Nhà thờ Phủ Cam là một cái tên quen thuộc ở Huế. Mặc dù không phải là công trình thuộc quần thể di tích cố đô, song ngôi nhà thờ này luôn được “điểm danh” trong những bản đồ du lịch xứ Huế. Với người theo đạo, thì nhà thờ Phủ Cam thực sự quan trọng và có ý nghĩa bởi đây là Nhà thờ Chính toà của Tổng giáo phận Huế; còn với du khách ngoại đạo – thì đơn giản – đây là một kiến trúc đẹp đáng để chiêm ngưỡng.
Số phận long đong một công trình Đường tới Nhà thờ Phủ Cam thật dễ tìm. Từ đường Lê Lợi bên bờ nam sông Hương, rẽ vào đường Nguyễn Trường Tộ nằm giữa hai ngôi trường nổi tiếng là Quốc Học và Hai Bà Trưng, đi tới cuối đường là thấy nhà thờ Phủ Cam ngự trên một ngọn đồi nhỏ có tên là Phước Quả. Công trình có một vị trí đẹp chế ngự một không gian rộng lớn, xung quanh có nhiều công trình khác của Giáo hội. Nhà thờ Phủ Cam là một trong những giáo đường lớn nhất, nổi tiếng nhất xứ Huế và có lịch sử khá lâu đời.
Phần lớn các nhà thờ ở Huế được khởi dựng cách đây khoảng 300 năm, khi đạo Thiên Chúa theo các giáo sỹ du nhập vào; và khi đó được dựng đơn giản bằng các khung gỗ mái tranh. Khi các vua chúa Việt Nam hạ lệnh cấm đạo thì các nhà thờ lại bị triệt giải; còn khi lệnh cấm được nới lỏng hay bãi bỏ thì các nhà thờ lại được giáo dân xây dựng lại, để nghe truyền đạo và cầu nguyện. Đến thời Pháp thuộc, khi hoàn cảnh lịch sử cho phép, Thiên Chúa Giáo được thừa nhận chính thức, các nhà thờ được xây dựng bề thế, khang trang hơn. Nhà thờ Phủ Cam là một trong những trường hợp như vậy.
Sơ khởi của nhà thờ Phủ Cam là nhà nguyện Phủ Cam được xây dựng bằng tranh tre tại Xóm Đá, sát bờ sông An Cựu, do Linh mục Langlois (1640-1770) thực hiện vào năm 1682. Nhưng sau đó, chỉ 2 năm, khi có điều kiện thuận lợi, chính vị Linh mục này đã cho triệt giải nhà nguyện đơn sơ ấy và mua đất trên đồi Phước Quả để xây dựng công trình mới bằng đá to lớn và kiên cố hơn. Nhà thờ đó quay mặt về hướng tây (hướng ga Huế bây giờ); và được mô tả là rất chắc chắn – “chưa từng có ở xứ này, được nhà vua (tức chúa Nguyễn Phúc Tần) và quan lại thán phục”; nhưng đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), ngôi nhà thờ ấy đã bị triệt giải hoàn toàn vào năm 1698.
Sau đó đúng hai thế kỷ với bao thăng trầm của lịch sử và Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam; vào năm 1898, Giám mục Eugène Marie Allys (giám mục Lý, 1852-1936) đã cho xây dựng nhà thờ Phủ Cam mới bằng gạch lợp ngói khá đồ sộ tại vị trí cũ. Lần này công trình quay về hướng Kinh thành (hướng bắc), do chính Giám mục Allys thiết kế và giám sát thi công. Công trình hoàn thành xây dựng vào năm 1902, theo phong cách kiến trúc Gothique.
Dù vậy công trình nhà thờ này lại bị thay thế vào thập niên 60 của thế kỷ 20, bởi nhiều lý do. Trong đó có nguyên nhân công trình hết niên hạn sử dụng và trở nên chật hẹp so với số lượng giáo dân ở Phủ Cam ngày càng tăng cao.
Năm 1960 , dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm của chế độ Việt Nam Cộng hoà, sau khi Giáo phận Huế được nâng lên hàng Tổng giáo phận và Tổng Giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục (1897- 1984) từ Vĩnh Long về nhận chức Tổng Giám mục Huế , ông đã lập kế hoạch xây nhà thờ Phủ Cam mới. Vào đầu năm 1963, Tổng giám mục Ngô Đình Thục cho triệt giải nhà thờ cũ và xây dựng một ngôi nhà thờ mới rộng hơn theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.
Trong khi công trình mới đang xây dựng xong phần nền móng và một phần tường vách thì thì xảy ra cuộc đảo chánh ngày 01 tháng 11 năm 1963 , tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại và Tổng Giám mục Ngô Đình Thục lúc đó đang đi họp Công đồng Vatican II bên Roma , vì hoàn cảnh chính trị không trở về Việt Nam, việc xây dựng cũng bị chững lại. Tuy việc xây dựng vẫn được tiến hành song tiến độ rất chậm chạp, tới năm 1967 nhà thờ mới lên được phần cung thánh.
Trong sự kiện Tết Mậu Thân (1968), bom đạn đã làm hư hại phần lớn công trình và việc xây dựng đã gặp nhiều trở ngại mãi cho đến trước 1975 vẫn chưa hoàn thành. Sau thống nhất đất nước , do hoàn cảnh, mọi công tác xây dựng đều tiến hành chậm chạp, và đến năm 1995, phần thân nhà thờ về cơ bản mới được hoàn thành. Năm 1999, để chuẩn bị cho hai ngày 28 và 29 tháng 6 năm 2000 , là ngày Tổng Giáo phận Huế cung hiến nhà thờ chính tòa Phủ Cam nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày thành lập Giáo phận Huế (kể từ khi tách rời khỏi Giáo phận Đàng Trong), Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể hạ quyết tâm bằng đủ mọi cách phải hoàn thành công trình. Và cuối cùng công tác xây dựng đã hoàn tất vào tháng 5 năm 2000.
Như vậy, trải qua ba đời Tổng Giám mục – từ Tổng Giám mục Ngô Đình Thục đến Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền và Tổng Giám mục Nguyễn Như Thể – sau gần 40 năm xây dựng, qua 3 giai đoạn: 1963-1967, 1972-1995, 1999-2000; công trình nhà thờ chính tòa Phủ Cam mới hoàn thành với diện mạo như hiện nay. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, tác giả của công trình cũng không có cơ hội xem tác phẩm hoàn thiện của mình. Ông mất ngày 9/3/2000.
Dấu ấn kiến trúc hiện đại Nhà thờ Phủ Cam xây dựng theo đồ án của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là nhà thờ thứ 10 ở Phủ Cam tính từ nhà nguyện đầu tiên do Linh mục Langlois xây dựng vào năm 1682 ở Xóm Đá bên sông An Cựu. Công trình có mặt bằng kinh điển hình cây thánh giá, đỉnh cây thánh giá hướng về phía nam, chân cây thánh giá hướng về phía bắc là hướng chính của nhà thờ. Mặt đứng chính công trình có bố cục đăng đối với khối sảnh và thánh đường ở giữa, hai tháp chuông vươn cao hai bên. Công trình có kết cấu theo kỹ thuật xây dựng hiện đại với vật liệu bê tông cốt thép. Hệ kết cấu chịu lực cũng chính là yếu tố chủ đạo của kiến trúc – nội thất công trình. Các trụ đỡ mái thánh đường được bố trí sát chân tường biên, uốn cong vươn lên tạo thành vòm mái công trình, mềm mại như đôi bàn tay chắp lại khi cầu nguyện. Giữa các trụ – vòm đó là những ô cửa sổ trên cao ở hai bên tường cũng được uốn thành vòm. Đây là hệ cửa sổ chính lấy ánh sáng cho không gian thánh đường. Giữa những ô cửa sổ này là những lam bê tông phân đố và tạo hình thành cây thánh giá. Xung quanh cây thánh giá trên cửa sổ đó được viền kính màu xanh lục. Phía dưới hệ cửa sổ vòm này là những cửa đi ra hiên và các cửa sổ nhỏ có chức năng thông thoáng với hệ kính chớp lật. Ở phần cung thánh, là phần giao chữ thập của cây thánh giá trên mặt bằng, từ mỗi cạnh là ba trụ – vòm vươn lên, trong đó bốn trụ góc giao nhau trên đỉnh, tạo thành một không gian lớn, uy nghi và trang trọng. Lòng nhà thờ rộng kê những dãy ghế dài có thể chứa được 2.500 người dự lễ. Hai bên tường nhà thờ được trang trí bằng những bức tranh khung gỗ thể hiện về cuộc đời của Chúa Giê – su. Ban thờ chính được đặt sát vào phần lõm phía sau của lòng nhà thờ và nằm trên một bệ cao trang nghiêm. Cây thánh giá được làm bằng một cây thông già trên đồi Thiên An, trên đó có tượng Chúa bị đóng đinh. Phía trên cây thánh giá là hình bán thân Chúa Giê – su dang hai tay ngửa lên trời trong tư thế rao giảng, viền xung quanh là dòng chữ “Chúc tụng Thiên Chúa đến muôn đời”. Cung thánh nằm chính giữa của hình giao chữ thập trên mặt bằng là một hình tròn có các cấp đi lên, trên cung là một hình tròn nhưng nhỏ hơn với bàn thờ bằng đá cẩm thạch nguyên khối.
Cũng trong nội thất, ở hai cánh của cây thánh giá trên mặt bằng là hai không gian tưởng niệm. Bên trái (nhìn từ trong ra) là nơi thiết lập bàn thờ Thánh tử vì đạo Tống Viết Bường – người gốc Phủ Cam (bị giết năm 1833); bên phải (phía đối diện) là phần mộ cố Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền (1921-1988) – người có nhiều công lao nhất trong việc xây dựng nhà thờ này. Ở bên ngoài, mặc dù công trình có bố cục đối xứng cổ điển song kiến trúc nhà thờ vẫn toát lên vẻ hiện đại với những đường nét, hình khối mạnh mẽ, khoẻ khoắn, các mảng đặc rỗng hài hoà. Chính diện nhà thờ uốn cong trên mặt bằng, với hai tháp chuông xoay khoảng 45 độ, tạo sự mềm mại và thu hút, có chiều sâu, đỉnh mái thánh đường và hai tháp chuông vươn cao đầy ấn tượng.
Các khối, mảng kiến trúc lớn được xây bằng đá rất công phu và cầu kỳ tạo nên một mỹ cảm rất riêng cho nhà thờ. Công trình không có những trang trí rườm rà như những nhà thờ cổ điển thường thấy song không vì thế mà khô cứng. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã rất tài tình khi kết hợp những yếu tố: kết cấu và kiến trúc, kiến trúc và nội thất, hình khối và đường nét, hình khối và vật liệu… tạo nên một công trình kiến trúc hiện đại, khoáng đạt mà vẫn gần gũi, không xa lạ. Các vật liệu đá, bê tông, kính được sử dụng nhuần nhuyễn, khéo léo tạo nên hiệu quả công năng và thẩm mỹ cao cho công trình. Yếu tố khí hậu cũng được nghiên cứu cẩn thận và ứng dụng hợp lý trong những chi tiết kiến trúc như sảnh sâu có mái, hệ mái chính vươn xa, cửa sổ hai tầng lấy sáng và thông gió, hàng hiên các phía… Nhà thờ Phủ Cam là một công trình có giá trị cao về lịch sử và nghệ thuật kiến trúc; và đây cũng là một tác phẩm tiêu biểu, quý giá của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ để lại cho thành phố Huế, cùng với những công trình khác như Viện Đại học Huế, Trường Đại học Sư phạm Huế, Khách sạn Hương Giang, Khách sạn Century… Công trình xứng đáng là một di sản thời đại mới của Huế.
Xem thêm:
Nguyễn Trần Đức Anh (Hà Thành)
Ảnh: Hà Thành
©Tạp chí Kiến trúc
















































