Tóm tắt
Bài viết khảo cứu quá trình hình thành và phát triển của Trường Kiến trúc Đà Lạt và Trường Kiến trúc Sài Gòn trên cơ sở kế thừa từ Ban Kiến trúc – Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Dựa trên các nguồn tư liệu lưu trữ, hồi ký và báo chí đương thời, bài viết làm rõ sự dịch chuyển không gian đào tạo kiến trúc từ Hà Nội vào Đà Lạt (1944) sau đó vào Sài Gòn (từ 1950); đồng thời hệ thống hóa những biến đổi về tổ chức thể chế và chương trình đào tạo trong bối cảnh chiến tranh và những chuyển biến lịch sử.
Trên cơ sở đó, bài viết lập luận rằng Trường Kiến trúc Đà Lạt không chỉ là một thiết chế trung gian, mà còn có thể được hiểu như một thử nghiệm muộn trong việc tái cấu trúc mô hình đào tạo kiến trúc ngoài chính quốc.
Trường kiến trúc Đà Lạt: Những khó khăn của sự khởi đầu
Sau những diễn biến về chiến tranh tại Hà Nội cuối năm 1943 dẫn đến việc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tạm thời bị đóng cửa, cuộc dịch chuyển lịch sử vào Đà Lạt của Ban Kiến trúc Trường Mỹ thuật Đông Dương đã được đồng thuận và thực hiện nhanh chóng bởi những Giáo sư (GS) người Pháp cùng hầu hết sinh viên kiến trúc người Việt, Pháp, Hoa. Đầu năm 1944, hai GS Arthur Émile Louis Kruze và Gaston Amédée Roger đã hiện diện tại Đà Lạt cùng những sinh viên kiến trúc còn tiếp tục việc học.
Đà Lạt lúc đó, dù là “ốc đảo đặc quyền của người Âu, cũng cho thấy một số hàm ý về sự có mặt của người Nhật” [1], nhất là từ khi Toàn quyền Đông Dương thường xuyên làm việc tại Đà Lạt trong khoảng tháng Năm đến tháng Mười từ năm 1942 và xem đây như là thủ đô mùa hè [2]. Trước đó một năm, Đồ án chỉnh trang và phát triển Đà Lạt [3] của KTS Jacques Lagisquet được đề xướng với mục tiêu chuyển đổi vai trò của Đà Lạt từ đô thị nghỉ dưỡng thành Trung tâm hành chính của Liên bang Đông Dương, trong đó có sự hiện diện quan trọng của các cơ sở giáo dục.
Không lâu sau khi vào Đà Lạt, vào mùa xuân 1944, Ban Kiến trúc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được nâng cấp thành Trường Kiến trúc Đà Lạt và vẫn trực thuộc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương [4].
Tại Đà Lạt, khó khăn đầu tiên thầy và trò Ban Kiến trúc phải đối diện là việc không có trường riêng để dạy và học, cũng như việc phải sớm thu xếp chỗ ở cho sinh viên để ổn định bước đầu. Sau đó, GS Arthur Émile Louis Kruze đã mượn được một nhà xe cũ, vốn là cánh nhà phụ của một trường học Pháp được sửa lại để làm nơi học. Riêng gia đình GS Gaston Amédée Roger và các sinh viên phải lưu trú trong căn nhà gỗ cũ, vốn là chuồng ngựa, được sửa lại để làm nơi ở. Ngoài ra, một số sinh viên đã có gia đình phải thuê nhà riêng bên ngoài.
Một khó khăn đáng kể khác là GS Gaston Amédée Roger qua đời không lâu sau khi đến Đà Lạt [5], việc này làm suy giảm lực lượng giảng dạy vốn đã hạn chế và bộc lộ sự thiếu ổn định của cơ cấu tổ chức nhà trường trong giai đoạn hình thành.
Sau khi GS Gaston Amédée Roger mất, Trường Kiến trúc Đà Lạt chỉ còn lại GS Arthur Émile Louis Kruze vừa làm Giám đốc, vừa làm GS dạy kiến trúc cho tất cả các lớp.
Ngày 26/08/1944, tờ Tiếng vọng An Nam đưa tin về việc Bộ Giáo dục sẽ xem xét việc công nhận tương đương giữa Trường Kiến trúc trực thuộc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và các Trường Kiến trúc tại các thành phố nước Pháp để có thể cấp bằng hành nghề KTS tại Pháp. Điều này đem lại hy vọng nhất định cho thầy và trò Trường Kiến trúc Đà Lạt khi đang phải đối diện nhiều khó khăn của việc duy trì trường và thu hút sinh viên tại khu vực cao nguyên.
Năm 1944, Nha Địa dư Đông Dương [6] dần mở rộng các hoạt động tại Đà Lạt sau khi dời về đây được ba năm càng làm Đà Lạt trở thành địa điểm chiến lược quan trọng với những chương trình kiến thiết và quy hoạch thuộc địa [7] bên cạnh sự hiện diện của ngôi trường đào tạo KTS duy nhất tại Liên bang Đông Dương thời bấy giờ.
Ngày 09/03/1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, “nỗi hoảng loạn lan khắp Đà Lạt” [8]. Trường Cao đẳng Kiến trúc Đà Lạt bị đóng cửa. Thư viện cũng bị phá hủy hoàn toàn [9]. Mọi nỗ lực kêu gọi các sinh viên ở lại Đà Lạt chờ đợi những diễn biến tiếp theo của GS Arthur Émile Louis Kruze đã bất thành [10]. Các sinh viên Pháp, Việt, Hoa nhanh chóng rời Đà Lạt trong cùng mùa xuân năm 1945 để trở về quê nhà hoặc chuyển sang nghề khác [11]. Một số sinh viên có điều kiện đã rời Việt Nam để tiếp tục học kiến trúc tại Pháp. Một số khác được đặc cách bảo vệ đồ án tốt nghiệp tại Hà Nội, Việt Bắc [12], về sau, trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất họ sẽ cùng những KTS tốt nghiệp trước đó từ Trường Mỹ thuật Đông Dương trở thành những GS tham gia giảng dạy tại Lớp đào tạo KTS thuộc Trường Đại học Bách khoa Hà Nội [13], tiền thân của Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội.
Tại Bắc Kỳ, những sinh viên hồi hương đã phải đối diện với nạn đói lịch sử năm Ất Dậu, bắt đầu lên đến đỉnh điểm từ tháng 03/1945 đến tháng 05/1945. Những sinh viên còn lưu lại Đà Lạt hoặc trở về quê nhà ở Trung Kỳ và Nam Kỳ đã may mắn tránh được thảm họa lịch sử này.
Ngày 15/08/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng khối Đồng minh. Ngày 02/09/1945, với văn kiện đầu hàng của Nhật, Chiến tranh Thế giới thứ Hai chính thức chấm dứt.
Tại Đông Dương vào tháng 08/1945, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã nổ ra tại khắp các tỉnh thành Việt Nam. Ngày 25/08/1945, Vua Bảo Đại đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị tại Huế, chấm dứt chế độ phong kiến tại Việt Nam. Ngày 02/09/1945, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ tháng 09/1945, Pháp bắt đầu quay trở lại Đông Dương, bắt đầu từ Sài Gòn và Nam Kỳ trước khi mở rộng dần ra Trung Kỳ và, từ tháng 03/1946, tiến ra Bắc Kỳ để dần tái lập chế độ thuộc địa.
Dù người Pháp đã quay trở lại Đông Dương từ cuối năm 1945 đến đầu năm 1946, Trường Kiến trúc Đà Lạt vẫn ở trong tình trạng bị đóng cửa.
Cuối năm 1946, Chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất chính thức bắt đầu. Cũng gần cuối năm 1946, ngày khai giảng tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật do họa sĩ Tô Ngọc Vân làm Giám đốc tại Hà Nội có ghi nhận sự tồn tại của một Ban Kiến trúc.
Năm 1947, Trường Kiến trúc Đà Lạt được mở cửa trở lại, đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của Phủ Cao ủy Pháp tại Đông Dương [14]. Tuy vậy, số sinh viên kiến trúc quay trở lại học rất ít vì vẫn còn dè dặt trước tương lai khiến việc duy trì trường trở nên còn khó khăn hơn cả giai đoạn trước khi bị đóng cửa.
Vài tháng sau, tháng 03/1948, GS hội họa và điêu khắc Louis Robert Bate cùng một nữ sinh viên bị tử thương vì trúng bom [15], tác động đến tinh thần của những sinh viên vừa trở lại theo học. Trước khi mất, GS Louis Robert Bate từng có một số lần giữ vai trò quyền Giám đốc Trường Kiến trúc Đà Lạt trong thời gian GS Arthur Émile Louis Kruze vắng mặt. Sau đó, họa sĩ André Maire từ Pháp đến Đà Lạt để thay thế GS Louis Robert Bate trong cùng năm 1948. GS Louis Georges Anatole Pineau từ Hà Nội vào Đà Lạt để hỗ trợ GS Arthur Émile Louis Kruze.
Theo Nghị định ngày 08/03/1948, Trường Kiến trúc Đà Lạt được Liên Bộ công nhận trở thành Trường Kiến trúc Địa phương Pháp tại Đà Lạt [16], đào tạo KTS được cấp bằng của Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris [17], đồng thời chịu sự quản lý của Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris về chương trình, thi cử, cấp bằng.
Theo Hiệp ước Văn hóa ngày 30/12/1949 và 30/05/1950 giữa Việt Nam và Pháp [24], Viện ĐH Đông Dương cũ được cải tổ hành chính trở thành Viện ĐH hỗn hợp Pháp-Việt, tức Viện ĐH Hà Nội. Từ đây, Trường Cao đẳng Kiến trúc Đà Lạt không còn giữ thể lệ như một trường kiến trúc địa phương thuộc Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris mà trực thuộc Viện ĐH Hà Nội.
Từ cuối năm 1950, để có những điều kiện thuận lợi hơn về cơ sở vật chất, con người và môi trường thực tập tiền tốt nghiệp, Trường Cao đẳng Kiến trúc Đà Lạt được chuyển vào Sài Gòn, đồng thời được đổi tên thành Trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn, trực thuộc Viện Đại học Hà Nội. GS Arthur Émile Louis Kruze tiếp tục làm Giám đốc Trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn. Những sinh viên Trường Cao đẳng Kiến trúc Đà Lạt từ đây cũng phân tán: Một nửa tiếp tục học tại Sài Gòn trong khi nửa còn lại tiếp tục học tại Paris theo nguyện vọng.
Về phương diện thể chế đào tạo, sự hình thành Trường Kiến trúc Đà Lạt cho thấy một nỗ lực tái tổ chức hệ thống giáo dục kiến trúc thuộc địa trong điều kiện chiến tranh, với xu hướng tách dần khỏi mô hình đào tạo mỹ thuật truyền thống để hướng tới một thiết chế chuyên biệt hơn. Tuy nhiên, sự tồn tại ngắn ngủi nhưng nhiều biến động của nhà trường đồng thời cũng cho thấy những giới hạn mang tính cấu trúc của mô hình đào tạo được triển khai ngoài chính quốc, đặc biệt trong các điều kiện bất ổn về nhân lực, cơ sở vật chất và bối cảnh lịch sử.
Trường kiến trúc Sài Gòn: Sự tiếp nối của trường Kiến trúc Đà Lạt
Lược sử
So với giai đoạn tại Đà Lạt, quá trình tái lập hoạt động đào tạo tại Sài Gòn diễn ra trong những điều kiện vật chất thuận lợi hơn, nhà trường có thể sử dụng cơ sở hiện hữu tại góc đường Pellerin và Richaud thay vì phải tạm thời cải biến không gian như trước đó.
Năm 1951, chỉ có hai sinh viên mới ghi danh theo học kiến trúc, song hành với những áp lực về tình trạng quân dịch cho cả GS lẫn sinh viên người Việt. [25]
Ngày 07/05/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc tại Tây Bắc.
Ngày 20/07/1954, Hiệp định Genève lịch sử được ký kết, chấm dứt Chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất. Việt Nam, Lào, Cambodge được công nhận độc lập. Pháp rút quân dần khỏi miền Bắc Việt Nam. Đất nước tạm thời bị chia đôi tại vĩ tuyến 17.
Tháng 05/1955, chi nhánh của Viện ĐH Hà Nội tại Sài Gòn được đổi tên thành Viện ĐH Việt Nam. Từ đây, Trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn trực thuộc Viện ĐH Việt Nam.
Năm 1966, hơn 700 sinh viên ghi danh học kiến trúc (sau còn gần 300 sinh viên) dẫn đến sự quá tải trong việc quản lý hoạt động của trường. Cuối năm 1966 tại Sài Gòn diễn ra phong trào tự trị đại học trong giới sinh viên nói chung và sinh viên kiến trúc nói riêng về sự cần thiết phải cải biến Trường Cao đẳng Kiến trúc trở thành Phân khoa ĐH [27].
Từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, những diễn biến phức tạp của chiến tranh đã gây ảnh hưởng rất lớn đến việc dạy và học tại Trường ĐH Kiến trúc Sài Gòn. Từ mùa hè năm 1973, phái đoàn Viện trợ Kỹ thuật Pháp đã làm việc với Ban Giảng huấn Trường ĐH Kiến trúc Sài Gòn về chương trình cải tổ giáo dục, công nhận bằng KTS Trường ĐH Kiến trúc Sài Gòn tương đương với bằng KTS Pháp và có thể hành nghề tại Pháp.
Ngày 30/04/1975, chiến tranh Việt Nam kết thúc, đất nước thống nhất.
Ngày 27/10/1976, Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM được thành lập trên cơ sở kế thừa Trường ĐH Kiến trúc Sài Gòn, trực thuộc Bộ Xây dựng và bắt đầu một giai đoạn mới về đào tạo KTS tại miền Nam Việt Nam.
Ban giảng huấn
Sau khi chuyển từ Đà Lạt vào Sài Gòn, Ban Giảng huấn Trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn bao gồm hai GS kiến trúc người Pháp là Arthur Émile Louis Kruze và Louis Georges Anatole Pineau [30], cùng một GS người Việt là Trần Văn Tải, người vừa từ Paris trở về.
Sau Hiệp định Genève lịch sử, GS Arthur Émile Louis Kruze cùng toàn bộ sinh viên người Pháp còn lại của trường đã hồi hương về Pháp. Trong bối cảnh đó, GS Trần Văn Tải được bổ nhiệm làm Giám đốc người Việt đầu tiên của trường. Riêng GS Louis Georges Anatole Pineau tiếp tục lưu lại, đảm nhiệm vai trò GS thuộc chương trình viện trợ của Chính phủ Pháp tại Trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn [31]. Ông chỉ chính thức trở về Pháp vào giữa thập niên 1960 khi chương trình viện trợ giáo dục của Pháp chấm dứt và quá trình Việt hóa giáo dục ĐH tại Việt Nam đã được triển khai toàn diện.
Từ nửa sau thập niên 1950, Ban Giảng huấn tiếp tục được bổ sung bởi một thế hệ GS mới là các KTS được đào tạo tại Pháp, đã hành nghề tại Sài Gòn hoặc vừa hồi hương, gồm: Nguyễn Duy Đức, Bùi Quang Hanh, Phạm Văn Thâng, Nguyễn Quang Nhạc, Huỳnh Kim Mãng, Lê Văn Lắm. Sau đó, đội ngũ này tiếp tục được tăng cường với sự tham gia của GS Tô Công Văn (từ giữa thập niên 1960) và GS Nguyễn Trọng Kha (từ đầu thập niên 1970).
Cùng với đó, Ban Giảng huấn còn quy tụ các KTS trẻ được đào tạo từ Trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn vào giai đoạn cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, bao gồm: Trần Tiễn Chuân, Trần Phi Hùng, Vũ Tòng, Trương Đức Nguyên, Cổ Văn Hậu, Võ Đình Diệp, Nguyễn Huy, Đinh Hữu Tường, Trần Phong Lưu, Hồ Thiệu Trị và Khương Văn Mười. Đồng thời, lực lượng KTS kỳ cựu được đào tạo từ Trường Mỹ thuật Đông Dương và Trường Kiến trúc Đà Lạt như Ngô Khắc Trâm, Phạm Gia Hiến, Nguyễn Đăng Linh, Vũ Đình Hóa, Nguyễn Hữu Thiện, Đỗ Bá Vinh và Nguyễn Văn Hoa cũng tham gia giảng dạy với tư cách GS thỉnh giảng tại các ban: Kiến trúc, Thiết kế Đô thị và Cán sự Kiến trúc.
Sau khi đất nước thống nhất, các KTS thuộc Ban Giảng huấn Trường Đại học Kiến trúc Sài Gòn tiếp tục công tác đến thời điểm thành lập Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM bao gồm:
- Các KTS tốt nghiệp tại Pháp: Phạm Văn Thâng, Huỳnh Kim Mãng, Nguyễn Quang Nhạc, Nguyễn Trọng Kha;
- KTS tốt nghiệp Trường Kiến trúc Đà Lạt: Đỗ Bá Vinh;
- Các KTS tốt nghiệp Trường Kiến trúc Sài Gòn: Trần Tiễn Chuân, Trần Phong Lưu, Cổ Văn Hậu, Võ Đình Diệp, Hồ Thiệu Trị, Khương Văn Mười.
Các KTS còn lưu lại này, cùng với các KTS được điều động từ Hà Nội vào, đã hình thành đội ngũ Ban Giảng huấn Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM từ năm 1976. Từ cuối thập niên 1970, một số KTS trong số này ra nước ngoài định cư. Những người còn lại tiếp tục tham gia đào tạo các thế hệ KTS Việt Nam trong suốt thập niên 1980, 1990 đến đầu thế kỷ 21.
Cùng với thế hệ KTS kỳ cựu kể trên, các KTS được đào tạo từ Trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn đã nhanh chóng tham gia vào các cơ quan công vụ như Bộ Kiến thiết (sau trở thành Nha Tổng Giám đốc Kiến thiết và Thiết kế Đô thị), Kiến Ốc Cục (sau trở thành Tổng Cuộc Phát triển Gia cư), Ban Doanh lý Kiến thiết, Viện Khảo cổ, các cơ quan Bộ ngành thuộc Chính phủ hoặc mở riêng các văn phòng KTS tư vụ.
Bên cạnh đó, từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tại Nha Tổng Giám đốc Kiến thiết và Thiết kế Đô thị, thế hệ KTS kỳ cựu tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương phần nhiều đã hồi hưu hoặc chuyển sang hành nghề tư vụ. Hầu hết những chương trình kiến thiết đô thị và kiến trúc quan trọng nhất miền Nam Việt Nam đã được thực hiện bởi thế hệ KTS và đô thị gia tốt nghiệp Trường Kiến trúc Sài Gòn.
Từ thập niên 1960 trở đi, hơn 50 đơn vị kiến trúc quốc tế từ Hoa Kỳ, Nhật, Hàn Quốc, Úc, Canada, Pháp… đã tham gia vào thị trường kiến trúc miền Nam Việt Nam [32]. Các đơn vị này thường phải liên danh với các KTS bản địa, bao gồm cả những KTS tốt nghiệp Trường Kiến trúc Sài Gòn trong các đồ án có quy mô lớn, một phần nhờ sự bảo vệ quyền lợi của tổ chức KTS Đoàn đối với các KTS bản địa. [33]
Những số liệu này cho thấy sự chuyển dịch từ một mô hình đào tạo quy mô nhỏ mang tính tinh hoa sang một hệ thống đào tạo mở rộng, đáp ứng trực tiếp nhu cầu kiến thiết đô thị trong bối cảnh chiến tranh và hậu chiến.
Tạm kết
Trên bình diện rộng hơn, tiến trình hình thành và phát triển của Trường Kiến trúc Đà Lạt và Trường Kiến trúc Sài Gòn phản ánh không chỉ sự dịch chuyển không gian của các cơ sở đào tạo, mà còn là sự tái cấu trúc mang tính thể chế của giáo dục kiến trúc tại miền Nam Việt Nam giữa thế kỷ 20. Từ một mô hình đào tạo gắn với hệ thống Beaux-Arts thuộc địa, các thiết chế đào tạo kiến trúc dần chuyển sang những hình thái có mức độ tự chủ cao hơn, thích ứng với điều kiện địa phương và nhu cầu kiến thiết trong bối cảnh chiến tranh và hậu chiến.
Trong tiến trình đó, Trường Kiến trúc Đà Lạt có thể được hiểu như một thử nghiệm mang tính chuyển tiếp của mô hình đào tạo kiến trúc ngoài chính quốc, song chưa đạt đến trạng thái ổn định do những giới hạn về nhân lực, cơ sở vật chất và điều kiện vận hành. Ngược lại, sự định hình của Trường Kiến trúc Sài Gòn từ đầu thập niên 1950 đánh dấu bước chuyển sang một mô hình đào tạo ổn định hơn, gắn kết chặt chẽ với thực tiễn hành nghề và quá trình đô thị hóa tại miền Nam Việt Nam.
Sự tiếp nối này cho thấy vai trò trung gian nhưng có ý nghĩa bản lề của giai đoạn Đà Lạt trong việc duy trì và chuyển hóa truyền thống đào tạo kiến trúc từ thời kỳ thuộc địa sang bối cảnh hậu thuộc địa. Đồng thời, nó cũng góp phần lý giải sự hình thành của một đội ngũ KTS và đô thị gia có khả năng đáp ứng trực tiếp các yêu cầu kiến thiết đô thị và kiến trúc tại miền Nam Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 20.
Ths.Kts. Nguyễn Ngọc Sơn*
*Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2026)
Đón đọc kỳ tới: “NHỮNG KTS CỦA BAN GIẢNG HUẤN TRƯỜNG KIẾN TRÚC SÀI GÒN: LƯỢC SỬ VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CHO NỀN KIẾN TRÚC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM”
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Eric T. Jennings (2015): Đỉnh cao Đế quốc – Đà Lạt và sự hưng vong của Đông Dương thuộc Pháp, NXB Hồng Đức, Hà Nội;
[2] Jean Decoux (1949): À la barre de l’Indochine, NXB Plons, Paris;
[3] Dalat, plan d’aménagement et d’extension, 1942 – Jacques Lagisquet
[4] Nghị định ngày 22/02/1944 của Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux;
[5] Theo hồi ký KTS Nguyễn Bá Lăng;
[6] Service Géographique de l’Indochine (SGI);
[7] Nguyễn Hữu Tranh (1993): Đà Lạt năm xưa, NXB TP.HCM;
[8] Eric T. Jennings (2015): Đỉnh cao Đế quốc – Đà Lạt và sự hưng vong của Đông Dương thuộc Pháp – NXB Hồng Đức, Hà Nội;
[9] Gouvernement Général de l’Indochine, Direction de l’Instruction Publique, Les œuvres culturelles en Indochine S6X/43, Archives Nationales d’Outre-Mer (ANOM), Aix-en-Provence;
[10] Theo hồi ký KTS Nguyễn Bá Lăng;
[11] Theo hồi ký KTS Trần Văn Đường;
[12] Hội KTS Việt Nam (2008), Thế hệ KTS Việt Nam đầu tiên, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội;
[13] Văn bản số 1927.CN ngày 08/06/1961 của Chính phủ;
[14] Haut-commissaire de France en Indochine;
[15] Le Populaire d’Indochine, 03/1948
[16] École Régionale d’Architecture à Dalat;
[17] École Nationale Supérieure des Beaux-Arts de Paris;
[18] Đến năm 1948, danh xưng Viện ĐH Đông Dương tuy vẫn còn được duy trì trong hệ thống giáo dục do Pháp kiểm soát nhưng trên thực tế, thiết chế này đã bị biến đổi sâu sắc và không còn giữ được tính chất một Viện ĐH của toàn Liên bang Đông Dương như trước năm 1945. Một số báo chí Pháp ngữ thời bấy giờ đã dần sử dụng danh xưng Université de Hanoï (Viện Đại học Hà Nội hay Viện ĐH tại Hà Nội).
[19] École Supérieure d’Architecture de Dalat;
[20] Nghị định ngày 11/09/1948 về việc tổ chức tổng thể Trường Kiến trúc Đà Lạt;
[21] Gouvernement Général de l’Indochine, Direction de l’Instruction Publique, Les œuvres culturelles en Indochine S6X/43, Archives Nationales d’Outre-Mer (ANOM), Aix-en-Provence;
[22] Theo hồi ký KTS Đào Trọng Cương;
[23] Le Populaire d’Indochine, 09/1948 & Gouvernement Général de l’Indochine, Direction de l’Instruction Publique, Les œuvres culturelles en Indochine S6X/43, Archives Nationales d’Outre-Mer (ANOM), Aix-en-Provence;
[24] Convention culturelle franco-vietnamienne du 30 décembre 1949 & Avenant à la convention culturelle franco-vietnamienne du 30 mai 1950;
[25] Theo hồi ký KTS Tôn Thất Cảnh;
[26] Nguyen Dinh Hoa (1965), Higher Education in the Republic of Vietnam, Directorate of Cultural Affairs, Department of National Education, Saigon;
[27] Thomas Charles Reich (2003), Higher Education in Vietnam: United States Agency for International Development Contract in Education, Wisconsin State University –Stevens Point, Wisconsin, USA
[28] Sắc lệnh 159-SL/GD ngày 30/10/1967;
[29] Phúc trình của GS Nguyễn Quang Nhạc với giới chức giáo dục Hoa Kỳ tại tiểu bang Kentucky, 1971;
[30] Ngoài hai GS kiến trúc, GS hội họa André Maire cũng từ Đà Lạt chuyển vào Sài Gòn;
[31] Pineau, Louis-Georges (1961), Note pour Monsieur le Directeur de l’École nationale des Beaux-Arts sur le fonctionnement de l’École supérieure d’Architecture de l’Université de Saigon, IFA/Archives d’Architecture du XXe siècle (Fonds Louis-Georges Pineau, 75 IFA PINLO), Paris;
[32] U.S. Congress (1967), Hearings, Volume 8, U.S. Government Printing Office, Washington, D.C;
[33] Hội đồng đoàn KTS quốc gia (1970): Nghĩa vụ luận, phụ đính theo Sắc lệnh 026-SL/CC ngày 27/02/1970.




























