Kiến trúc là một ngành nghệ thuật đòi hỏi tính sáng tạo, tổng hợp cao trong việc vận dụng những khối kiến thức trong các lĩnh vực kỹ thuật, văn hóa xã hội và lịch sử, triết học …. Với đặc điểm như vậy, việc giảng dạy và học Kiến trúc là một quá trình bền bỉ, tích lũy, từng bước hoàn thiện bản thân và nuôi dưỡng “ngọn lửa của sự sáng tạo”. Điều đó đòi hỏi sự kiên nhẫn không ngừng nghỉ của cả người thày và sinh viên khi theo đuổi ngành học này.

(Các sinh viên Kiến trúc trong giờ học vẽ kỹ thuật)
Trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và kiến trúc nói riêng, việc dạy sinh viên sáng tác là thách thức rất lớn của người thày, là bởi không thể theo một phương pháp hay nguyên lý cơ bản nào – nếu cứng nhắc trong tư duy sư phạm, có thể tạo ra những “bản sao vô tính” và làm mất đi năng lực sáng tạo tự thân của người học. Tuy nhiên, nếu không nghiêm khắc và thôi thúc sinh viên, sẽ dẫn đến tình trạng trễ nải, dễ dãi, thiếu sự nghiêm túc, dường như cũng vốn có trong sinh viên Kiến trúc. Trong mô hình đào tạo KTS, sự điều tiết giữa tính mềm dẻo để phát huy thuộc tính sáng tạo của người học với sự nghiêm túc trong sáng tạo nghệ thuật luôn là hai mặt của một quá trình sư phạm thống nhất, trong đó người học luôn có vai trò trung tâm.
Bản thân người thày cũng đến với sinh viên trên hai cương vị: KTS và nhà sư phạm.
Với vai trò một KTS, mô hình giảng dạy đòi hỏi người thày hai tố chất cơ bản:
– Tình yêu thực sự với nghề nghiệp thông qua niềm say mê, tìm tòi thể nghiệm của bản thân để truyền được ngọn lửa đam mê đến người học, giúp cho sinh viên có sự thăng hoa rất cần thiết trong quá trình nạp kiến thức cũng như phát huy những năng lực của bản thân, vận dụng kiến thức tổng hợp vào những tình huống sáng tạo cụ thể trong các đồ án chuyên ngành.
– Hệ thống kinh nghiệm thực chứng của người thày, thông qua quá trình trau dồi kiến thức bền bỉ và hành nghề với những thể nghiệm cụ thể, gắn với môi trường xã hội. Qua đó, người thày phát triển cá tính và bản sắc cá nhân, nuôi dưỡng “ngọn lửa sáng tạo” một cách bền bỉ với tư cách là một người hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật. Dù ở mức độ nào thì những hoạt động sáng tạo thực tiễn cũng hết sức cần thiết đối với những người thày giáo – KTS, giúp cho họ có được những phẩm chất cần thiết khi đứng trên giảng đường.
Với vai trò của một nhà sư phạm, phương pháp giảng dạy cũng đòi hỏi người thày hai tố chất cơ bản:
– Quan điểm thật sự khách quan và dân chủ với những ý tưởng sáng tạo mới mẻ, đặc biệt là đối với những đề xuất của sinh viên khi hướng dẫn đồ án. Vượt qua những định kiến cá nhân là điều rất cần thiết, tôn trọng những ý tưởng khác biệt trong cách đặt vấn đề và hướng giải quyết của đồ án sinh viên, mặc dù bằng kinh nghiệm bản thân, người thày có thể nhận thấy nhiều thách thức trong hướng phát triển ý tưởng.
– Khả năng “hóa thân” để chia sẻ những tham vọng sáng tạo của người học trong tình huống cụ thể. Song, sự hóa thân này cũng cần đến sự tỉnh táo của người thày để thấy rõ sự hình thành cá tính của người học, đồng thời tiềm ẩn những thách thức hoặc thậm chí là nguy cơ, và bằng kinh nghiệm của mình chỉ ra cho họ hướng phát triển tích cực, khắc phục những nhược điểm khi triển khai ý tưởng.
Sinh viên ngành Kiến trúc bước vào môi trường đào tạo chuyên nghiệp với xuất phát điểm được đánh giá qua kỳ thi tuyển sinh đại học: “có năng khiếu” (ngoài những kiến thức khoa học cơ bản). Để kiến giải cho cái gọi là “năng khiếu”, nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục, Xã hội học đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng rất khó có sự đánh giá đồng nhất, cụ thể cho một ngành học nào đó. Như Ambile T.M và Milgram R.M – (các nhà nghiên cứu tâm lý học Mỹ) đều cho rằng: Sáng tạo là chìa khoá mở ra khả năng khám phá, tư duy và cần được phát triển cả hai mặt: Nhận thức và tình cảm. Flanmagan J.C và Stein M.I lại phân biệt giữa sáng tạo và tài năng và cho rằng: nếu không có sáng tạo thì khó có thể phát triển thành tài năng trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. Giáo sư xã hội học người Anh Elliott Jaques cho rằng: Năng lực trí tuệ là năng lực cá nhân, mà năng khiếu là sự nổi trội của năng lực trí tuệ cá nhân, tập trung vào một trong nhiều chuyên ngành, dựa trên hứng thú cá nhân – có sự ảnh hưởng không nhỏ từ xã hội…
Sự cân bằng ban đầu giữa các môn thi có tính khoa học (hướng đến những tố chất của một người làm kỹ thuật) và môn năng khiếu (hướng đến tố chất của những người làm nghệ thuật) cho đến nay vẫn còn là vấn đề đối với nhiều cơ sở đào tạo KTS tại Việt Nam. Song, từ những tiêu chí lựa chọn đầu vào cũng cho thấy những tố chất của người làm kiến trúc luôn là sự tổng hợp cả hai yếu tố nghệ thuật và kỹ thuật – một cách hài hòa và sáng tạo.
Trên thực tế, trong trường đại học, một mặt sinh viên được hoàn thiện hơn những hiểu biết và kỹ năng về mỹ thuật, mặt khác họ bắt đầu sự chuyển hóa năng lực sáng tạo từ mỹ thuật đến kiến trúc. Sự chuyển hóa này mang thuộc tính sáng tạo với những ngôn ngữ biểu cảm nghệ thuật khác nhau. Điều này cũng cho thấy: Từ năng khiếu mỹ thuật đến sự phát triển năng lực sáng tạo trong kiến trúc là một chặng đường dài, đòi hỏi người học phải nỗ lực dưới sự giúp đỡ của đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhiều chuyên ngành khác nhau, nhằm từng bước đặt nền móng cho sự hội tụ cần thiết của nhiều tố chất – cả nghệ thuật và kỹ thuật. Các sinh viên có năng khiếu phải trải qua một quá trình đào tạo với một hệ thống chương trình đúng hướng, thông qua những phương pháp giảng dạy linh hoạt trong một môi truờng sư phạm nghiêm túc, vừa đáp ứng những chuẩn mực chung cho ngành học, vừa phát triển được những năng lực cá nhân để tạo tiền đề cho sự nghiệp sáng tác kiến trúc sau này.
Chương trình đào tạo KTS hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm, từ đó tạo ra những đặc điểm của từng cơ sở đào tạo khác nhau. Tuy vậy, cũng dễ nhận thấy: chương trình đào tạo tiên tiến có đặc điểm chung là hướng đến sự phát triển đa dạng ở các cấp bậc và chuyên ngành sâu rất đa dạng, trên nền những yêu cầu chung của hoạt động Kiến trúc, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội. Ở mỗi bậc học đều có những hệ thống tiêu chí chung và những định hướng riêng mà người học có thể lựa chọn để phát triển chuyên môn sâu ở những bậc sau, tuỳ thuộc vào năng lực, sở thích và yêu cầu từ những hoạt động thực tiễn. Từ nền của một bậc học có tính cơ bản, nhiều trường đại học đào tạo ngành Kiến trúc gọi chung là Cử nhân Kiến trúc (B-Arch) với thời gian đào tạo từ 3 – 4 năm, người học có thể theo đuổi nhiều chuyên ngành khác nhau như: Thiết kế kiến trúc cảnh quan, Quy hoạch, thiết kế đô thị, thiết kế kiến trúc …..ở các bậc học sau – như M-Arch hoặc D-Arch với thời gian đào tạo từ 2-3 năm theo hướng nâng cao năng lực thiết kế để trở thành các KTS, hoặc trở thành những nhà nghiên cứu lý luận, quản lý chuyên ngành trong lĩnh vực Kiến trúc. Sự phân cấp và chuyên ngành sâu tạo ra môi trường hành nghề đa dạng mà ở đó mỗi cá nhân đều có cơ hội phát huy được sở trường của mình, năng lực sáng tạo được ứng dụng trong một môi trường thích hợp.
Ở Việt Nam, hiện nay đang trong quá trình đổi mới hệ thống giáo dục đại học, hướng đến môi trường hội nhập quốc tế và khu vực. Chương trình đào tạo ngành Kiến trúc vẫn chỉ có 1 bậc học với thời gian đào tạo 5 năm, được thiết kế đảm bảo quy định khung chương trình của khối các trường đào tạo kỹ thuật, đầu ra là KTS thiết kế công trình hoặc KTS quy hoạch …. Đây là thực trạng nên được xem xét để có thể từng bước chuyển đổi, giúp cho sinh viên có nhiều sự lựa chọn hơn cho việc phát huy năng lực sáng tạo vào một chuyên môn sâu thích hợp, đáp ứng yêu cầu xã hội trong quá trình Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá Đất nước.
Cùng với việc nghiên cứu đổi mới cấu trúc của chương trình đào tạo, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy cũng cần được nghiên cứu, cập nhật, chuyển biến để giúp cho người học phát huy vai trò trung tâm của mình. Nội dung của chương trình đào tạo ngành Kiến trúc được thiết kế với các khối kiến thức: Kỹ thuật, văn hoá – xã hôi nhân văn, môi trường, chuyên ngành …. thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong đó hệ thống đồ án kiến trúc có vai trò trung tâm kết nối, giúp sinh viên thể nghiệm các ý tưởng sáng tạo từ đơn giản đến phức tạp, thực tập và ứng dụng một cách tổng hợp nhất các khối kiến thức đã được trang bị, thông qua đó khắc sâu sự hiểu biết và hoàn thiện các kỹ năng cần thiết. Hệ thống đồ án trong chương trình đào tạo luôn được các cơ sở đào tạo ngành Kiến trúc trên thế giới nghiên cứu đổi mới, nhằm đưa sinh viên của mình tiếp cận thực tiễn, phát huy năng lực tư duy sáng tạo gắn với xu hướng phát triển của ngành học.
Phương pháp giảng dạy được áp dụng cho việc đào tạo ngành Kiến trúc là một hệ thống các phương pháp truyền đạt kiến thức và rèn luyện kỹ năng một cách linh hoạt nhằm giúp người học tiếp cận các khối kiến thức một cách chủ động. Hiện nay, thế giới đang đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng phương pháp giảng dạy phát triển tư duy sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và thực hiện các tác nghiệp theo nhóm của người học. Các phương pháp giảng dạy mới đã và đang từng bước thay thế những phương thức truyền đạt kiến thức chỉ tập trung vào kỹ năng tư duy phân tích thuần tuý (thiên về việc thày thuyết trình và người học ghi bài, thông tin bài giảng chỉ mang tính một chiều). Phương pháp giảng dạy theo dự án là ví dụ rất điển hình cho việc đào tạo ngành Kiến trúc, mục tiêu là sinh viên học nhiều hơn, hiểu biết sâu và rộng hơn về kiến thức chuyên ngành chứ không phải chỉ tìm ra những câu trả lời đúng cho các yêu cầu của giảng viên. Theo đó, vai trò của giảng viên cũng cần có sự điều chỉnh phù hợp với phương pháp giảng dạy này: Tập trung vào việc hướng dẫn cho học viên, tạo cơ hội để học viên phát huy khả năng học tập và sáng tạo, đẩy mạnh tinh thần làm việc theo nhóm, tránh việc tiếp thu kiến thức thụ động.
Ngoài ra, phương pháp kỹ thuật phát triển ý tưởng (Brainstoming) của tác giả Alex Osborn (Hoa Kỳ) rất được chú ý để ứng dụng trong đào tạo KTS – với những nguyên tắc cơ bản, khuyến khích người học tự do độc lập tư duy, đề xuất các ý tưởng, phản biện và kết nối các ý tưởng theo nhóm, xác lập hiệu quả làm việc của từng thành viên trên một đề tài nghiên cứu chuyên ngành hoặc một đồ án môn học có tính tổng hợp. Bên cạnh đó, còn khá nhiều phương pháp giảng dạy khác như phương pháp học với thực tiễn của David A Klob, phương pháp Quản lý ý tưởng, Phương pháp phân vai….Tùy theo những tình huống cụ thể, những phương pháp giảng dạy nên được ứng dụng một cách linh hoạt, nhằm khuyến khích sinh viên phát huy hết khả năng tư duy của mình để đề xuất những ý tưởng sáng tạo khi thực hiện những đồ án kiến trúc.
Con đường phát triển từ một người có năng khiếu đến một KTS có khả năng sáng tạo là một chặng đường phấn đấu rất dài, nhiều thử thách. Cùng lòng yêu nghề và với sự nỗ lực của bản thân, họ đang cần lắm sự nhiệt huyết của những người thày – với đầy đủ tố chất, trong một môi trường đào tạo tốt với cấu trúc chương trình đào tạo khoa học, nội dung chương trình đào tạo phong phú và tiếp cận phương pháp giảng dạy tiên tiến… để có thể phát huy tối đa năng lực sáng tạo của bản thân, từng bước hoàn thiện và có một sự nghiệp hứa hẹn sau cánh cổng của Trường đại học Kiến trúc.
TS. KTS LÊ QUÂN
Đại học Kiến trúc Hà Nội


















