Tiềm năng phát triển cây bụi cảnh quan cho đô thị Hà Nội từ Vườn quốc gia Ba Vì

1. Đặt vấn đề

Việt Nam đứng thứ 16 trong 25 quốc gia có sự đa dạng sinh học cao trên thế giới – Là một trong 12 trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, có sự phong phú và đa dạng về các nguồn gen quý, hiếm. Việt Nam là nơi sống của gần 16.500 loài thực vật bậc cao, nấm lớn và rêu ở trên cạn, trong đó, số lượng các loài thực vật đặc hữu chiếm một tỷ lệ lớn (khoảng 30%). Điều đó cho thấy tính đa dạng cao của hệ thực vật Việt Nam.

Theo kết quả nghiên cứu 2024, thực vật bậc cao Vườn Quốc gia Ba Vì có 160 họ, 649 chi, 1201 loài (Phạm, 2024-2026). Trong đó, nhóm cây có các đặc điểm hình thái, sinh thái hấp dẫn và có nhiều tiềm năng dùng làm cảnh quan khá đa dạng. Nhóm cây này bao gồm cả cây bụi, cây bóng mát và cây dây leo, đặc biệt, có nhiều loài có khả năng cho hoa đẹp và hương thơm – Đây cũng là những đặc trưng quan trọng cho phát triển cây bụi trồng trong đô thị.

Cây bụi cảnh quan trồng trong đô thị Hà Nội chủ yếu có nguồn gốc lấy giống từ tự nhiên. Những loài cây trồng trong đô thị hiện nay là những loài đã được dẫn nhập thành công, có khả năng sinh trưởng phát triển trong môi trường đô thị, nơi có điều kiện sống khắc nghiệt hơn: Môi trường sống hạn chế, ô nhiễm, bị chèn ép cả về trên không lẫn dưới mặt đất bởi hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Đặc biệt là cây xanh trồng trên đường phố, nơi không chỉ có không gian giới hạn, đất nghèo dinh dưỡng và bị lu lèn chặt, nhiệt độ môi trường cao và ô nhiễm bởi mức độ bê tông hóa lớn. Chính vì vậy, việc khai thác nguồn giống cây từ tự nhiên góp phần không nhỏ trong phát triển bền vững cây xanh đô thị nhờ khả năng thích ứng và phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng của mỗi vùng đất.

Các đô thị của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng mới chỉ tập trung quan tâm nhiều đến các loài cây bóng mát. Chính vì vậy, các đô thị còn sử dụng nhiều loài cây nhập ngoại, thành phần loài cây bụi còn ít, chưa xứng đáng với sự đa dạng sinh học của hệ thực vật của Việt Nam; đặc biệt là nhóm cây cho hoa và cho hương hiện còn sử dụng vô cùng hạn chế.
Nghiên cứu khả năng sử dụng những loài cây mới có ý nghĩa to lớn cho phát triển thành phần loài cây xanh cho mỗi khu vực cảnh quan, nhất là đối với các khu vực đô thị; nhằm tăng tính đa dạng sinh học, đồng thời góp phần không nhỏ trong việc làm tăng tính hấp dẫn và yếu tố mới cho chất lượng không gian kiến trúc cảnh quan. Bên cạnh việc nhập ngoại những loài cây mới, việc nghiên cứu và sử dụng các loài có nguồn gốc tự nhiên của Việt Nam có ý nghĩa sự tôn vinh đối với nhóm loài cây địa phương, đồng thời tạo sự phát triển bền vững của cây xanh đô thị nhờ sự phù hợp về điều kiện tự nhiên và góp phần tạo lập bản sắc cho mỗi khu vực chính nhờ những loài cây bản địa. Chính vì vậy, Hà Nội sẽ có nhiều cơ hội phát triển cây bụi cảnh quan có nguồn gen tự nhiên từ Vườn Quốc gia Ba Vì bởi sự tương đồng về điều kiện tự nhiên.

2. Đa dạng thành phần loài cây xanh tự nhiên tại vườn Quốc gia Ba Vì

Vườn Quốc gia Ba Vì có tổng diện tích tự nhiên là 10.782,7 ha; trong đó, diện tích đất có rừng của Vườn hiện nay là 8.192,5 ha; chiếm 75,98% tổng diện tích tự nhiên toàn Vườn. Trong đó, rừng tự nhiên 4.200,5 ha; chiếm 51,27% diện tích đất có rừng. Về đa dạng thành phần loài, hệ thực vật Vườn Quốc gia Ba Vì, gồm 2.181 loài, 958 chi, 207 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch. Tất cả các ngành thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam đều có đại diện ở Vườn Quốc gia Ba Vì, cụ thể như sau:

Bảng 1. Phân bố các ngành thực vật bậc cao có mạch ở Vườn Quốc gia Ba Vì

Từ Bảng 1 cho thấy, ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) ưu thế tuyệt đối so với các ngành khác với 171 họ (chiếm 82,6%), 884 chi (chiếm 92,28%) và 2002 loài (chiếm 91,79%) so với tổng số họ, chi và loài của hệ thực vật; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và Thông (Pinophyta) ít nhiều cũng thể hiện được sự có mặt trên biểu đồ trong khi 3 ngành còn lại chiếm tỷ lệ rất ít. Tính đa dạng của thực vật ở Vườn quốc gia Ba Vì và sự ưu thế của ngành Ngọc Lan có thể so sánh với hệ thực vật Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 2005), kết quả thể hiện như sau:

Bảng 2. Tỷ lệ của hệ thực vật Ba Vì so với hệ thực vật Việt Nam

Bảng 2 cho thấy: Ưu thế về thành phần loài của ngành Ngọc Lan, tiếp theo là Dương xỉ, các ngành còn lại có tỷ trọng không đáng kể. So với hệ thực vật Việt Nam, hệ thực vật Vườn quốc gia Ba Vì có tỷ trọng cao của ngành Thông đất và Dương xỉ; cụ thể: Về số loài, Vườn quốc gia Ba Vì chiếm 18,8% số loài của cả nước nhưng ngành Thông đất và ngành Dương xỉ đóng góp là 29% và 20% số loài của chúng trong hệ thực vật Việt Nam. Từ đây cho thấy, vai trò của ngành Ngọc lan và Thông và Dương xỉ có ý nghĩa lớn trong cấu trúc thảm thực vật ở Ba Vì nói riêng và hệ thực vật Việt Nam nói chung.

Khảo sát sinh cảnh và tìm loài cây bụi có tiềm năng sử dụng làm cảnh tại Vườn Quốc gia Ba Vì (Phạm, 2025)

Ngoài ra, Vườn Quốc gia Ba Vì cũng là nơi có nhiều loài cây xanh đặc hữu, điển hình như: Mua Ba Vì (Allomorphia baviensis), Thu Hải đường Ba Vì (Begonia baviensis), Xương cá Ba Vì (Tabernaemontana baviensis), Cau rừng Ba Vì (Pinanga baviensis), Lưỡi vàng làng cò (Lasianthus langkokensis), Sặt Ba Vì (Fargesia baviensis), Mỡ Ba Vì (Maglolia baviensis), Cói túi Ba Vì (Carex bavicola Raym.).

3. Nguyên tắc chọn loài cây xanh đô thị có nguồn gen từ Vườn Quốc gia Ba Vì

Để phát triển bền vững nhóm cây bụi phù hợp với không gian kiến trúc cảnh quan, điều kiện lập địa và môi trường đô thị Hà Nội, nhóm nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc chính trong chọn loài cây bụi như sau:

  • Ưu tiên các loài cây bản địa: Cây bản địa có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trong khu vực và thể hiện tốt vai trò hiệu quả cảnh quan, kinh tế nhờ tính ổn định. Những loài cây bản địa mang đặc trưng khí hậu của mỗi vùng là cơ hội tạo lập bản sắc cho đô thị.
  • Hợp cây hợp đất: Trong quá trình lựa chọn loài cây trồng cần kết hợp đánh giá các điều kiện lập địa với đặc tính của cây, khả năng thích ứng của cây với điều kiện tiểu khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn…. Cây thích ứng với điều kiện môi trường có khả năng phòng chống sâu bệnh cao, sinh trưởng phát triển ổn định.
  • Tối ưu công năng sử dụng: Với mục đích cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư đô thị, công tác trồng cây xanh cần đáp ứng các yêu cầu công năng như cải thiện môi trường sinh thái, làm sạch môi trường không khí, hạn chế tiếng ồn…. Đặc biệt là nhóm cây trồng đường phố – nơi có những đặc trưng không gian riêng biệt, cũng như điều kiện vi khí hậu khắc nghiệt.
  • Đáp ứng các yêu cầu cảnh quan đặc thù của đô thị Hà Nội: Nhóm cây tiềm năng có thể trồng cho khu vực Hà Nội cần quan tâm đến đặc điểm của một số loại hình không gian đặc thù: Khu phố cổ, khu phố cũ (khu phố Pháp), khu phố mới (các khu đô thị, khu vực phát triển mở rộng), khu vực ngoại ô, các trục đường lớn hay trục đường có vai trò cảnh quan đặc biệt, và các không gian mặt nước (một yếu tố cảnh quan đặc thù và gắn liền với tên gọi của TP Hà Nội – TP của sông hồ). Không chỉ tạo mảng xanh, nhóm cây bụi có khả năng cho hoa và tạo hương là những lợi thế quan trọng nhằm tạo lập tính hấp dẫn cho không gian kiến trúc cảnh quan đô thị của Hà Nội.
  • Hiệu quả kinh tế: Ưu tiên khai thác nhóm cây bụi có hình thái tán và đặc điểm sinh trưởng phát triển không đòi hỏi nhiều chi phí duy trì duy tu, và là cây lâu năm. Ngoài ra, nhóm cây bụi tuyển chọn có giá trị về dược liệu cũng là một lợi thế.

4. Đề xuất danh mục các loài cây bụi tiềm năng cho cảnh quan đô thị Hà Nội

Từ các cơ sở khoa học và tiêu chí đánh giá đã xây dựng, nhóm nghiên cứu đã tiến hành rà soát toàn bộ thành phần loài cây tự nhiên tại Vườn Quốc gia Ba Vì, phân tích đặc điểm hình thái – sinh thái – cảnh quan, đồng thời sàng lọc các nhóm cây ít phù hợp với điều kiện đô thị ở Hà Nội (đặc biệt là nhóm cây bụi có phân bố ở đới cao). Kết quả, nhóm đã lựa chọn được 31 loài cây bụi có tiềm năng trồng cho đô thị Hà Nội (Bảng 3). Danh sách lựa chọn thể hiện sự ưu tiên dành cho những loài có hình thái mềm mại, chiều cao thấp hoặc trung bình, dễ cắt tỉa, tạo hình, nhiều loài có hoa/lá đẹp hoặc hình thái độc đáo và cây cho hương. Những loài cây có giá trị cảnh quan lớn như Chàm mèo (Strobilanthes cusia (Nees) Kuntze) cho hoa đẹp hay Dẻ thơm (Desmos chinensis Lour) cho hương thơm dịu là những loài cây có khả năng ứng dụng cao nhờ khả năng thích nghi ngay trong điều kiện lập địa của Hà Nội. Đồng thời, các loài như Bướm bạc Ba Vì (Mussaenda baviensis), Bóng nước hoa vàng (Impatiens claviger), Râu hùm hoa tía (Tacca chantrieri) không chỉ tạo điểm nhấn cảnh quan mà còn góp phần tăng tính đa dạng sinh học trong không gian đô thị. Bên cạnh đó, nhiều loài bản địa như Begonia palmata (Thu hải đường chân vịt), Curculigo gracilis (Cồ nốc mảnh), Sặt Ba Vì (Arundinaria baviensis Balansa) có khả năng chịu bóng tốt, sống ổn định trong điều kiện bán râm, rất phù hợp với không gian như sân trong, bồn cây, ven hồ hoặc khu vực phố cổ.

Bảng 3. Danh sách loài cây bụi tiềm năng cho phát triển cây xanh đô thị Hà Nội

5. Kết luận

Khai thác nguồn gen các loài thực vật cho phát triển cây xanh đô thị góp phần nâng cao tính đa dạng sinh học cho hệ sinh thái tự nhiên, đáp ứng sự đa dạng hóa nguồn gen và nâng cao giá trị thẩm mỹ không gian kiến trúc cảnh quan đô thị. Khai thác nguồn gen thực vật thông qua các biện pháp nhân giống và chuẩn bị nguồn giống tại các vườn ươm cho các loài thực vật bản địa đóng vai trò quan trọng cho việc phát triển bền vững hệ sinh thái đô thị, tôn vinh các loại cây xanh khu vực Hà Nội; góp phần bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, cây xanh bản địa cũng như tạo lập bản sắc cho thành phố Hà Nội nhờ cây xanh đặc thù, phân bố tự nhiên tại Vườn Quốc gia Ba Vì.

Kết quả nghiên cứu đề xuất danh mục rút gọn 31 loài cây bụi có tiềm năng cao để bổ sung vào hệ thống cây xanh đô thị Hà Nội. Các loài được lựa chọn không chỉ đáp ứng các yêu cầu sinh trưởng trong điều kiện môi trường tương đồng, có khả năng thích nghi với môi trường đô thị khắc nghiệt (ô nhiễm, đất nén, ngập úng tạm thời…) mà còn có giá trị cảnh quan, thẩm mỹ và sinh thái cao.

Danh mục đề xuất là cơ sở khoa học để triển khai các bước tiếp theo như thử nghiệm trồng thực tế, xây dựng quy trình nhân giống và phát triển danh mục cây xanh bản địa cho đô thị Hà Nội có nguồn gốc từ Ba Vì. Bên cạnh giá trị ứng dụng, nghiên cứu cũng góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy nguồn gen thực vật bản địa, hướng tới mục tiêu phát triển không gian xanh đô thị bền vững, mang bản sắc sinh thái địa phương. Đây cũng là bài học có giá trị cho phát triển cảnh quan đặc trưng của mỗi đô thị dựa vào thành phần loài cây xanh bản địa tại mỗi vùng miền, địa phương.

TS.KTS. Phạm Anh Tuấn
Trưởng nhóm chuyên môn Kiến trúc cảnh quan, Trường ĐH Xây dựng Hà Nội; Chủ tịch Chi hội KTS cảnh quan Việt Nam
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 05-2026)


Ghi chú

Bài viết được hỗ trợ từ kết quả nghiên cứu của Đề tài “Nghiên cứu khả năng nhân giống, sử dụng cây xanh tự nhiên từ Vườn Quốc gia Ba Vì để nâng cao chất lượng không gian kiến trúc cảnh quan đô thị thành phố Hà Nội”, Đề tài cấp thành phố Hà Nội, Mã số CT05/01-2023-4, thực hiện bởi Trường ĐH Xây dựng Hà Nội.


Tài liệu tham khảo
– Cục Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học (2024): Việt Nam xếp hạng thứ 14 thế giới về chỉ số đa dạng sinh học, https://nbca.gov.vn/viet-nam-xep-hang-thu-14-the-gioi-ve-chi-so-da-dang-sinh-hoc/, ngày 02/05/2026;
– Cục Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học (2024): Việt Nam được ghi nhận là một trong những nước có đa dạng sinh học cao của thế giới. < https://nbca.gov.vn/viet-nam-duoc-ghi-nhan-la-mot-trong-nhung-nuoc-co-da-dang-sinh-hoc-cao-cua-the-gioi/#:~:text=Đa%20dạng%20loài,các%20giống%20lúa%20địa%20phương%20.>;
– Nguyễn Tiến Bân (2005): “Đa dạng hệ thực vật Việt Nam-Hiện trạng và các giải pháp”, Báo cáo khoa học Hội thảo toàn quốc, Đa dạng sinh học Việt Nam: Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, Hà Nội ngày 20-21/12/2005, trang: 8-14;
– Phạm Anh Tuấn (2024-2026): Nghiên cứu khả năng nhân giống, sử dụng cây xanh tự nhiên từ Vườn Quốc gia Ba Vì để nâng cao chất lượng không gian kiến trúc cảnh quan đô thị thành phố Hà Nội, Đề tài cấp thành phố Hà Nội, Mã số CT05/01-2023-4;
– Vườn quốc gia Ba Vì (2020): Hệ thực vật vườn quốc gia Ba Vì, < https://vuonquocgiabavi.com.vn/he-thuc-vat-vuon-quoc-gia-ba-vi/>;