Quy hoạch Phát triển Thủ đô Hà Nội từ tiếp cận vùng văn hóa

Như các thành phố lớn trên thế giới, Hà Nội trải qua nhiều lần nâng cấp, cải tạo và mở rộng. Lần mở rộng vào tháng 8 – 2008 làm cho Hà Nội gia tăng diện tích từ 924 km2 với 3,4  triệu dân tăng lên 3.344 km2 (gấp 4 lần) và 6,448 triệu dân. Một quyết định hành chính đã đưa Hà Nội trở thành thành phố lớn thứ 17 trên thế giới, lớn nhất cả nước về diện tích và thứ hai về dân số. Hà Nội đang phát triển theo kiểu làn tỏa từ khu vực các quận trung tâm nội thành theo hình thái vết dầu loang sang vùng nông thôn mới mở rộng. Theo một lẽ thông thường là khi mở rộng ra như thế các nhà qui hoạch bao giờ cũng bắt đầu từ giao thông, làm sao kéo dài hay mở mới các trục giao thông từ các quận nội thành hiện hữu ra vùng ngoại vi mới mở rộng để hình thành nên một mạng giao thông đa cấp (quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, hương lộ) nhằm nối các trung tâm kinh tế, trung tâm hành chính, các nhà máy, khu công nghiệp lại với nhau thành một hệ thống liên hoàn. Tiếp theo đó là hình thành các điểm dịch vụ như siêu thị, bệnh viện, chợ, trường học bám theo các trục lộ,…Đây là cách thức qui hoạch cổ điển và truyền thống. Nó không sai, nhưng bộc lộ một sự chưa hoàn chỉnh, bởi như thế mới chỉ tiếp cận qui hoạch từ phần cứng (cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công trình) mà thiếu hẳn các phần mềm về văn hóa và xã hội.

Bản đồ vị trí Hà Nội với các vùng lân cận

So với cả nước thì Hà Nội là vùng đất có chiều dài lịch sử lâu đời nhất, sau hơn 1.000 năm tích tụ, khiến cho Hà Nội là nơi sở hữu giàu có nhất những giá trị văn hóa – xã hội mà không nơi nào có được. Khi Hà Nội mở rộng ra gấp 4 lần thì trong thâm tâm của các nhà lãnh đạo chính trị, các nhà qui hoạch và cả người dân nữa tự nhiên hình thành một suy nghĩ là phải làm sao nhanh chóng “Hà Nội hóa” tất cả các vùng khác nhau nằm trong địa giới 3.400 km2, làm sao cho khoảng cách vùng mới và vùng cũ được thu hẹp lại để sớm trở thành một thủ đô hoành tráng, văn minh, hiện đại. Những quyết tâm chính trị đặt ra là nhanh chóng trong thời gian ngắn nhất nâng tỷ lệ thị dân trong cơ cấu dân cư lên 90%, giảm nhanh tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân) để đảm bảo tiêu chí đô thị loại đặc biệt (theo Nghị định số 72/2001/NĐ – CP của Chính phủ), sau nữa là tiến hành bê tông hóa tất cả các đường làng ngõ xóm, chuyển đổi đất ruộng thuộc loại “bờ xôi, ruộng mật” thành khu công nghiệp, các khu chế xuất, xuất khẩu các mô hình từ nội thành cũ sang các vùng mới như việc chuyển làng truyền thống thành “phường, khu phố văn hóa”. Một hệ quả đang diễn ra là các làng truyền thống nhanh chóng bị phá vỡ tạo ra tình trạng “làng không ra làng, phố không ra phố”, đâu đâu cũng nhà phố hình ống chồi ra mặt đường và kéo theo đó là các văn hóa vùng miền bị suy giảm và dần biến mất. Người dân ở các huyện, xã mới ở Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phúc vốn xưa kia là đất thuần nông nay đang cố gắng trở thành người Hà Nội theo cách như họ hiểu, chẳng hạn cố “nói ngọng như người Hà Nội”, “chảnh như người Hà Nội”, và ráng bỏ đi những nét chân thật, giản dị đáng qúy của “người nhà quê”.
Nếu quan sát và suy ngẫm một chút, chúng ta có thể thấy về mặt văn hóa và xã hội thì Hà Nội không đồng chất, nó chính là sự kết hợp của các vùng văn hóa khác nhau. Về đại thể (có thể chưa chính xác mà còn thảo luận thêm) Hà Nội hiện nay kết hợp bởi 3 vùng văn hóa. Vùng văn hóa thứ nhất là Hà Nội cũ (gồm 10 quận nội thành trước 2008), đây là vùng văn hóa được hình thành từ lâu, chịu ảnh hưởng của các văn hóa được tiếp biến từ bên ngoài (chủ yếu là Pháp), với mức độ văn minh khá cao, văn hóa của vùng trung tâm này được hình thành từ các vùng miền khác nhau bởi những người nhập cư nên cũng rất đa dạng. Vùng thứ hai là văn hóa về phía Tây và Bắc của Hà Nội, đây là vùng văn hóa mang đặc trưng của trung du (bán sơn bán địa) và chịu ảnh hưởng của văn hóa vùng núi cao. Hình thái sản xuất của người dân của vùng văn hóa này là thuần nông, trồng trọt các loại cây trái ở đồi như chè, khoai, sắn, bạch đàn,…Vùng văn hóa thứ 3 ở phía Đông và Nam của Hà Nội, đây là vùng văn hóa đồng bằng châu thổ sông Hồng, điển hình của văn minh lúa nước, chịu ảnh hưởng của văn hóa biển. Mặc dù mỗi vùng có sự hiện tượng văn hóa giao thoa và chồng lấn nhau, ảnh hưởng qua lại, nhưng chúng cũng có những dấu ấn văn hóa và định dạng riêng. Nếu Hà Nội cũ là phi nông nghiệp, thì vùng mở rộng hầu hết là thuần nông. Mỗi vùng có phong tục tập quán trong “quan, hôn, tang tế”, lễ hội, ẩm thực, trang phục không hoàn toàn giống nhau. Một ví dụ Hà Tây có trên 200 làng nghề truyền thống, trong đó nổi tiếng như làng lụa Vạn Phúc, làng thêu Quất Động, làng tò he Xuân La, làng mộc Chàng Sơn, làng sơn mài Duyên Thái,…và hơn 100 lễ hội từ cấp quốc gia, tỉnh thành đến lễ hội làng, dòng họ,…trong đó những lễ hội nổi tiếng như Chùa Hương, chùa Thầy,…có thể nói Hà Tây là một trong số vùng văn mang đậm tính chất nông nghiệp Bắc Bộ và truyền thống làng xã nhất cả nước. Những vùng văn hóa mang tính chất đặc trưng như thế rất có thể sẽ biến mất hoàn toàn trong cơn lốc đô thị hóa nhanh, thiếu cẩn trọng. Một điển hình nhất ở phía Nam là Vùng văn hóa ở phía Tây Bắc của TP. HCM, cách nay chừng 20 năm, Hóc Môn là vùng văn hóa Nam Bộ điển hình nổi danh với 18 thôn vườn trầu, với loại nhà chữ đinh, vườn cây ăn trái xum xuê, xanh ngát vườn cau và trầu xanh, nhưng nay đã trở thành cổ tích.

Phối cảnh tổng thể khu đô thị Mỗ Lao, Hà Đông

Người viết bài này đã nhiều lần đến Đài Loan và có thời gian dài nghiên cứu về mô hình đô thị hóa nông thôn ở đảo quốc này. Đài Bắc – Thủ đô của Đài Loan là một ví dụ thành công của việc qui hoạch không gian trên cơ sở của phân vùng văn hóa. Trong vùng đô thị Đài Bắc (2.400 km2) người ta thấy có rất nhiều những huyện (ví dụ huyện Đào Viên) và làng nông nghiệp trồng lúa nước, làng trồng cây ăn trái và các làng sản xuất đồ thủ công. Điều thú vị nhất là những làng này dường như vẫn giữ nguyên được các nét văn hóa truyền thống của cha ông trong đời sống hàng ngày, các hoạt động lễ hội, đời sống tinh thần và tổ chức vật chất tín ngưỡng (đình, chùa, miếu) vẫn nương vào nhau một cách nhuần nhị, không khiên cưỡng.
Quay trở về với vấn đề đang thảo luận, vậy trong qui hoạch không gian của Hà Nội, những vùng văn hóa ấy tồn tại như thế nào? Theo tôi có một vài điểm cần lưu ý:
Trước hết phải thay đổi não trạng để hiểu không được và không nên và cũng không cần phải xóa bỏ hay thu hẹp các huyện, xã nông nghiệp. Không chỉ bởi các vùng nông nghiệp chính là nơi sinh ra, nuôi dưỡng văn hóa bản địa mà xét về quan hệ thì vùng nông nghiệp là phần mềm cần thiết cho một đô thị quá cứng xét cả về mặt thiết chế lẫn tổ chức vật chất. Nông nghiệp ngoại thành giúp cho thành phố trong trạng thái phát triển cân bằng, bền vững về nhiều phương diện.
Muốn duy trì được tam nông trong đô thị thì phải chuyển Hà Nội từ mô hình đại đô thị (Megacity) như hiện nay thành vùng đô thị thủ đô (Hanoi Metroploitan Region) như các vùng đô thị khác trên thế giới (Seoul Metropolitan Region, Metro Manila, Jakarta Metropolitan Region,…), chỉ với mô hình vùng đô thị mới giữ toàn vẹn cái tinh túy của Hà Nội (cũ), đồng thời bao chứa được các vùng nông nghiệp xung quanh mà không phải làm cái việc Hà Nội cũ cố “tan chảy” ra bên ngoài còn các vùng nông nghiệp mới sáp nhập vào Hà Nội lại cố đánh mất mình thật nhanh để “hòa nhập” vào phía trong. Trên thực tế thì cái lan ra chưa chắc đã phải là cái tốt, còn cái thâm nhập vào thì cũng không phải là cái đẹp của làng xã, bằng chứng là ở nông thôn bây giờ khắp nơi có cà phê đèn mờ, ma túy, băng nhóm, còn quanh Bờ Hồ không thiếu ăn mày, trộm cắp, người vô gia cư vạ vật …   
Trong khi qui hoạch và xây dựng cố gắng nương theo văn hóa, tránh làm nảy sinh những tác động tiêu cực trực tiếp đến không gian làng xã. Không nhất thiết phải làm các trục đường hoành tráng xuyên qua xã, chính các trục đường lớn là nguyên nhân chính của việc làm vỡ cấu trúc không gian làng xã. Làng xã truyền thống xưa kia là một đơn vị dân cư và là một tổ chức văn hóa khép kín bởi có lũy tre làng bao quanh, nhờ đó mà các biểu tượng văn hóa làng xã như cổng làng, cây đa, bến nước, đình làng có giá trị, nay các làng bị mở toang hoác không chỉ bằng một trục đường mà có khi bằng vài ba trục đường lớn đan nhau làm bằng nhựa đường, bằng bê tông và cố nhiên khi có đường thì kiểu nhà hình ống ken nhau ra đường, các kiểu cư trú truyền thống như nhà ba gian hai chái, trước cau sau chuối bị biến mất hoàn toàn. GS. J.John Palen người Mỹ có nói chính các xa lộ giao thông là thủ phạm chia cắt các cộng đồng ổn định và phá vỡ các quan hệ truyền thống là như vậy. Tương tự như thế các khu công nghiệp, sân goft không nhất thiết phải đặt ngay sát làng xã để rồi lấy đi hàng trăm ha đất trồng lúa, dù muốn hay không cũng phải thừa nhận từ các khu công nghiệp này làm nảy sinh ra biết bao các tệ nạn, các dịch vụ không lành mạnh, gây ra xung đột giữa thành niên làng và thanh niên công nhân từ nơi khác đến. Điều này không còn là giả thiết mà đang diễn ra ở Thường Tín, Sóc Sơn, Mê Linh, Chương Mỹ,… Ngày 13-1-2014, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu Tư Bùi Quang Vinh có nói tại hội nghị của Ủy Ban Trung Ương MTTQ Việt Nam rằng “Người nông dân Việt Nam bây giờ suy nghĩ khác rồi. Họ không còn hoan nghênh khi có các khu công nghiệp ở ngay sát cạnh làng xã của họ để xả chất thải, khói bụi bay mù trời. Họ muốn sống trong một môi trường nông nghiệp trong lành và canh tác năng suất cao”. Cho dù muộn mằn, nhưng dầu sao đó cũng là một nhận thức tích cực của những người lãnh đạo.
Vô cùng có lý khi KTS lừng danh Le Corbuse xác quyết rằng “Kiến trúc tạo nên con người”. Trong cùng một ý nghĩa, người Việt Nam nói “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Chính các nhà qui hoạch và KTS tạo nên cái vỏ của không gian sống và trong đó con người chịu sự tác động và bị nhào nặn. Xóa bỏ hay làm giảm giá trị của tam nông đồng nghĩa với việc làm giảm dần và triệt tiêu văn hóa bản địa truyền thống.
Cân nhắc đến các yếu tố văn hóa trong qui hoạch ở tầm vĩ mô (qui hoạch vùng, qui hoạch 1:200) hay trong khi hiện thực hóa qui hoạch 1:500 là điều rất cần thiết. Bài học thành công của Đài Loan và thất bại của Hàn Quốc trong khi qui hoạch vùng văn hóa nông thôn là điều quan trọng cho chúng ta trong khi hoạch định chính sách phát triển đô thị, nhất là cho các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh. 


PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa
Trưởng Khoa Đô thị học, Trường Đại học Quốc gia TP.HCM
Phó Chủ tịch Hội Qui hoạch và Phát triển đô thị, TP.HCM