Tóm tắt
Phát triển bền vững ngày nay đã trở thành mục tiêu của mọi hoạt động trong đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, trong đó kiến trúc và xây dựng được coi là lĩnh vực đầu tiên cần áp dụng. Tại Việt Nam nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng, phát triển bền vững đã được cụ thể hóa trong quy hoạch với đô thị sinh thái và trong xây dựng với công trình xanh, thông thường là dự án mới. Các công trình cũ trong những năm 1970 và 1980 gắn với một thời kỳ phát triển đô thị đặc biệt của Hà Nội hiện vẫn còn là “khoảng trống” chưa được phát triển bền vững “phủ sóng”. Thực tế ở Hà Nội và trên nhiều đô thị trong cả nước đang tồn tại một “quỹ” công trình dân dụng, bao gồm cả nhà ở và nhà công cộng, đã qua nhiều năm sử dụng, được công nhận là di sản (hoặc nếu chưa được công nhận thì cũng chứng tỏ có giá trị, không chỉ về kiến trúc). Bài toán đặt ra cho những công trình này là: Nên phá bỏ rồi xây mới (1); hoặc cần cải tạo sao cho thích hợp để sử dụng tiếp (2). Lựa chọn số 2 – Theo kinh nghiệm phát triển trên thế giới, là hướng đi đúng đắn, không chỉ kéo dài tuổi thọ của công trình mà còn gìn giữ được hình ảnh và ký ức đô thị – Yếu tố ngày càng được coi trọng trong lòng một xã hội hiện đại. Bài viết xem xét các khái niệm và một số cách tiếp cận đến tái sử dụng thích ứng và phát triển bền vững, hai ví dụ thực tiễn tham chiếu và lựa chọn một trường hợp điển hình – Cung Thiếu nhi Hà Nội – để minh họa cho mô hình được đề xuất.
Từ khóa: Tái sử dụng thích ứng, tái phát triển bền vững, công trình công cộng, thời kỳ 1975 – 1986.
1. Tổng quan
Trong không gian đô thị, các công trình công cộng, đặc biệt là những công trình điểm nhấn hoặc công trình mang tính biểu tượng, thường được thiết kế kỹ lưỡng và được coi như những nhân chứng của thời đại, là sự phản ánh rõ nhất nhu cầu xã hội cũng như những quan điểm về thẩm mỹ tại thời điểm các công trình đó xây dựng. Khi nhìn vào, người ta có thể “đọc hiểu” lịch sử đô thị một cách tường tận. Giữ gìn được các công trình kiến trúc này trong không gian đô thị chính là lưu giữ được các giá trị lịch sử mang tính trực quan sinh động mà không sách vở hay tài liệu nào có thể mô tả xác thực hơn. Một học giả đã có lý khi nhận định rằng: Một đô thị không có di sản là đô thị không có ký ức, “đô thị mất trí nhớ”, đồng nghĩa với việc không có điểm tựa, không có chỗ dựa về nhân văn, không có bề dày văn hóa đủ để làm bệ phóng vươn tới tương lai. Một đô thị như vậy không thể là niềm tự hào cho cư dân sinh sống trong đó, không đủ sức hút bạn bè bốn phương đến thăm, và một đô thị như vậy không thể là đô thị phát triển bền vững (Châu, 2013).
Những năm từ 1975 đến 1986 là một thời kỳ đặc biệt trong sự phát triển của đô thị Hà Nội, gắn với hai mốc sự kiện lịch sử lớn của dân tộc: Hòa bình thống nhất (1975) và chuyển mình về kinh tế kéo theo những đổi thay quan trọng về cảnh quan đô thị (1986). Với tâm thế của người chiến thắng, chính quyền đã cho xây dựng tại Thủ đô nhiều công trình có quy mô lớn, với thiết kế cẩn thận, được đầu tư kỹ lưỡng về mặt tạo hình để ghi lại dấu ấn cùa thời đại, gửi gắm nhiều khát vọng về tương lai và phản ánh những tư duy mới về công năng cũng như thẩm mỹ sau nhiều năm chiến tranh mới có hòa bình, với một tiền đồ rộng mở trước mắt. Bên cạnh những tác phẩm “thuần nội địa” còn một số công trình còn có yếu tố nước ngoài, chẳng hạn như Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô và Cung Thiếu nhi Hà Nội, là quà tặng hữu nghị của các nước anh em như Liên Xô và Tiệp Khắc, trong nỗ lực giúp đỡ Hà Nội tái thiết thời hậu chiến. Theo thống kê của tác giả qua công tác khảo sát, hiện vẫn còn 41 công trình công cộng được xây dựng trong giai đoạn này còn giữ được nguyên vẹn hoặc tương đối nhiều nét đặc trưng về công năng và tạo hình kiến trúc trong phạm vi nội đô Hà Nội (Vinh, 2024).
Giá trị của những công trình này được ghi nhận trên nhiều bình diện, đáng chú ý và nổi bật nhất là:
- Giá trị về quy hoạch: Nhiều công trình công cộng giai đoạn 1975 – 1986 tọa lạc ở những vị trí “đắc địa” trong không gian đô thị, trên những phố chính được chỉnh trang hoặc tuyến đường mới được quy hoạch, là điểm kết thúc của một trục thị giác, với không gian thoáng đãng, tạo điều kiện quan sát và cảm nhận công trình được trọn vẹn, chẳng hạn như Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô trên đường Trần Hưng Đạo, hay khối trung tâm của Ga Hà Nội theo kiến trúc hiện đại được xây chen thay thế cho khối nhà bị bom Mỹ phá sập năm 1972, hoặc Khách sạn 11 tầng bên Hồ Giảng Võ, nổi bật so với các khối nhà tập thể lắp ghép cao năm tầng xung quanh, góp phần định hình không gian đô thị và đóng vai trò là điểm nhấn đô thị.
- Giá trị về kiến trúc: Đây chính là giá trị cốt lõi của những công trình thể loại này. Về mặt chức năng, công trình đã đa dạng hơn hẳn so với hai thời kỳ XHCN trước đó là 1954 – 1964 và 1965 – 1975, do cần đáp ứng nhu cầu bức thiết của cộng đồng trong một giai đoạn phát triển mới, với đời sống mới đa dạng hơn trước trên khía cạnh tinh thần. Về mặt hình thức, cách tạo hình khối và chi tiết trang trí mặt đứng của nhiều công trình đã mang rõ nét kiến trúc hiện đại, tìm tòi có chọn lọc những yếu tố bản sắc dân tộc có cách tân ở một mức độ nhất định, cũng như thích ứng cao với điều kiện khí hậu nhiệt đới với những chi tiết trang trí kiêm chắn nắng – thông gió dạng nan hoặc ô lưới, thể hiện trí tuệ của một thế hệ KTS được đào tạo bài bản cả ở trong nước lẫn ngoài nước.
- Giá trị về kỹ thuật – công nghệ: Kỹ thuật – công nghệ là yếu tố hỗ trợ đắc lực cho việc đạt được hiệu quả thẩm mỹ trong ý đồ tạo hình, nhất là với những công trình trọng điểm, mang tính biểu tượng cao, có thể thấy qua hệ kết cấu đồ sộ và vật liệu xây dựng được chọn lọc trong số những gì tốt nhất mà đất nước và Thủ đô có được tại thời điểm còn nhiều khó khăn đó, thể hiện quyết tâm xây dựng một đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” từ tro tàn của chiến tranh. Những công nghệ xây lắp mới với mức độ cơ giới hóa cao cũng được áp dụng để đảm bảo tiến độ và chất lượng, là kết quả của sự hợp tác và hỗ trợ chí tình của các nước anh em với Việt Nam như Liên Xô, CHDC Đức, Cuba, …
- Giá trị về tinh thần: Đây có thể coi là một giá trị nổi bật, không thể không nhắc tới. So với hai thời kỳ trước đó, những năm 1975 – 1986 đã chứng kiến sự bùng nổ về số lượng công trình công cộng, chủng loại phong phú hơn hẳn và trên hết là có bước chuyển biến đáng kể về chất lượng thiết kế, thành ra giá trị về tinh thần của các công trình này càng được nâng cao. Giá trị về tinh thần có mối liên hệ hữu cơ và khăng khít với ba giá trị đã được đề cập đến ở trên. Khi công trình được khánh thành và đưa vào sử dụng, người dân Thủ đô và cả nước có điều kiện thụ hưởng những thành tựu trong kiến thiết và dựng xây, tham gia nhiều hoạt động văn hóa – nghệ thuật – khoa học và sự kiện chính trị – xã hội được tổ chức thường xuyên, không chỉ diễn ra vào những dịp lễ hay kỷ niệm lớn. Họ thực sự hòa mình vào không gian và sự kiện. Qua quá trình sử dụng, người dân đã có nhiều kỷ niệm đẹp về những tháng ngày đáng nhớ đó, và được bồi đắp theo thời gian để trở thành ký ức và một phần quan trọng của cuộc đời họ, những năm tháng mà yếu tố tinh thần luôn dâng cao và đem lại niềm vui thực sự để bù đắp lại những thiếu thốn và khó khăn về vật chất. Cung Thiếu nhi Hà Nội là một ví dụ điển hình, và sẽ được trình bày cụ thể hơn ở phần sau của bài.
Thực trạng mà hầu hết những công trình công cộng được xây dựng tại Hà Nội trong thời kỳ 1975 – 1986 đang phải đối mặt là sức ép của quá trình đô thị hóa và sự thay đổi về nhu cầu sử dụng của cộng đồng. Trong nhiều trường hợp, công trình đã bị xây chen với mật độ cao hơn đáng kể, khoảng lưu không tới các công trình lân cận đã bị thu hẹp, cản trở sự quan sát và thụ cảm của công trình trong không gian đô thị. Xây chen là nhu cầu tất yếu khó tránh khỏi trong điều kiện quỹ đất trung tâm hạn hẹp khi nhu cầu sử dụng tăng cao, song vẫn có phương án thiết kế khéo léo để đảm bảo sự hài hòa giữa công trình mới và công trình cũ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy mối liên hệ hài hòa này thường bị bỏ qua hoặc nếu có được xem xét thì cũng không được thỏa đáng. Việc cải tạo hay chỉnh trang chưa tuân theo những quy định nghiêm cẩn nên ít nhiều làm giảm giá trị thẩm mỹ của công trình trên một số bình diện như vật liệu được lựa chọn không kỹ, màu sắc chưa phù hợp, một số chi tiết được thay thế thiếu đồng bộ nên tạo ra độ “vênh” nhất định, khiến tính nguyên bản không được đảm bảo. Bên cạnh đó, việc lắp các thiết bị kỹ thuật, gắn biển hiệu, biển quảng cáo chưa được cân nhắc cẩn thận, khiến bộ mặt của những công trình này bị ảnh hưởng tiêu cực.
Hơn nữa, các công trình công cộng giai đoạn 1975 – 1986 hiện chưa được bảo vệ bởi Luật Di sản (theo điều 28, mục 1 chương IV) vì chưa được đưa vào danh mục, tức là vẫn chưa có cơ sở về pháp lý. Một số công trình có thể được xem là công trình có giá trị theo Luật Kiến trúc, tuy nhiên, tiêu chí và thang điểm đánh giá vẫn chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu cá nhân, chưa được các tổ chức chuyên môn thiết lập cũng như chưa được cơ quan hữu trách nào phê duyệt để làm căn cứ chính thức cho việc đánh giá và xếp hạng là di sản/di tích, nên mới dẫn đến tình trạng bị cải tạo và sửa chữa đầy bất cập. Cũng do thiếu cơ sở lý luận, công tác cải tạo các công trình nói chung còn mang tính ngắn hạn, thiên về khắc phục thụ động để đơn thuần kéo dài thời gian khai thác chứ chưa có tính dự báo xu thế sử dụng theo nhu cầu của xã hội, hướng tới thỏa mãn nhu cầu khai thác lâu dài. Điều này dẫn tới một thực trạng đáng buồn là nhiều công trình sau khi cải tạo đã lập tức lạc hậu, hoặc chi phí bỏ ra cho việc nâng cấp lớn hơn nhiều so với hiệu quả khai thác đem lại. Cách thức ứng xử với các công trình này thế nào để vừa giữ gìn được giá trị hiện có, vừa tiếp tục khai thác hiệu quả vẫn chưa có hành lang pháp lý hướng dẫn và thiếu cơ sở lý luận để tìm kiếm một/một số mô hình phù hợp – là vấn đề nổi cộm nhất và bài toán khó nhất để tìm lời giải theo quan điểm của các tác giả. Thực tế cho thấy nhu cầu sử dụng các công trình công cộng ngày nay cần theo chiều hướng linh hoạt hơn và đa chức năng hơn, nhằm cân bằng và hài hòa hóa các cặp phạm trù tưởng chừng trái ngược nhau như yếu tố cũ và yếu tố mới, giữa giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế với bảo tồn những nét riêng biệt, độc đáo mà công trình còn may mắn giữ được qua nhiều biến động của thời cuộc, giữa môi trường và phát triển, … Những vấn đề này hiện đang khiến đội ngũ tư vấn khá lúng túng.
2. Tái sử dụng thích ứng và tái phát triển bền vững
Như đã trình bày, các công trình công cộng giai đoạn 1975 – 1986 được xây dựng ở Hà Nội với số lượng lớn và chất lượng tốt, có thể chưa phải là quá xuất sắc về thẩm mỹ do một số hạn chế nhất định về kỹ thuật cũng như quan niệm đương thời, song đều thuộc diện “ăn chắc mặc bền” theo tư duy rất thịnh hành lúc đó, có tính tới thời gian sử dụng 50 – 70 năm hoặc lâu hơn. Như vậy, làm phép trừ thì thời gian còn có thể được sử dụng mà không phải sửa chữa lớn hay nâng cấp (nếu không có nhu cầu gì đột biến) còn tương đối dài, từ 10 đến 30 năm nữa. Trong một số trường hợp công trình trọng điểm quốc gia, thời gian sử dụng chưa đến một nửa vòng đời của công trình. Đây chính là một lý do thuyết phục cho việc tái phát triển sử dụng theo hướng thích ứng có tính đến yếu tố bền vững như xu thế chung mang tính tất yếu của thời đại ngày nay. Số liệu khảo sát cho thấy rõ có tới 37/41 công trình đang được khai thác đúng với công năng thiết kế và ít nhiều còn lưu được những ngôn ngữ đặc trưng của thời đại (Vinh, 2024).
Tái sử dụng thích ứng và bảo tồn bền vững là một vấn đề thời sự trên thế giới, và cũng không phải quá mới mẻ hay xa lạ với bối cảnh của Việt Nam. Thực tế chúng ta cũng đã có những tìm tòi và thử nghiệm qua một vài công trình thí điểm, nhưng kết quả đã đạt chưa được như mong muốn. Sự phù hợp cũng như mức độ thành công còn là vấn đề gây tranh cãi, nên được kiểm chứng thêm. Trong bối cảnh đó, rất cần viện dẫn, hệ thống hóa những lý luận cùng cách tiếp cận chuẩn mực và đúng đắn, đồng thời soi rọi từ thực tiễn và học hỏi những kinh nghiệm tốt cả trong lẫn ngoài nước để chuẩn bị chuẩn hóa công tác bảo tồn, cải tạo và sử dụng những công trình cũ có giá trị thật hợp lý và hiệu quả trong bối cảnh mới.
Tái sử dụng thích ứng là việc khai thác sử dụng một giá trị cũ dưới một diện mạo mới, thực chất là một quá trình kéo dài thời gian sử dụng công trình kiến trúc đã không còn hiệu quả khai thác, dưới một công năng khác, có thể là hoàn toàn mới, trong khi vẫn tận dụng được các yếu tố hiện trạng của công trình như hệ kết cấu, hệ thống kỹ thuật, chi tiết trang trí, … (Cakir & Arabulan, 2020).
Việc sử dụng thích ứng đối với vật thể nói chung và công trình kiến trúc nói riêng là một yêu cầu mang tính phổ biến trong xã hội loài người, hình thành từ khi con người biết cách tổ chức không gian nhân tạo và đạt đến trình độ cao trong một xã hội hiện đại. Sử dụng thích ứng là một trong những tiêu chí chủ chốt của công tác thiết kế không gian và sử dụng hệ thống kết cấu tương thích với không gian đó. Công trình kiến trúc, dù đã được hoàn thiện và khánh thành đưa vào sử dụng, không có nghĩa là một tác phẩm hoàn hảo qua mọi thời đại để có thể bất biến. Việc sử dụng thích ứng được đặt ra với công trình thể hiện trên ba cấp độ: 1. Sức chứa hay khả năng dung nạp; 2. Công năng; 3. Hiệu suất. Đó là một quá trình chuyển đổi nhanh hoặc chậm sao cho tương thích với điều kiện sử dụng mới, trong bối cảnh mới, mà vẫn giữ được giá trị di sản văn hóa mà công trình mang trong mình. Việc sử dụng thích ứng bao hàm một phạm vi khá rộng, kể cả việc thay đổi và thêm vào hoặc mở rộng, tu bổ, chỉnh trang, sửa chữa, … áp dụng cho nội thất và ngoại thất, mặt bằng/bố cục, kết cấu/cấu trúc của công trình. Việc sử dụng thích ứng và khái niệm “hiện đại hóa” không phải đối nghịch đến mức loại trừ nhau. Đây là một quan điểm gần gũi với tái phát triển công trình công cộng khi cho rằng việc khai thác công trình luôn đi đôi với công tác đánh giá giá trị và cải tạo, hiện đại hóa thường xuyên (Wong, 2017).
Một số nghiên cứu, chẳng hạn như của Saghafia và Ahmadia, đã chỉ ra rằng luôn có một khoảng cách giữa tuổi thọ thiết kế và tuổi thọ hữu ích của công trình kiến trúc mà quá trình tái phát triển công trình thông qua các giải pháp thiết kế thích ứng hướng tới bền vững là lựa chọn tối ưu để kéo dài tuổi thọ hữu ích, sao cho gần hơn với tuổi thọ thiết kế. Họ cho rằng các giải pháp thiết kế thích ứng trong kiến trúc để tái phát triển công trình công cộng bao gồm bất kỳ tác động nào tới công trình để thay đổi công suất, chức năng hoặc hiệu suất sao cho thỏa mãn các nhu cầu sử dụng mới. Từ đó công trình kiến trúc sau khi tái phát triển có thể phù hợp với các điều kiện khai thác và nhu cầu trong tương lai của người sử dụng với sự đơn giản và ít tốn kém nhất, có nghĩa là kéo dài tuổi thọ của công trình, nâng cao hiệu quả và tối ưu hiệu suất sao cho khai thác lâu dài hơn, đặc biệt là về khía cạnh bảo vệ môi trường. Từ đó, KTS tư vấn có thể đưa ra đặc điểm của các giải pháp kiến trúc thích ứng gồm năm yếu tố: 1. Khả năng chuyển đổi: Cho phép thay đổi cách sử dụng (về mặt kinh tế, pháp lý và kỹ thuật); 2. Khả năng tháo dỡ: Có khả năng được tháo dỡ một cách an toàn, hiệu quả và nhanh chóng – một phần hoặc toàn bộ; 3. Khả năng tái sử dụng: Vật liệu và bất kỳ chi tiết thành phần nào của tòa nhà đã tháo dỡ đều có thể tái sử dụng hoặc có khả năng tái chế càng nhiều càng tốt; 4. Khả năng mở rộng: Cho phép tăng diện tích hoặc công suất mà không gây ảnh hưởng tới việc vận hành, khai thác tòa nhà; 5. Khả năng linh hoạt: Có thể thực hiện nhiều kịch bản bố trí trong quy hoạch không gian để nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc khai thác công trình (Saghafia & Ahmadia, 2011).
Quan điểm về tái sử dụng thích ứng cũng như cách tiếp cận đáng chú ý nhất đến tái phát triển bền vững đến từ Schmidt và Austin. Để có thể mở rộng, bổ sung hoặc đa năng hóa công năng của công trình kiến trúc, các thiết kế cần hướng tới tính thích ứng thể hiện ở ba nội dung là: 1. Thiết kế không gian theo xu hướng “mở” về mặt bằng, “lỏng” về sức chứa; 2. Xử lý các cấu kiện theo hướng “động”, tức là có khả năng di chuyển, đóng mở linh hoạt và 3. Bố trí các hệ thống kỹ thuật, trang thiết bị gắn với không gian chức năng được phân theo tầng và theo lớp. Mặc dù đề cập tới công trình xây mới, ba luận điểm như đã tổng hợp và nêu bật khi xem xét thấu đáo lại tỏ ra khá phù hợp và có thể được vận dụng cho việc nghiên cứu thiết kế tái phát triển các công trình công cộng giai đoạn 1975 – 1986 ở Hà Nội. Cũng theo Schmidt và Austin, công trình kiến trúc chỉ mang tính hoàn chỉnh tạm thời, không bao giờ được coi là có điểm kết thúc bởi vì sự biến đổi nội tại dưới tác động của một hoặc nhiều yếu tố bên ngoài không ngừng diễn ra. Kết quả là công trình phải “tự thân vận động” để theo kịp sự biến đổi. Công trình có thể được bóc tách thành năm phân lớp: 1. Kết cấu (có tuổi thọ 30 – 300 năm); 2. Mặt bằng (chu kỳ thay đổi 3 – 30 năm); 3. Lớp vỏ bao che (chu kỳ thay đổi 10 – 20 năm); 4. Các chức năng sử dụng (chu kỳ thay đổi 7 – 15 năm); 5. Hoạt động được tổ chức (chu kỳ thay đổi hàng ngày hoặc được đo theo đơn vị tuần đến tháng). Như vậy, có thể thấy một cách rõ ràng rằng kết cấu là thành phần ít thay đổi nhất trong suốt vòng đời của công trình kiến trúc và các hoạt động được tổ chức, hay còn gọi là nhu cầu khai thác, thay đổi nhiều nhất. Các yếu tố còn lại có thể thay đổi vài lần trong suốt vòng đời của công trình. Hai học giả đánh giá cao tầm quan trọng của các yếu tố kỹ thuật như kết cấu hay hình thức bên ngoài của công trình trong công tác cải tạo trong khi cũng cho thấy sự linh hoạt của công năng hay nhu cầu khai thác công trình công cộng trong suốt vòng đời. Đây là căn cứ có giá trị để sau này đánh giá mức độ tái phát triển của các công trình công cộng giai đoạn 1975 – 1986 tại Hà Nội. Đi sâu vào phân tích, Schmidt và Austin cũng chỉ rõ rằng thiết kế thích ứng bao gồm sáu cấp độ: 1. Cố định song có thể điều chỉnh được; 2. Năng động / đa năng; 3. Có khả năng chỉnh sửa / đổi mới / trang bị lại; 4. Có khả năng chuyển đổi tính chất sử dụng cũng như hình thức tương ứng; 5. Có khả năng thay đổi quy mô. 6. Có khả năng di chuyển lẫn thay đổi nội dung cũng như hình thức (tức là cấp độ cao nhất). Chiến lược thiết kế thích ứng tích hợp ba nội dung: 1. Vật lý (bao gồm tính mô-đun, thiết kế có tính đến yếu tố thời gian, bền lâu, đơn giản và khúc chiết / mạch lạc); 2. Không gian (bao gồm tính “lỏng” dễ điều chỉnh, bố trí không gian có tính linh hoạt cao, kỹ thuật mang tính “thụ động” có tính đến tiêu chí tiện nghi vi khí hậu, thiết kế trên quan điểm xem xét sự phát triển trong tương lai, tối đa hóa việc sử dụng công trình, gia tăng tính tương tác cả về liên hệ giao thông lẫn liên hệ thị giác), 3. Quy mô (bao gồm hai cấp là đơn giản – tính thẩm mỹ bản thân công trình và phức hợp – mối liên hệ giữa công trình với bối cảnh và với các công trình xung quanh). Các yếu tố trên đan cài vào nhau, các chiến lược cũng mang tính tương hỗ, nên công trình tự bản thân sẽ thể hiện tính đa lớp trên quan điểm thích ứng. Hơn nữa điều này còn được củng cố thêm bởi thực tế các chu kỳ thay đổi khác nhau, càng khiến các trường hợp nghiên cứu thêm phần phong phú (Schmidt & Austin, 2016).
Việc tái sử dụng thích ứng, tái phát triển bền vững các công trình công cộng ở Hà Nội giai đoạn 1975 – 1986 là hoạt động cụ thể hóa nhiệm vụ gìn giữ những công trình có giá trị cho thế hệ tương lai, giữ cho mạch phát triển kiến trúc đô thị không bị gián đoạn, trước khi Luật Di sản bổ sung xem xét đến những công trình được xây dựng sau năm 1954 và đưa vào danh sách công nhận chính thức. Những giải pháp được đề xuất để đạt được mục tiêu này xét về mặt định tính sẽ tương thích với năm tiêu chí về Kiến trúc Xanh mà Hội KTS Việt Nam công bố qua Tuyên ngôn nhân ngày Kiến trúc Việt Nam (27/04/2011): 1. Địa điểm bền vững; 2. Sử dụng tài nguyên năng lượng hiệu quả; 3. Chất lượng môi trường trong nhà; 4. Kiến trúc tiên tiến, bản sắc, 5. Tính xã hội nhân văn, bền vững (Hội KTS Việt Nam, 2011). Trong số năm tiêu chí trên, các giải pháp tái sử dụng thích ứng / tái phát triển bền vững các công trình công cộng ở Hà Nội giai đoạn 1975 – 1986 đáp ứng tốt nhất các tiêu chí số 4 và số 5, còn hai tiêu chí số 2 và số 3 chắc chắn được cải thiện với sự trợ giúp của các giải pháp cải tạo về kiến trúc cùng công nghệ/kỹ thuật, trong khi tiêu chí số 1 vẫn được đáp ứng, khi giữ được lợi thế về địa điểm (do trong giai đoạn lập dự án được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi triển khai), có nghĩa là không phải di dời, cũng không nhất thiết phải mở rộng khuôn viên, chỉ cần chỉnh trang một chút trong phạm vi khu đất hiện có hoặc thu hồi những phần đất bị lấn chiếm trái phép, loại bỏ những khối xây chen bất hợp lý hoặc yếu tố đưa vào không phù hợp, thay bằng những thành phần được kiến nghị theo mô hình phát triển hướng tới tính bền vững là có thể tiếp tục phát huy lợi thế và tăng giá trị của những công trình vốn đang tọa lạc tại các vị trí đất vàng, đất kim cương trong đô thị.
Ngoài cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn làm sáng tỏ hơn cách thức mô hình đã triển khai tại nước ngoài, nơi có điều kiện thuận lợi phát triển trước và thu được thành công, nghiên cứu giải pháp đã áp dụng, tổng kết lại và rút ra những bài học cần thiết. Châu Âu, mà CHLB Đức là quốc gia tiêu biểu đi đầu, đã có bề dày nhiều năm trong việc cải tạo các công trình cũ thành công trình mới theo hướng tái sử dụng thích ứng và tái phát triển bền vững. Không chỉ chuyển đổi “ngang” – trường hợp thông dụng – từ công trình công cộng thể loại này sang thể loại khác, họ còn thành công trong việc chuyển đổi “chéo” – trường hợp khó – từ công trình công nghiệp hoặc quân sự sang công trình công cộng, qua hai ví dụ minh họa được chọn lọc dưới đây. Vậy thì quay trở lại bài toán đã đặt ra từ đầu đối với các công trình công cộng giai đoạn 1975 – 1986 ở Hà Nội chỉ là chuyển đổi ngang, chúng ta càng có cơ sở để áp dụng các mô hình được khuyến nghị.
Ví dụ 1: Nhà xưởng cũ thành văn phòng ở TP Jena (CHLB Đức)
- Thông tin dự án
- Đơn vị tư vấn: Wurm + Wurm
- Diện tích sàn: 3.400 m2
- Chức năng sử dụng trước cải tạo: Phân xưởng sản xuất dược phẩm
- Chức năng sử dụng sau cải tạo: Văn phòng và studio thiết kế
- Năm cải tạo: 2012
Mô tả
Nhiệm vụ của đơn vị tư vấn thiết kế trong dự án này là tu sửa một cơ sở sản xuất dược phẩm bỏ hoang được xây dựng theo kiểu thiết kế bê tông đúc sẵn thời CHDC Đức thành một tòa nhà văn phòng và studio thiết kế hiện đại, linh hoạt, đáp ứng nhu cầu sử dụng mới của Brooks – một hãng chuyên đồ thể thao có trụ sở ở TP Jena. Công trình được chia thành tám đơn vị chức năng độc lập và cung cấp môi trường làm việc hấp dẫn cho nhân viên.
Để tăng cường chiếu sáng tự nhiên, năm khoang giữa được đục thông để trở thành một sân trong. Không gian nội thất – cả sàn, tường và trần đều được sơn phủ màu trắng, tạo cảm giác rộng rãi và vệ sinh, bù lại một phần không gian giữa đã được chuyển đổi thành sân trong.
Để có được diện tích sử dụng cần thiết, một lớp sàn bổ sung với kết cấu bê tông cốt thép chịu lực độc lập được cấy vào không gian xưởng sản xuất cũ vốn dĩ được thiết kế khá cao cho mục đích sản xuất. Đối với trần bê tông cốt thép mới, các cột bổ sung được bố trí trong lưới 6 m, được bố trí ngoài các cột hiện có trong lưới 12 m cho mái của không gian lớn trước cải tạo. Một trục thang máy làm bằng bê tông cốt thép được gắn vào tiền sảnh mới hình thành.
Mặt đứng được chia lại với những ô cửa sổ mới với mật độ dày hơn trước. Sự phân chia linh hoạt của không gian văn phòng đòi hỏi lớp vỏ bao che được thiết kế lại trông giống như rèm, bao gồm các tấm kim loại được gấp nếp riêng lẻ, có chiều cao và chiều sâu khác nhau, tạo vẻ đẹp hiện đại cho một công trình cũ được cải tạo. Vào ban ngày và trong điều kiện ánh sáng thay đổi, bóng đổ ở bề mặt bên trong của các tấm mặt tiền cũng thay đổi theo, tạo hiệu ứng độ sâu và độ tương phản cứng hoặc mềm.
Mặt tiền được chia theo chiều dọc thành ba mảng, trên cùng và dưới là dải cửa sổ, ở đây có sự chuyển đổi thành dạng lưới chia khá mảnh và thanh thoát, các yếu tố cấu trúc nên mặt tiền có thể đóng lại trong khi những ô cửa sổ vẫn mở. Mảng giữa được thiết lập từ trước và kéo dài toàn bộ tòa nhà như một dải kín, có chiều cao từ cốt 0,90 m lên đến cốt 2,60 m. Đầu trên của tấm hình vuông không được bao bọc, do đó hình dạng răng cưa của mặt tiền sẽ được in dấu rõ nét trên nền trời.
Ví dụ 2: Pháo đài Trung Cổ thành một Bảo tàng ở Rüsselsheim (CHLB Đức)
- Thông tin dự án
- Đơn vị tư vấn: Heinrich Böll Architekten
- Chức năng sử dụng trước cải tạo: Công trình phòng thủ (pháo đài)
- Chức năng sử dụng sau cải tạo: Bảo tàng
- Năm cải tạo: 2011
Mô tả
Phần còn sót lại của Pháo đài thời Trung Cổ tại TP Rüsselsheim và phần đổ nát do bị chiến tranh tàn phá đã được khôi phục đã trở thành địa điểm mới của bảo tàng TP. Bảo tàng mở cửa lần đầu tiên vào những năm 1970.
Trong sảnh, một cầu thang mới được thiết kế dẫn du khách lên tầng trên, nơi họ tham quan phòng triển lãm chính, giới thiệu lịch sử TP và cả thời tiền sử của vùng đất cách đây hơn 100.000 năm thông qua các cổ vật được sắp xếp khoa học, tận dụng tốt từng diện tích nhỏ và không gian trống. Trong phòng triển lãm này, một giàn đèn mái mới được bổ sung để cung cấp nhiều ánh sáng hơn, bên cạnh khe ánh sáng trên mái hắt xuống.
Bên cạnh khối xây bằng gạch và đá tự nhiên vốn có từ trước được để lộ có chủ định nhằm cho du khách thấy nguồn gốc của công trình, một sàn gỗ sồi được xen cấy để tạo diện tích trưng bày. Các yếu tố mới được sơn màu trắng đơn giản, đồng thời KTS sử dụng thép sơn màu xám đậm cho các phần bổ sung kỹ thuật như thang máy, cửa ra vào và cầu thang chính để tạo độ tương phản cần thiết.
3. Mô hình tái phát triển bền vững thích hợp cho công trình công cộng giai đoạn 1975 – 1986 ở Hà Nội – Trường hợp nghiên cứu: Cung Thiếu nhi Hà Nội
Cung Thiếu nhi Hà Nội là một trung tâm văn hóa dành cho thiếu nhi Thủ đô vui chơi và học tập, nhất là vào dịp học sinh nghỉ hè, gồm ba tòa nhà là Cung Thiếu nhi, Rạp Khăn quàng Đỏ và một tòa nhà có từ thời Pháp được giữ lại, tọa lạc trên một khuôn viên rộng gần 1 ha, tại địa chỉ số 36 phố Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội, chỉ cách hồ Hoàn Kiếm hơn 100 m và nằm sát Trụ sở UBND TP Hà Nội.
Tháng 10/1974, được sự giúp đỡ của Tiệp Khắc, một trung tâm văn hóa dành cho trẻ em Hà Nội đã được khởi công xây dựng, theo bản thiết kế của KTS Lê Văn Lân. Công trình được đưa vào sử dụng từ tháng 02/1977, thể hiện sự quan tâm của chính quyền TP đến nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của thiếu nhi, dành dụm những vật tư tốt nhất để xây dựng trong điều kiện kinh tế rất khó khăn, thiếu thốn thời hậu chiến. Từ khi khánh thành cho đến nay, Cung Thiếu nhi Hà Nội luôn được coi như ngôi nhà thứ hai và là một “lâu đài cổ tích” thực sự của nhiều thế hệ thiếu nhi Hà Nội, đặc biệt là thế hệ sinh ra trong hai thập niên 1970 và 1980. Một số ca sỹ tên tuổi như Thanh Lam, Hồng Nhung và Ngọc Khuê, hay cá nhân thành công trong sự nghiệp như Tạ Bích Loan (báo chí truyền hình), Hoàng Thanh Trang (cờ vua), … cũng xuất phát từ vườn ươm tài năng là Cung Thiếu nhi Hà Nội.
Cung Thiếu nhi Hà Nội là một công trình khá bề thế, tòa nhà chính (Khối A) cao sáu tầng, mang ngôn ngữ kiến trúc hiện đại, thanh thoát, mặt đứng được trang trí bởi một bức tường hoa văn lớn chạy từ tầng ba lên tầng năm, gần suốt chiều dài của công trình, được xây ghép từ hàng ngàn viên gạch đúc xi măng đục lỗ với họa tiết đơn giản nhưng tinh tế và trang nhã. Tòa nhà chính của Cung Thiếu nhi Hà Nội có tổng diện tích sàn gần 10.000m2 với 95 phòng học các môn nghệ thuật như vẽ, hát, múa, kịch, … và một số câu lạc bộ khoa học.
Tòa nhà với phong cách kiến trúc Pháp (khối B) cao hai tầng với tổng diện tích sàn là 1.200m2 được giữ nguyên và tiếp tục sử dụng như công trình hành chính.
Rạp Khăn quàng Đỏ (Khối C) cao hai tầng được thiết kế chuẩn về thị giác và âm học, được lắp đặt các thiết bị âm thanh và ánh sáng tốt nhất thời điểm những năm 1970. Công trình cũng theo phong cách kiến trúc hiện đại với ngôn ngữ của gạch, đá rửa và bê tông, có sức chứa 520 chỗ, là nơi sinh hoạt tập thể, chiếu phim, biểu diễn văn nghệ khi có sự kiện.
Theo hệ tiêu chí được xây dựng công phu và thang điểm chi tiết có trọng số hợp lý với sự góp ý của các chuyên gia, Cung Thiếu nhi Hà Nội là công trình có giá trị đặc biệt, với điểm số 84,5/100 điểm, trong đó giá trị về nghệ thuật kiến trúc + văn hóa + lịch sử (giá trị tinh thần) là nổi bật nhất với 21/21 điểm (đạt 100%), tiếp đó là giá trị về quy hoạch (19/22 điểm – đạt 86,4%), hạ tầng + sở hữu (11/13 điểm – đạt 84,6% điểm) công năng và hình khối kết hợp kết cấu + kỹ thuật (33,5/44 điểm – đạt 76,1%). Theo một khảo sát xã hội học tiến hành năm 2022, 14% số người được hỏi mong muốn bảo tồn nguyên trạng quần thể công trình, trong khi đó 83% ủng hộ phương án giữ nguyên công năng và bổ sung một số không gian chức năng mới, chỉ có 3% chọn xây mới hoàn toàn (Vinh, 2024). Như vậy, đại đa số ý kiến cộng đồng đồng thuận với giải pháp tái sử dụng thích ứng. Đây là cơ sở khoa học quan trọng về mặt xã hội để đề xuất một mô hình phù hợp.
Qua công tác khảo sát, đánh giá, nghiên cứu và tham vấn ý kiến của chuyên gia cùng với cộng đồng, mô hình tái sử dụng thích ứng phù hợp cho Cung Thiếu nhi Hà Nội là chuyển đổi một phần chức năng thành một loại hình khai thác mang tính cộng đồng, linh hoạt và định kỳ phù hợp với tình trạng vừa khai thác vừa lưu giữ các giá trị hiện có, cụ thể như sau:
- Không gian sáng tạo, sinh hoạt cộng đồng kết hợp với các câu lạc bộ tự hoàn thiện bản thân. Đây là các loại hình đề cao tính khai thác linh hoạt;
- Triển lãm định kỳ, không gian bảo tàng tương tác mở, kết hợp giữa hiện vật trưng bày và các buổi biểu diễn, nói chuyện theo chủ đề cụ thể liên quan tới hiện vật trưng bày. Đây là các loại hình đề cao tính định kỳ;
- Biểu diễn văn hóa, nghệ thuật mang tính cộng đồng, tổ chức định kỳ, kết hợp với các câu lạc bộ liên quan. Đây là loại hình kết hợp giữa linh hoạt trong không gian và khai thác định kỳ.
Mô hình được đề xuất sẽ là: - Khối A sẽ được giữ nguyên lớp vỏ và hệ kết cấu, bổ sung và hiện đại hóa nội thất các không gian chức năng. Không gian trống đầu hồi ở tầng 1 và tầng 2 vẫn giữ nguyên để đảm bảo thông thoáng và sinh động về hình khối. Tầng 1 sẽ là khối câu lạc bộ dành cho trẻ em khuyết tật, vì dễ dàng tiếp cận. Sàn tầng 2 chuyển đổi chức năng thành bảo tàng và phòng truyền thống, nơi lưu giữ những kỷ vật của nhiều thế hệ thiếu nhi được sưu tầm và trao tặng lại. Các không gian tầng 3 – 4 – 5 vẫn giữ nguyên công năng như hiện tại (khối câu lạc bộ, có tính truyền thống như nhạc, họa, kịch, võ thuật, cờ, …). Riêng không gian tầng trên cùng, hiện ít được sử dụng, chủ yếu là kho chứa đồ hoặc bỏ không, hiệu quả thấp, sẽ được cải tạo thành một dãy phòng chức năng mới, với những loại hình sinh hoạt câu lạc bộ hiện đại hơn như thiên văn, nghệ thuật và mỹ thuật ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo, trò chơi theo nhóm tương tác với công nghệ số;
- Khối B sẽ được bảo tồn nguyên trạng, vẫn giữ chức năng hành chính – quản lý điều hành cùng phòng truyền thống;
- Khối C, do trang thiết bị đã lạc hậu, sức chứa hạn chế, nên hiệu quả sử dụng giảm đáng kể, được đề xuất theo mô hình xây mới thành Phòng Nghe nhìn – Biểu diễn đa chức năng, sức chứa lớn hơn do có thêm khán đài bên trên, giữ nguyên trạng mặt đứng cũ phía trước, tạo độ tương phản bề mặt cả về màu sắc lẫn chất liệu giữa phần giữ lại phía trước này (bê tông đặc ốp đá rửa màu vàng nhạt) với phần xây mới phía sau (kính nâu sẫm trong suốt);
- Cả ba khối A, B, C đều được chỉnh trang, cải tạo theo tiêu chuẩn công trình xanh, đề cao hiệu quả năng lượng, có sự trợ giúp của công nghệ;
- Khuôn viên được đề xuất cải tạo theo hướng loại bỏ những công trình tạm, thiếu thẩm mỹ, trả lại mặt bằng, nâng cấp sân vườn qua hệ thống cây trồng mới có thiết kế cảnh quan, giữ lại những cây bóng mát, thay gạch lát sân thông thường bằng loại có khả năng thấm hút nước mưa, phần diện tích ngoài trời còn lại nên đổ đất tạo thảm cỏ hoặc lát gạch lỗ trồng cỏ.
4. Kết luận
Những năm 1975 – 1986 là một giai đoạn không dài nhưng thực sự đáng nhớ trong lịch sử phát triển đô thị của Hà Nội, ghi lại dấu ấn của một thời kỳ không quên và chứa đầy kỷ niệm đối với nhiều thế hệ người dân Thủ đô, với số lượng lớn các công trình công cộng thuộc nhiều thể loại. Các công trình này cho đến nay vẫn còn ở trong tình trạng rất tốt, khai thác đúng theo công năng thiết kế, nhưng đang đứng trước sức ép cải tạo do giá đất theo từng vị trí xây dựng đã tăng rất cao, bên cạnh tình trạng lạc hậu của công năng sử dụng. Không ít công trình đã bị phá bỏ để xây mới, có thể mang lại hiệu quả kinh tế tốt hơn nhiều nếu so sánh với giá trị vị trí trong đô thị, nhưng giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật mà những công trình này đã và đang truyền tải thì mãi mãi mất đi. Đó thực sự là một “tổn thất” không thể bù đắp, khiến Hà Nội trở nên lạc lõng và mất phương hướng về đặc trưng văn hóa trong chính lịch sử tồn tại và phát triển lâu dài đáng tự hào của mình.
Tái sử dụng thích ứng, ở mức độ cao hơn là tái phát triển bền vững, là sự lựa chọn đúng đắn và mô hình thích hợp, thực sự là một cách thức ứng xử văn minh đối với các di sản của đô thị, để các chương trong cuốn sách về sự phát triển đô thị được liền mạch và đầy đặn, đô thị sẽ giá trị hơn, phong phú và hấp dẫn hơn theo thời gian. Mỗi loại hình công trình công cộng sẽ có một mô hình riêng, và bản thân từng mô hình riêng này cũng bao gồm nhiều biến thể khác nhau, để phù hợp với điều kiện và yêu cầu thực tế vốn dĩ muôn hình muôn vẻ. Những thiết kế cải tạo thí điểm mang tính điển hình có thể được tổng kết và mô hình hóa, được sử dụng làm ví dụ tham khảo hữu ích cho những dự án kế tiếp.
TS.KTS Nguyễn Đức Vinh
PGS.TS.KTS Nguyễn Quang Minh
Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Trường ĐH Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 07-2025)
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Việt Châu (2013): “Bảo tồn, trùng tu di sản kiến trúc thế giới – Lý luận và thực tiễn” – Tạp chí Kiến trúc, Hội KTS Việt Nam
Đường dẫn: https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/kien-truc-the-gioi/bao-ton-trung-tu-di-san-kien-truc-the-gioi-ly-luan-va-thuc-tien.html;
2. Nguyễn Đức Vinh (2024): “Tái phát triển theo hướng bền vững các công trình công cộng giai đoạn 1975 – 1986 tại Hà Nội” – Luận án Tiến sỹ, Trường ĐH Xây dựng Hà Nội;
3. H.K. Cakir & S. Arabulan (2020): “Adaptive reuse of open spaces in historical buildings”, International Journal of Building Pathology and Adaptation, DOI: 10.1108/IJBPA-04-2019-0034;
4. L. Wong (2017): “Adaptive reuse – Extending the lives of buildings”, Birkhauser Verlag, Basel;
5. M. D. Saghafia & M. Ahmadia (2011): “A study of adaptable architecture pertinence in Iran”, International Conference Proceedings on Green Buildings and Sustainable Cities, Elsevier, Vol. 21, pp. 656-665;
6. R. Schmidt & S. Austin (2016): “Adaptable Architecture – Theory and Practice”, Routledge, New York
7. Hội KTS Việt Nam (2011): “Tuyên ngôn về Kiến trúc Xanh Việt Nam và năm tiêu chí kiến trúc xanh Việt Nam”, đường dẫn: https://www.tapchikientruc.com.vn/dien-dan/tuyen-ngon-kien-truc-xanh-cua-hoi-kts-viet-nam-va-5-tieu-chi-kien-truc-xanh-viet-nam.html































