzoli;
[5] Lê, Sơn T. 2019; Biểu tượng và không gian kiến trúc – đô thị. N.p.: Nhà xuất bản Xây dựng Hà Nội;
[6] Lê, Trang T. 2005: Về tính “nhập nhằng” (phức hợp và mâu thuẫn) trong Kiến trúc, Luận văn thạc sĩ. TP.HCM: Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM.
[7] Lê, Trang T. 2019: Diễn giải truyền thống trong kiến trúc Việt Nam Đương đại – Luận án Tiến sĩ kiến trúc. TP.HCM: Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM.
[8] Saussure, Ferdinand de: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cao Xuân Hạo dịch). Hà Nội – Translated by Hạo Xuân Cao, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 2005;
[9] Trương, Thao Q. 1995: Nhận dạng vài khía cạnh khoa học trong Kiến trúc học và đô thị học – Hà Nội: Khoa Kiến trúc, ĐH Xây dựng Hà Nội.
[10] Trương, Thao Q. 2002: “Bản chất cộng sinh văn hoá của Kiến trúc hay Kiến trúc là gì?” – Tạp chí Kiến trúc, 02, 2002.