Tóm tắt: Hệ thống đào tạo kiến trúc sư tại Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp được tiếp cận chủ yếu qua giai đoạn sơ khởi của Trường Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội (1924–1945). Giai đoạn hình thành Trường Kiến trúc Đà Lạt (1947–1948) vẫn còn nhiều khoảng trống. Bằng phương pháp phân tích các tài liệu lưu trữ sơ cấp được lưu trữ, bài báo giới thiệu bối cảnh lịch sử, cấu trúc, triết lý sư phạm và những thành tựu đạt được của Trường Kiến trúc Đà Lạt trong hai năm hoạt động với tư cách là “Trường Kiến trúc Khu vực chính quốc” trực thuộc Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris, được quyền cấp văn bằng Kiến trúc sư Nhà nước (D.P.L.G.)… Hy vọng rằng những tư liệu này sẽ mang lại những bài học thực tiễn giá trị cho công tác đào tạo kiến trúc sư hiện nay.
Từ khóa: Trường Kiến trúc Đà Lạt, D.P.L.G., Mỹ thuật Đông Dương, đào tạo kiến trúc.
1. Giới thiệu bối cảnh chung
Lịch sử thuộc địa của Pháp tại Đông Dương, kể từ sau khi áp đặt Hiệp ước Bảo hộ năm 1884, luôn là một tiến trình kết hợp chặt chẽ giữa khai thác kinh tế vật chất và thực hiện “sứ mệnh khai hóa” thông qua các thể chế văn hóa – giáo dục. Học giả Henri Gourdon thực hiện bài thuyết trình lịch sử mang tên “Sur l’art annamite” tại Trường Thuộc địa Paris vào ngày 09/01/1914. Bài viết sau đó được đăng trên tạp chí Revue indochinoise, số tháng 06/ 1914 đã chỉ ra sự suy tàn nghiêm trọng của nghệ thuật bản địa và sự xuất hiện của phong cách “mại bản” lai tạp (sao chép catalog phương Tây). Ông chính thức đề xuất thành lập một trường nghệ thuật trung tâm tại Hà Nội để “dạy vẽ, điêu khắc, và kỹ thuật mộc/đồng dựa trên nghiên cứu tự nhiên và truyền thống” [1]
Bước ngoặt lớn nhất được đánh dấu bằng sự ra đời của Trường Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de l’Indochine – EBAI) tại Hà Nội vào năm 1924 theo Nghị định của Toàn quyền Martial Merlin [2]. Với sứ mệnh dập tắt cuộc khủng hoảng thẩm mỹ của “phong cách mại bản” [3]. Và đặc biệt là thành lập chính thức Ban Kiến trúc thuộc Trường Mỹ thuật Đông Dương với nội dung đào tạo kiến trúc chỉ là khóa phụ liên kết với Trường Công chính. Tuy nhiên, nhờ kết quả xuất sắc của lớp học vẽ kiến trúc khảo cổ học do kiến trúc sư Batteur giảng dạy, Toàn quyền quyết định nâng cấp thành một Ban Kiến trúc chính quy độc lập [4]. Chỉ trong một thời gian ngắn, EBAI đem các tác phẩm nghệ thuật, đồ gỗ trang trí và đồ án kiến trúc sang trưng bày tại gian triển lãm đặc biệt đặt trong Pavillon d’Angkor và giới phê bình nghệ thuật Paris kinh ngạc trước chất lượng tác phẩm của sinh viên Việt Nam [5]. Giám đốc Victor Tardieu trình bày thành quả của Ban Kiến trúc trong việc cứu vãn di sản xây dựng truyền thống trước làn sóng rập khuôn lai tạp tại Paris trong khuôn khổ chuyến thăm của Hoàng đế Bảo Đại sáng ngày 12/12/1933, Ông tự hào tuyên bố: “Một nền nghệ thuật trọn vẹn, nghệ thuật An Nam hiện đại đã ra đời, “cấy ghép” sâu sắc vào sự nối dài của nghệ thuật truyền thống cổ xưa rốt cuộc đã được tìm lại và người ta sẽ không bao giờ từ bỏ nữa” [6]. Năm 1939, Ban tổ chức kỳ thi tốt nghiệp tối cao của Trường Cao đẳng Kiến trúc (École des Hautes Études d’Architecture) công bố danh sách 5 sinh viên Việt Nam đầu tiên nhận bằng Kiến trúc sư chính quy vào tháng 10/1939 [7].
Do các biến cố chính trị của năm 1945, chương trình đào tạo tập trung tại Hà Nội bị phá vỡ. Để tái thiết các đô thị Đông Dương bị tàn phá, rất cần nguồn nhân lực kỹ thuật cao cấp, chính quyền Pháp đã đưa ra một quyết định mang tính chiến lược: Tách Ban Kiến trúc ra khỏi EBAI và di dời toàn bộ thể chế đào tạo này lên vùng đất nghỉ dưỡng ở Đà Lạt với tên gọi là Trường Kiến trúc Đà Lạt [8].
Bài báo dựa trên các tài liệu hành chính gốc: Nghị định ngày 08/03/1948 của Chính phủ Pháp đăng trên Công báo Cộng hòa Pháp (Journal Officiel de la République Française – JORF, 02/4/1948) chính thức công nhận tư cách pháp lý của trường với quy chế hoạt động tạm thời trong 3 năm. Và hệ thống lưu trữ báo chí đương thời xuất bản tại thuộc địa và chính quốc: Các bài báo mang tính thông cáo và phỏng vấn trực tiếp trên Le Journal de Saïgon (26/04/1947), Le Populaire d’Indochine (26/4/1947, 01/3/1948, 05/3/1948, 11/3/1948, 14/9/1948), và tờ báo cấp tiến Combat tại Paris (02/11/1948) để phân tích các đặc điểm Trường Kiến trúc Đà Lạt (École d’architecture de Dalat) tồn tại trong thời gian cực kỳ ngắn từ tháng 4/1947 (thời điểm tái lập trường) đến cuối năm 1948 và đóng góp vai trò quan trọng trong việc đào tạo Kiến trúc sư vào những ngày cuối cùng của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam.
2. Nội dung
Trường Kiến trúc Đà Lạt được khảo sát theo hai giai đoạn: (i) Tái lập và xác lập quy chế quốc tế (Tháng 4/1947 – Tháng 3/1948); (ii) Phục hưng học thuật dưới thời Arthur Kruze (Tháng 3/1948 – Cuối năm 1948): Khẳng định kết quả thi cử xuất sắc và tham vọng phát triển học thuật mạnh mẽ.
2.1. Trường Kiến trúc Đà Lạt qua ảnh tư liệu
Mục tiêu ban đầu của chính quyền liên bang khi đưa trường lên Đà Lạt là kiến tạo một môi trường học tập lý tưởng, sạch sẽ và an toàn tuyệt đối. Sự thích ứng này được phản ánh rõ nét qua các bức ảnh tư liệu lịch sử đầu năm 1948:
Hình thái kiến trúc của trường (Hình 1) thể hiện sự dứt bỏ hoàn toàn đối với phong cách Tân cổ điển (Neoclassicism) nặng nề của các công trình hành chính Hà Nội. Với mặt tiền của tòa nhà học đường một tầng mang phong cách kiến trúc hiện đại (Modernism) nhiệt đới hóa. Kết cấu công trình sử dụng hệ dầm cột bê tông cốt thép dứt khoát, mái bằng, sơn tường trắng sáng tương phản mạnh với nền đất đỏ cao nguyên. Phía trên lối vào chính khắc dòng chữ nổi: “École supérieure des beaux-arts – architecture”.
Không gian nội thất của xưởng thực hành thiết kế kiến trúc rộng lớn và tràn ngập ánh sáng. Các bàn vẽ bằng gỗ lớn được xếp song song chạy dọc theo phòng học. Hệ thống cửa sổ dài đón sáng kéo dài liên tục dọc theo bức tường phía trên, tối ưu hóa nguồn ánh sáng tự nhiên từ hướng Nam của cao nguyên – một giải pháp kỹ thuật hỗ trợ vật lý kiến trúc tối ưu đối với hoạt động thiết kế và thực hành các môn học kiến trúc. Sinh viên và giảng viên mặc áo sơ mi trắng đang nghiên cứu đồ án bên các giá vẽ. Thông qua tư liệu, chúng ta có thể thấy phương pháp giảng dạy trực quan, đề cao sự tương tác trực tiếp giữa thầy và trò được thể hiện qua cách bố trí không gian xưởng mở. Sinh viên không ngồi nghe lý thuyết mà trực tiếp thực hành vẽ kỹ thuật và nghiên cứu chi tiết điêu khắc truyền thống dưới sự hướng dẫn của giảng viên.
Các sinh viên đang ngồi trước các bảng vẽ gỗ đặt trên giá vẽ chuyên dụng, chăm chú thực hiện các bản phác thảo bằng chì dựa trên các mẫu thạch cao họa tiết lá sồi và hoa văn cổ điển phương Tây được gắn phía trước. Kỹ thuật đánh bóng, dựng hình phối cảnh và luật viễn cận được rèn luyện tỉ mỉ. Điều này thể hiện mặc dù Trường vừa được thành lập, nằm ở cao nguyên Đông Dương biệt lập… nhưng quy trình rèn luyện thẩm mỹ hàn lâm theo chuẩn mực của Trường Mỹ thuật Paris vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Việc rèn luyện vẽ họa tiết cổ điển thạch cao là bài tập bắt buộc để sinh viên làm chủ các quy luật dựng hình trước khi bước vào các đồ án sáng tác phức tạp hơn.
Và để hiểu thêm về bối cảnh văn hóa nghệ thuật của thế hệ giảng viên kỳ cựu đã đặt nền móng cho tri thức thẩm mỹ Đông Dương từ thời kỳ Hà Nội trước khi chuyển dịch lên Đà Lạt, chúng ta có thể tham khảo một bức tranh biếm họa độc đáo ghi nhận chân dung của họ vào giai đoạn cuối tại Hà Nội. Bản vẽ biếm họa sinh động của họa sĩ Mai-văn-Nam và Bùi Xuân Phái phác thảo chân dung của các học viên và thầy giáo. Ở trung tâm là bức tranh của Bùi Xuân Phái vẽ họa sĩ Nam Sơn, Giám đốc điêu khắc Evariste Jonchère, họa sĩ Joseph Inguimberty, cùng các viên chức cao cấp như giám đốc Học chính Taboulet, giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ Georges Coedès. Đây là những giảng viên và nhà quản lý đã trực tiếp định hình nên triết lý đào tạo Đông Dương trước khi phân ban Kiến trúc di tản lên Đà Lạt.

2.2. Kỳ vọng và xác lập mục tiêu đào tạo
Kết quả đạt được của quá trình đào tạo được phân tích qua các thông cáo báo chí giai đoạn đầu (1947) và bài trả lời phỏng vấn tổng kết vào tháng 9/1948.
Qua dữ liệu thống kê, mặc dù chịu ảnh hưởng bởi các biến cố về chính trị, với quy mô nhân lực nhỏ nhưng trường đã đạt được những thành tựu học thuật lớn (100% đồ án được Paris chấp nhận). Arthur Kruze lý giải nguyên nhân từ quy mô nhỏ của lớp học: “Tôi tin rằng thành công này đến từ phương pháp giảng dạy của chúng tôi, cho phép duy trì sự tiếp xúc liên tục và thường xuyên giữa giảng viên và sinh viên” [10]. Theo đó, mô hình Trường Kiến trúc Đà Lạt thực chất là một xưởng thủ công tinh hoa được hỗ trợ bằng nguồn ngân sách liên bang ưu đãi. Sự tự do tuyệt đối trong thực hành sáng tác và bầu không khí “đời sống sinh viên” đã kích thích tối đa năng lực của người học [10].
3. Phân tích và bàn luận về bản chất triết lý sư phạm kiến trúc
Hiện nay, các nghiên cứu lịch sử kiến trúc Việt Nam trong giai đoạn thuộc địa Pháp thường chưa đề cập nhiều đến giai đoạn đào tạo kiến trúc tại Đà Lạt, hoặc chỉ xem như một sự gián đoạn tạm thời của EBAI Hà Nội. Tuy nhiên, các phân tích dữ liệu trên cho thấy:
Một là, giai đoạn đào tạo kiến trúc tại Đà Lạt (1947–1948) là thời kỳ đỉnh cao về mặt thể chế pháp lý của giáo dục kiến trúc Việt Nam thời thuộc địa. Lần đầu tiên, tấm bằng do một ngôi trường đặt tại Việt Nam cấp phát được đặt ngang hàng với bằng cấp quốc tế của Paris (D.P.L.G.), vượt qua mọi rào cản phân biệt chủng tộc thuộc địa trước đó để đào tạo ra những kiến trúc sư thực thụ thay vì chỉ là các họa viên công chính cấp thấp.
Hai là, trường Kiến trúc Đà Lạt chính là phòng thực nghiệm hoàn hảo cho lý thuyết: mang các chương trình học học thuật nghiêm ngặt từ Paris nhưng đặt trong không gian cao nguyên mát mẻ, ôn đới của Đà Lạt, các kiến trúc sư tương lai đã được rèn luyện khả năng làm chủ các vật liệu hiện đại (bê tông cốt thép, kính) để giải quyết các bài toán thích ứng khí hậu đặc thù của vùng nhiệt đới núi cao. Như Arthur Kruze đã tuyên bố một cách đầy tự hào: “Các kiến trúc sư người Việt của chúng tôi sẽ đủ sức cạnh tranh sòng phẳng trong bất kỳ cuộc thi thiết kế quốc tế nào” [10].
Ba là, việc nâng cấp Trường Kiến trúc Đà Lạt lên cấp trường khu vực chính quốc nằm trong chiến lược xoa dịu làn sóng đấu tranh giành độc lập của người bản xứ bằng cách ban phát các đặc quyền văn hóa tinh hoa… nhằm kéo dài sự hiện diện của họ ở châu Á. Nhưng chính sự thể chế hóa học thuật nghiêm túc và việc trao đi các công cụ tri thức tối cao (D.P.L.G.) đã tạo ra một tác dụng ngược ngoài tầm kiểm soát của nhà cầm quyền Pháp. Thay vì đào tạo ra những cộng sự phục tùng, trường đã tôi luyện nên một thế hệ kiến trúc sư Việt Nam có năng lực học thuật kiệt xuất, có tư duy phản biện độc lập và tầm nhìn quốc tế.
Sau thất bại của chính quyền thực dân Pháp tại Việt Nam, chính lực lượng tri thức tinh hoa này đã trở thành những hạt nhân cốt lõi dẫn dắt công cuộc kiến thiết và định hình nên nền kiến trúc hiện đại hóa tự chủ của Việt Nam trong suốt nửa sau thế kỷ 20.
4. Kết luận
Với quy chế hoạt động tạm thời trong 3 năm (1948–1950) trong hồ sơ hành chính. Mặc dù các tài liệu cho thấy trường bước vào khóa học mới khai giảng ngày 1/10/1948 với quy mô 25 học viên. Nhưng các thông tin liên quan đến việc di dời toàn bộ cơ sở đào tạo từ Đà Lạt về Sài Gòn vào cuối năm 1950 và việc đổi tên thành Trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn vẫn cần các nghiên cứu và dữ liệu liên quan.
Qua các thông tin của trên, Trường Kiến trúc Đà Lạt giai đoạn 1947–1948 có những giá trị vô cùng độc đáo trong tiến trình hiện đại hóa giáo dục kiến trúc tại Việt Nam, chứng minh rằng một mô hình sư phạm cá nhân hóa, đề cao sự tự do sáng tạo và tôn trọng giá trị học thuật có thể tạo ra những kết quả phi thường. Tiếp nối hành trình đào tạo Kiến trúc sư Việt Nam 100 năm qua của Ban Kiến trúc trường Mỹ thuật Đông Dương, tiền thân của Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.
Các kết quả đào tạo của Trường kiến trúc Đà Lạt trong giai đoạn (1947-1948) gợi lên những suy ngẫm về đào tạo kiến trúc sư trong kỷ nguyên công nghệ số và sản xuất hàng loạt: Rất cần duy trì tính tương tác cá nhân giữa thầy và trò và một bầu không khí học thuật tự do vẫn là những giá trị cốt lõi để khơi gợi và nuôi dưỡng các tài năng kiến trúc đích thực.
Tài liệu tham khảo
- [1] Henri Gourdon, “Sur l’art annamite,” Revue indochinoise, pp. 547-562, 1914.
- [2] Paul Blanchard de la Brosse, “Une heureuse initiative du Gouvernement général : la création de l’École des beaux-arts de l’Indochine,” L’Écho annamite, 1924.
- [3] Victor Tardieu, “L’École des Beaux-Arts d’Hanoï,” La Dépêche coloniale, 1935.
- [4] Khuyết danh, “La visite de s. E. Le jonkheer de graeff à l’école des beaux-arts,” L’Avenir du Tonkin, 1930.
- [5] J.-G. Lemoine, “À L’EXPOSITION COLONIALE: Les stands de l’École des Beaux-Arts d’Indochine,” L’Écho de Paris, 1931.
- [6] Khuyết danh, “Bao-dai à Hanoï: le voyage de sa majesté l’empereur d’annam – Visite de l’École des Beaux-Arts de l’Indochine.,” L’Avenir du Tonkin, 1933.
- [7] Khuyết danh, “École d’architecture (Examen de sortie),” La Volonté indochinoise, 1939.
- [8] Khuyết danh, “L’école d’architecture de Dalat,” Le Journal de Saïgon, pp. 3-4, 1947.
- [9] Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp, “Thể lệ thành lập Trường Kiến trúc Đà Lạt (Đông Dương),” Journal Officiel de la République Française (JORF), p. 4, 1948.
- [10] Khuyết danh, “L’Asie sera en partie reconstruite par des architectes formés par nous” déclare M. Kruze, directeur de l’Ecole d’Architecture de Dalat,” Le Populaire d’Indochine., pp. 3-4, 1948.
TS. KTS. Phan Bảo An – KTS. Hồ Lê Quốc Vũ
© Tạp chí Kiến trúc






















