“Tính trung tâm về đào tạo và nghiên cứu khoa học của Đại học truyền thống trong xu hướng toàn cầu hóa”

Theo định nghĩa chung, trên thế giới hiện nay có hai loại trường phổ biến nhất là trường Đại học (ĐH) truyền thống và trường ĐH thực hành. Các trường ĐH truyền thống là những học viện lâu năm, thiên về đào tạo dài hạn và nghiên cứu chuyên sâu, thường được xếp hạng cao trên các bảng xếp hạng. Trường ĐH thực hành chú trọng tính thực tế, chương trình chủ yếu dựa trên tính thực hành nhiều hơn là nghiên cứu. Đây thường là những trường còn trẻ, xếp hạng trường có thể không cao nhưng xếp hạng theo ngành có thể khá tốt. Tuy nhiên, ranh giới này ngày càng trở nên tương đối. Các trường có thể vừa chú trọng duy trì mảng lý thuyết, vừa chú trọng khai thác mảng thực hành. Sinh viên (SV) tốt nghiệp từ trường ĐH truyền thống cũng vẫn phát huy tốt tại các tổ chức kinh tế: hoặc SV tốt nghiệp trường chú trọng tính thực hành vẫn có thể đi dạy hoặc nghiên cứu sâu thêm.

Lãnh đạo trường ĐH Kiến trúc TP HCM cùng lãnh đạo Bộ Xây dựng và các Hội nghề nghiệp

Hiện nay, đã xuất hiện nhiều hình thức đào tạo và nghiên cứu khác như: Đào tạo nghề ngắn hạn, đào tạo và nghiên cứu tại ĐH doanh nghiệp, đào tạo “ĐH ảo” từ xa… Điều này khiến cho các trường ĐH truyền thống đứng trước áp lực cạnh tranh về “tính trung tâm” trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, không chỉ riêng trường ĐH Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, mà hầu hết các trường ĐH truyền thống trong nước và trên thế giới đều đứng trước những thách thức nhằm giữ vững “tính trung tâm” đó.

Trường ĐH Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh đã trải qua chặng đường 40 năm trong sự nghiệp đào tạo Kiến trúc và các ngành Thiết kế, Xây dựng… Trong thời gian đó, trường đã có rất nhiều thay đổi, cải tiến trong công tác đào tạo và nghiên cứu do những yêu cầu thực tế của xã hội. Tuy nhiên, thời gian tới, rất cần có những định hướng với tầm nhìn xa hơn trước những chuyển biến lớn trong đào tạo nguồn nhân lực trên thế giới và tại Việt Nam.

Sự mở rộng về hình thức đào tạo tại trường ĐH Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh

Thông thường, ngoài sứ mệnh và mục tiêu của trường, tên gọi cũng thể hiện đặc trưng đường lối đào tạo của một trường ĐH. Theo cách đặt tên quốc tế, những trường có tên theo dạng “University of ABC” (ABC có thể là tên Thành phố, tên lĩnh vực ngành, ví dụ: University of Birmingham, University of Architecture) là trường truyền thống. Còn những trường mang tên “ABC University” (ví dụ: Aston University, Newcastle University) là những trường chú trọng tính thực tế. Trường ĐH Kiến trúc TP Hồ Chí Minh với tên gọi, sứ mệnh cũng như mục tiêu đào tạo luôn thể hiện tính chất của một trường ĐH truyền thống. Hình thức đào tạo của trường thường xuyên được đổi mới như sau:
– 1976 – 1990: Đào tạo với số lượng hạn chế, chỉ với hai chuyên ngành Kiến trúc và Xây dựng;
– 1990 – 2010: Mở rộng lĩnh vực đào tạo (Quy hoạch – 1994, Mỹ thuật Công nghiệp – 1996, Kỹ thuật đô thị – 2002, Thiết kế Nội thất
– 2009), tăng số lượng SV; nhiều giảng viên đi học tập nâng cao trình độ ở nước ngoài; tăng cường hợp tác quốc tế;
– 2010 – Nay: Tiếp tục mở rộng lĩnh vực đào tạo (Kiến trúc Cảnh quan – 2013), mở thêm cơ sở đào tạo (Cần Thơ, Đà Lạt, Thủ Đức); hướng đến đào tạo chất lượng cao, tăng cường cơ sở vật chất và chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, chuẩn hóa chương trình đào tạo; có sự gắn kết với các doanh nghiệp, đơn vị ngoài trường để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học như: Gửi SV đi thực tập ở các doanh nghiệp vào dịp hè; đồ án SV gắn với dự án thực tế và có sự hỗ trợ của doanh nghiệp cử giảng viên đi học tập nâng cao trình độ ở nước ngoài; Có nhiều thành tựu trong hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu.

Sự chuyển dịch của các hình thức đào tạo trên thế giới hiện nay

Ngoài đào tạo tại trường ĐH theo kiểu truyền thống, có sự xuất hiện của nhiều hình thức đào tạo khác như:

  • Các dạng đào tạo ngắn hạn: Do các thay đổi của xã hội, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) và sự phát triển của hệ thống thực ảo (Cyber Physical System-CPS) khiến cho máy móc dần thay thế người lao động. Thị trường lao động bị tác động mạnh. Nhiều ngành nghề cần rất ít người nên các ĐH đào tạo các ngành nghề đó phải dần thu hẹp hoặc chuyển đổi hình thức, lĩnh vực đào tạo. Xuất hiện các dạng đào tạo ngắn hạn, bỏ qua phần đại cương, tập trung dạy kỹ năng vận hành máy móc để tiết kiệm thời gian, chi phí.
  • Các trường ĐH doanh nghiệp: Các doanh nghiệp tự mở trường, đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của riêng doanh nghiệp, như: Microsoft Virtual Academy… Các nghiên cứu cũng như hoạt động đào tạo đều nhằm mục đích phục vụ cho lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp. Do có nguồn vốn lớn, chủ động trong mọi hoạt động nên các ĐH này hoạt động hiệu quả và thu hút được nhiều các chuyên gia, giáo sư có trình độ Tuy nhiên, các ĐH doanh nghiệp bỏ qua rất nhiều phần giáo dục đại cương để tập trung cho đào tạo kỹ năng của lĩnh vực mà doanh nghiệp cần.
  • Các ĐH ảo: Không có cơ sở đào tạo cố định mà hoạt động dưới dạng đào tạo online hoặc liên kết với các cơ sở khác. Một mặt các đại học này vừa giải phóng, giảm áp lực, đồng thời cũng đe doạ sự tồn tại của đại học truyền thống theo dạng nghiên cứu – tập trung. Các ĐH ảo không tạo ra tinh hoa, không làm nghiên cứu, không xây dựng “tháp chuông trác việt” mà kinh doanh ở lỗ hổng thị trường giáo dục, trong phân khúc riêng, đáp ứng cho nhu cầu địa phương hay khu vực. Hình thức đào tạo này tạo ra những người có nghề nghiệp, có một số vốn tri thức, và kỹ năng nhất định cần thiết cho cuộc sống. Trong chừng mực nào đó, các ĐH này có đóng góp nhất định ở phương diện mà các ĐH truyền thống không lấp được. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo tại các ĐH này đang là vấn đề chưa xác định được.

Thách thức và tính ưu việt của ĐH truyền thống tại các trường đào tạo chuyên ngành thiết kế và xây dựng

  1. Thách thức của ĐH truyền thống

Các trường ĐH truyền thống đang đứng trước nguy cơ mất dần đi “tính trung tâm” trong đào tạo và nghiên cứu khoa học vì các lý do sau:

  • Cuộc cách mạng công nghệ làm cho số người lao động trong mọi ngành nghề đều giảm sút. Cơn bão thất nghiệp sẽ khiến cho các nước trên thế giới đều ảnh hưởng nặng nề và phải thay đổi cơ cấu lao động. Các trường ĐH có nguy cơ “thua trắng” nếu không chịu thay đổi cách làm, vì có chức năng truyền thống là cung cấp nguồn nhân lực.
  • Cạnh tranh giữa các trường khi số lượng trường ngày một nhiều do các chính sách cởi mở hơn. Các trường đều cố gắng tăng số lượng học viên. Tuy nhiên, do đào tạo rập khuôn nhau nên không thu hút được học viên. Người học lĩnh vực thiết kế trước đây đòi hỏi có năng khiếu thẩm mỹ cao, hiện nay đào tạo nhiều nên “vàng thau lẫn lộn”. Do sự dễ dãi trong đào tạo và nhận thức của toàn xã hội nên trình độ thẩm mỹ chung của xã hội cũng chưa được nâng cao, khiến người thiết kế có tài, có tâm đôi khi vẫn rất khó tìm việc. Không chỉ lãnh đạo mà ngay cả giảng viên và SV các trường cũng có rất nhiều băn khoăn, trong việc lựa chọn tiếp tục theo đuổi hình thức đào tạo và hành nghề theo kiểu truyền thống, hướng đến chất lượng cao, hay theo thị hiếu thị trường.
  • Các ĐH doanh nghiệp cũng là một thách thức cạnh tranh trong tương lai, vì việc hình thành các ĐH này cũng là một xu hướng tất yếu toàn cầu. Ngoài ra, thiết kế và xây dựng là lĩnh vực gắn với thực tiễn và thực hành cao. Các ĐH doanh nghiệp sẽ có lợi thế về việc tổ chức các hoạt động thực hành, cọ xát thực tế cho SV ngay tại môi trường làm việc của doanh nghiệp.
  1. Tính ưu việt của đại học truyền thống

  • Giáo dục ĐH theo mô hình truyền thống luôn bao gồm giáo dục đại cương hay còn gọi là giáo dục toàn diện (Liberal arts). Các kiến thức đại cương sẽ không bị lạc hậu theo thời gian, không chỉ cho hoạt động nghề mà còn trang bị cho SV trở thành một con người toàn diện, được huấn luyện để có khả năng học hỏi suốt đời, chứ không phải là những “cái máy” chỉ biết làm những việc rập khuôn;giúp SV hiểu ý nghĩa và mục đích của văn hóa, xử lý không chỉ những thách thức và vấn đề của nghề nghiệp mà cả những vấn đề về luân lý trong cuộc sống như lý tưởng, hôn nhân, đức tin…;giúp họ biết trân trọng sự đa dạng về văn hóa và nhận thức… Đó là những kiến thức mà con người dù hoạt động ở lĩnh vực ngành nghề nào hay sống trong bối cảnh xã hội nào đều rất cần đến.
  • Giáo dục ĐH truyền thống là cơ sở để hướng đến những bậc giáo dục cao hơn như thạc sỹ, tiến sỹ… Vì ngoài việc được trang bị những kiến thức đại cương nền tảng, khả năng học hỏi suốt đời, người học còn dễ dàng chuyển tiếp lên những bậc học cao hơn nhờ sự tương thích, chuẩn hóa chung của chương trình giảng dạy giữa các trường đại học truyền thống.

Làm thế nào để giữ vững “tính trung tâm” của ĐH truyền thống đào tạo chuyên ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa?

  • Mặc dù nên có nhiều dạng chương trình ngắn và dài hạn cho nhiều đối tượng người học khác nhau, nhưng vẫn rất cần phải duy trì hình thức giáo dục truyền thống với đầy đủ các môn đại cương. Ở các nước phương Tây, có những trường chỉ dạy phần đại cương, sau khi tốt nghiệp tại các trường này, người học có thể chuyển sang học trường theo phân ngành. Tuy nhiên, họ cũng vẫn có các trường đào tạo từ đại cương đến phân ngành. Việt Nam hiện nay chưa có các trường đại cương như vậy nên chương trình học tại các trường đại học thường bao gồm cả đại cương và phân ngành. Vì vậy, thời gian học thường phải kéo dài 4 – 5 năm.
  • Có các ngành nghề, lĩnh vực đào tạo khác nhau, hướng đến các đối tượng học khác nhau. Trong bối cảnh nhu cầu cho mỗi lĩnh vực dần thu hẹp về số lượng người học, trong khi nhu cầu về các lĩnh vực mang tính chuyên môn hóa cao ngày càng gia tăng, dẫn đến số người học trong từng lĩnh vực ngành nghề ngày càng giảm. Cần tránh việc đào tạo dàn trải, rập khuôn.
  • Kết hợp với các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp Việt “thắng trên sân nhà” để gắn đào tạo với thực tiễn. Ví dụ như: Gửi SV đến thực tập tại doanh nghiệp; mời doanh nghiệp thuyết trình về các dự án cho SV tham khảo; hợp tác đào tạo với doanh nghiệp…

Đại học Cincinati (Mỹ) khởi xướng chương trình SV cứ học 1 – 2 học kỳ xong lại làm việc 1 học kỳ ở 1 công ty theo chuyên ngành đã chọn. Thời gian học kéo dài thành 5 năm thay vì 4 năm. Tuy nhiên, đến khi tốt nghiệp, SV có 12 tháng kinh nghiệm việc làm.

  • Hình thành các trung tâm ứng dụng thực nghiệm của trường (Technopolis) dành cho SV và giáo viên. Khuyến khích và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, chính sách ưu tiên cho các nhóm SV có khát vọng “khởi nghiệp”. Giáo viên sẽ cùng SV làm việc trong các trung tâm nói trên. Điều này sẽ thực sự thúc đẩy tinh thần nghiên cứu và học tập, gắn kết giữa lý thuyết và thực hành.

Thung lũng Silicon là mô hình Technopolis đầu tiên thành công trên thế giới. Những năm 50 của thế kỷ trước, cùng với sự ra đời của Thung lũng Silicon (Mỹ), mô hình khu trung tâm công nghệ (technopolis), nơi các trường đại học nghiên cứu và doanh nghiệp sáng tạo/doanh nghiệp phát triển dựa vào công nghệ, được quy hoạch để đặt cạnh nhau. Chức năng chuyển giao tri thức, hay ứng dụng kết quả nghiên cứu vào đời sống thực tiễn đã chính thức được đặt cho trường đại học. Một số trung tâm công nghệ hoạt động với mô hình tương tự là: Khu công viên khoa học Hsinchu (Đài Loan-Trung Quốc), Khu công viên khoa học Cambridge (Anh Quốc), Trung tâm sáng tạo Solkovo (Nga)…

  • Gìn giữ bản sắc văn hóa, để “hòa nhập chứ không hòa tan”: Văn hoá đã trở thành yếu tố ngày càng quan trọng trong thế giới toàn cầu hoá. Samuel Huntington cho rằng thế giới đang bước vào giai đoạn của sự “xung đột văn hoá,” trong đó, con người được đặc trưng không phải bởi ý thức hệ, mà bởi văn hóa với sức mạnh (hay nhược điểm của nó). Những sản phẩm của các chuyên ngành Thiết kế, Xây dựng thể hiện rõ nét nhất nhận thức và giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc. Vì vậy, đây là khía cạnh cần đặc biệt chú trọng trong đào tạo các chuyên ngành này.

Tại Singapore, trước đây Lý Quang Diệu đã “tây hoá” môi trường sống và kinh doanh của Singapore nhằm thu hút phương Tây đến làm ăn nhưng vẫn chủ trương “gia đình là hạt nhân” để tạo nền tảng xã hội (khác với “chủ nghĩa cá nhân” của Mỹ). Ngày nay, dưới thời thủ tướng Lý Hiển Long, Singapore đặt mục tiêu nâng cấp về mặt văn hoá, chuẩn bị cho chất lượng lãnh đạo với tri thức về hai nền văn hoá Đông-Tây. Họ sẽ là một típ người mới của Đây là một thử nghiệm hết sức thú vị. Từ định hướng đó, ngày 11/4/2011, Thủ tướng Lý Hiển Long, cùng với chủ tịch Đại học Yale, Richard Levin, chính thức làm lễ phát động xây dựng Yale-NUS College Singapore cho chương trình cử nhân 4 năm, nhằm góp phần đào tạo một giai tầng lãnh đạo mới của Singapore, với một chương trình giáo dục nhân văn kết hợp văn hoá Đông – Tây. Tại Singapore, giáo dục đại học là một phần của chương trình hành động nhằm nâng cấp về tri thức văn hóa.

1970-1990
Hiện nay

Như vậy, có thể thấy rằng để đứng vững trước những cơ hội và thách thức của xu hướng toàn cầu hóa, các trường ĐH nói chung và các trường ĐH truyền thống nói riêng đều cần xác định rõ sứ mệnh và mục tiêu của mình, để đáp ứng tốt nhất vai trò đối với xã hội. Hơn bao giờ hết, các trường ĐH truyền thống cần giữ vững được “tính trung tâm” của mình trong đào tạo và nghiên cứu. Bởi vì đây chính là cái nôi của những sản phẩm mang tính “tinh hoa” nhất của nền giáo dục quốc gia. Bên cạnh đó, các ĐH truyền thống cũng cần có sự đa dạng hóa, chuyên môn hóa về ngành nghề đào tạo và hình thức đào tạo; hiện đại hóa cơ sở vật chất và phương pháp đào tạo để đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng cao của xã hội trong xu hướng toàn cầu hóa.

Tài liệu tham khảo: 
1.Nguyễn Văn Tuấn, “Chất lượng giáo dục đại học nhìn từ góc độ hội nhập”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn và Nxb Tổng hợp TPHCM, 2011
2.Karl Jaspers, “ Ý niệm đại học”, Nxb Hồng Đức & ĐH Hoa Sen, 2013
3.Ben Wildavsky, “ Cuộc cạnh tranh chất xám vĩ đại – các đại học toàn cầu đang tái định hình thế giới như thế nào”, Nxb Tri Thức, 2015
4.Phạm Hiệp, “Đưa tri thức ra khỏi tháp ngà nghiên cứu”, Nhân Dân Cuối Tuần, 27/12/2015
5.Đàm Quang Minh – Phạm Hiệp, “ Cách mạng công nghiệp 4.0 và nguy cơ “thua trắng” của đại học truyền thống”, Tuổi Trẻ Cuối Tuần, số 34-2016
6.Dennis F.Berg, “ Đừng để thuật ngữ làm cho rối trí”, Tuổi Trẻ Cuối Tuần, số 34 – 2016
7.Phạm Thị Ly, “Giáo dục tổng quát – Liệu có xa xỉ”, Tuổi Trẻ Cuối Tuần, số 34 – 2016

TS. KTS Lê Văn Thương, TS.KTS Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trường ĐH Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh
( Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2016 )