Cuộc sống sẽ mãi đứng im nếu bạn không chịu bước đi

Bên lề Đại hội, câu chuyện hành nghề của KTS trong bối cảnh hội nhập đã được đề cập đến với nhiều góc cạnh, nhiều băn khoăn và trăn trở. TCKT đã kết nối với góc nhìn về nghề KTS của hai KTS hiện đang nghiên cứu và làm việc ở nước ngoài. Đó thực sự là những chia sẻ thú vị về kinh nghiệm của những người trẻ năng động và tâm huyết với nghề.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Phóng viên (P/v): Xin anh/chị chia sẻ quan điểm về vai trò, vị trí của kiến trúc sư (KTS) trong đời sống xã hội hiện nay?

KTS Vũ Thu Hương: Theo tôi, vị trí và vai trò của KTS trong đời sống xã hội hiện nay luôn có xu hướng yếu thế đi. Nếu như trong lịch sử, ở thời điểm xuất phát, khi không có một nghề cụ thể với tên gọi KTS thì người Thợ cả (Master) trong nghệ thuật xây cất đảm nhiệm vị trí rất phức hợp với nhiều hiểu biết ở nhiều lĩnh vực, có thể nói ngang với tầm các nhà tạo dựng lịch sử và nền móng của dân tộc. Ví dụ như Leon Battista Alberti và Andrea Palladio hai Master của nước Ý, Karl Friedrich Schinkel- Master của TP Berlin, cả những ví dụ rất nhạy cảm như người chỉ huy xây Vạn Lý Trường Thành (được giả sử là Tần Thủy Hoàng), hoặc trong thế chiến có Albert Speer- Master về kiến trúc kề cận của Adolf Hitler… Tiếp theo đó, trong cuộc cách mạng công nghiệp hóa hiện đại hóa, KTS (trong thời kỳ này tiêu biểu như KTS Le Corbusier, KTS Mies van der Rohe) có vai trò quan trọng định hướng phần nào nền kinh tế thế giới với những phát minh về thẩm mỹ mới trong điều kiện của nền công nghiệp khoa học vật liệu mới.

Có thể nói ở thời điểm đó, các nhà sản xuất vật liệu vẫn còn phải phụ thuộc vào xu hướng kiến trúc hiện thời nhất là những phát minh về modun và lắp ghép. Cho đến ngày nay, khi nền khoa học của công nghệ vật liệu phát triển ngày càng cao, thoạt đầu KTS có vẻ như được tự do hơn vì các ứng dụng công nghệ vật liệu, nhưng trên thực tế, sự tự do này chỉ nằm trong khuôn khổ mang tính chất điểm đơn lẻ, không trên diện rộng. Các công trình có công nghệ cao về vật liệu mà vẫn mang dấu ấn thẩm mỹ của nhân loại chỉ là một vài ví dụ tiêu biểu của quốc gia. Còn lại, nền công nghệ vật liệu đã ảnh hưởng ngược vào các xu hướng thẩm mỹ, làm cho kiến trúc trở nên phụ thuộc vào khoa học vật liệu do sự phụ thuộc về tài chính trong lợi nhuận của sản xuất. KTS dần chỉ còn vai trò người làm dịch vụ mà hầu như mất hoàn toàn vai trò trong các cuộc cách mạng về văn hóa cũng như thẩm mỹ. Mới đây, KTS Đoàn ở Đức đã dương cao biểu ngữ: KTS không phải là những người làm dịch vụ, nhằm củng cố lại cuộc khủng hoảng vai trò của KTS trong đời sống xã hội hiện nay. Riêng trong bối cảnh Việt Nam, tôi lại càng thấy vai trò của KTS quá yếu thế so với những cán cân quyết định về tài chính.

KTS Tô Kiên: KTS và quy hoạch sư (KTS quy hoạch) được đào tạo và hành nghề ở nhiều quy mô dự án rất khác nhau, từ quy mô nhỏ nhất là công trình (nội, ngoại thất) tới thiết kế đô thị, rồi quy hoạch đô thị và thậm chí cả quy hoạch vùng. Loại hình dự án càng lớn thì số người và thành phần người sử dụng càng nhiều, tầm ảnh hưởng càng rộng và càng có nhiều vấn đề cũng như các bên liên quan (stakeholder).

Xã hội ngày càng phát triển theo hướng phức hợp và liên thông nhiều thành tố đô thị, qua đó nhiều nhu cầu sống mới nảy sinh, thì các KTS, QHS (KTS quy hoạch) cũng cần có tầm nhìn và kiến thức tổng hợp hơn, và cần liên kết đa thành phần và đa ngành hơn. Trong việc liên kết này, KTS và QHS (KTS quy hoạch) có thể có cơ hội chủ động nắm vai trò dẫn dắt và điều phối các bên liên quan, truyền cảm hứng và động lực sáng tạo để các bên liên quan chung tay tạo ra các cải biến xã hội tích cực nhằm cải thiện môi trường sống cho con người.

PV: Thực là một quan điểm thú vị, vậy quan điểm tư vấn thiết kế của anh, chị dựa trên nền tảng cơ sở nào?

KTS Vũ Thu Hương: Tôi là người hoài cổ. Nói đúng hơn là người “non nớt”, thế nên mỗi lần mất định hướng tôi lại phải luôn bám trở lại cội rễ của nghệ thuật xây cất. Chìa khóa của tôi chỉ có đúng ba từ của Master Vitruv: Công năng, Bền vững, Đẹp (Utilitas, Firmitas Venustas). “Công năng – Utilitas” có nghĩa là trả lời được câu hỏi: Công trình đó có thực sự xuất hiện trong nhu cầu của con người hay không? Ở đây tôi có thể tóm lại có một số công trình xuất hiện không trong nhu cầu thực sự hoặc trong nhu cầu, “diễn xướng” showbiz thì nó cũng sẽ sớm chấm dứt đời sống như một công trình kiến trúc hoặc thậm chí chưa từng có đời sống đó. “Bền vững – Firmitas”: Nó đã thực sự chắc chắn, mạnh mẽ? – Bền vững về tính chất vật lý với các biến đổi vật lý qua thời gian, các chi tiết liên kết có khỏe khoắn chịu tải hay không? Bền vững về công năng với tính linh hoạt để thay đổi mặt bằng tổ chức phù hợp với thay đổi về văn hóa xã hội chính trị hay không? Cuối cùng, “Đẹp – Venustas” là một khái niệm phức hợp được bàn rất lâu nhưng về cơ bản Đẹp bao gồm tỉ lệ (proportion), tính đối xứng (symmetry), hài hòa (harmony). Một điều thú vị ngắn gọn mà tôi học được, đó là: Nếu một công trình nếu thiếu một trong ba yếu tố trên: Công năng, Bền vững, Đẹp thì đều không là một công trình kiến trúc. Tôi xin phép được diễn giải cho rõ thêm: Nếu nó đẹp, bền vững mà không xuất phát từ nhu cầu thực sự của con người thì cũng không là một công trình kiến trúc mà có lẽ chỉ như một tượng đài (monumental), một điêu khắc hoặc phải cải tạo nó thành một công năng khác phát xuất từ nhu cầu con người để biến nó trở nên một công trình kiến trúc. Nếu nó xuất phát từ nhu cầu con người thực sự mà không bền, không mạnh, lại không đẹp thì cũng không đạt tiêu chuẩn là một công trình kiến trúc. Trường hợp này thường nằm trong các công trình của người dân tự xây mà không theo đúc kết (có tính chất truyền thống) nào cả. Hoặc nếu xuất phát từ nhu cầu thực sự, đẹp, nhưng không bền vững thì cũng không phải là một công trình kiến trúc mà nằm nhiều vào trường hợp một giàn dựng nghệ thuật chẳng hạn (art installation).

Vậy nên, tôi luôn tự hỏi: Thiết kế đó có phải là một công trình kiến trúc hay chưa, trước khi trả lời câu hỏi đó có phải là một công trình kiến trúc đẹp hay chưa?

KTS Tô Kiên: Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp cho tới nay, tôi tập trung chủ yếu vào nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo trong lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc. Đây là mảng sự nghiệp chính, chiếm 6/10 phần thời gian, công sức và tâm huyết. Còn lại 4/10, tôi và các đồng nghiệp thực hành những nghiên cứu của mình thông qua các dự án quy hoạch – thiết kế thực tế. Hai mảng nói trên bổ trợ lẫn nhau. Nghiên cứu – đào tạo cho tôi những kiến thức chuyên ngành bao quát và cập nhật nhất. Còn dự án thực tế, trong đó khá nhiều là các dự án thí điểm, giúp chúng tôi “test” những điều đã nghiên cứu được trong bối cảnh thực tế, từ đó rút ra các bài học, kinh nghiệm quý báu để đóng góp trở lại cho nghiên cứu và đào tạo. Phạm vi nghiên cứu có thể ở phạm vi toàn cầu, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu chuyên sâu và phạm vi thực hành thể nghiệm thì tôi tập trung vào khu vực Á Đông, đặc biệt là ba nước mà tôi có dịp sống và làm việc nhiều năm là Việt Nam, Nhật Bản và Singapore. Tôi theo đuổi một lý tưởng nghề nghiệp là các QHS và KTS có thể đóng vai trò như một người nhạc trưởng trong việc kết nối giữa các bên liên quan (stakeholder) – Những “nhạc công” của một dàn giao hưởng.

Tôi theo đuổi triết lý thiết kế có sự tham dự đa phương (participatory design) trong đó có cộng đồng dân cư. Những thập niên gần đây, nhiều cộng đồng trên thế giới trong đó có các nước Á Đông góp tiếng nói và tham gia ngày một chủ động, trực tiếp, tích cực vào các kế hoạch phát triển địa phương. Cách làm này đem lại nhiều hiệu quả tích cực, sâu rộng và bền vững, vì cộng đồng chính là đối tượng chịu tác động trực tiếp và là người hiểu rõ nhất các vấn đề cũng như nhu cầu của chính bản thân mình để từ đó đóng góp trí tuệ và công sức nhằm cải thiện môi trường sống cho chính bản thân họ.

Trong lĩnh vực thiết kế cộng đồng, xu hướng thiết kế đang chuyển dịch dần từ “thiết kế cho cộng đồng” (cộng đồng hoàn toàn thụ động), sang “thiết kế cùng cộng đồng” (cộng đồng tham gia vào nhiều giai đoạn quy hoạch-thiết kế) và hướng tới mức chủ động cao nhất là “thiết kế bởi cộng đồng” (cộng đồng chủ động khởi xướng và thực hiện các sáng kiến của chính họ). Hai cách làm sau là xu hướng cấp tiến, phù hợp với con đường phát triển bền vững theo triết lý “đem đến cần câu, không cho con cá”.

Cách tiếp cận tham dự là cách làm kết hợp giữa top-down, bottom-up và thêm nhiều bên liên quan khác. Người dân được tham gia vào nhiều khâu khác nhau: Từ cung cấp thông tin, phân tích đánh giá hiện trạng, phát hiện vấn đề và đề xuất giải pháp đến đầu tư (góp tiền, công sức, vật tư), vận hành, bảo dưỡng và bảo vệ sản phẩm . Các kế hoạch của dự án về cơ bản không nên vạch ra quá chi tiết trước, mà QHS (KTS quy hoạch), KTS chỉ lên khung sơ bộ rồi trong quá trình làm việc cùng cộng đồng mới được chi tiết hóa dần lên, cũng như sẵn sàng thay đổi linh hoạt theo thực tế.

PV: Anh chị có thể nói thêm về những điều kiện thuận lợi và vướng mắc của KTS khi hành nghề trong điều kiện làm việc tại thời điểm hiện tại, cụ thể trong mối tương quan giữa KTS, chủ đầu tư và luật pháp hiện hành?

KTS Vũ Thu Hương: Sự thuận lợi chính mà tôi thấy rõ ở Đức là luật hành nghề tư vấn và khung thù lao tư vấn (HOAI – Hiện tại được dùng chung ở Áo và Thụy Sĩ). Tôi làm việc với chủ đầu tư rất thuận lợi, thậm chí phần lớn làm việc với luật sư của chủ đầu tư nên ít khi xảy ra các cuộc đàm phán nhỏ lẻ mang tính cá nhân không trong hiểu biết về chuyên môn. Thời gian và năng lượng chủ yếu tập trung vào thiết kế và phối hợp các chuyên gia chứ không tập trung vào các cuộc tiếp xúc riêng tư với chủ đầu tư.

Về những vướng mắc: KTS trẻ chúng tôi gặp phải một khó khăn đó là luật mời thầu. Phần lớn các công trình công cộng đều ít có dạng thầu mở rộng hoặc điều kiện thầu rất khó khăn với các công trình liên đới đã từng làm hoặc điều kiện doanh thu cao.

Hiện tại, Hội KTS Berlin đang rất nỗ lực vận động để tác động nhằm cải tạo luật mời thầu tránh xu hướng già cỗi kiến trúc, tạo điều kiện hơn cho các KTS trẻ tham gia vào các công trình công cộng.

Tại Việt Nam, theo tôi thuận lợi chính là thị trường xây dựng rất sôi động, đôi khi là quá sôi động, “xây nhiều quyết nhanh”, xây nhanh, cải tạo cũng nhanh, đời sống công trình ngắn, chưa kịp hình thành xu hướng ngôn ngữ kiến trúc rõ rệt và mô phạm thì đã có xu hướng mới.

Ngoài ra, trong quá trình hành nghề những quy định về luật ban hành trong công tác hành nghề kiến trúc còn ít áp dụng và dẫn đến hiểu biết của KTS về hợp đồng tư vấn thiết kế nhìn chung là thiếu (trên diện rộng). Với vai trò là người hành nghề nhưng lại không rõ và chặt chẽ về hợp đồng cũng như các phụ lục hợp đồng làm cho KTS rất bị động trước chủ đầu tư, luôn nằm trong diện bị cắt ra khỏi dự án bất cứ lúc nào. KTS thiếu hẳn vai trò mô phạm xã hội mà chỉ đơn giản là thỏa mãn khách hàng trong khuôn khổ làm dịch vụ. Nếu KTS đưa ra các điều kiện hợp đồng quá chặt chẽ thì chủ đầu tư sẽ tìm đơn vị tư vấn khác để đỡ bị phụ thuộc vào hợp đồng hơn. Các chính sách về luật ban hành giấy phép hành nghề, bảo hiểm nghề nghiệp, trách nhiệm bảo hành công trình của KTS (ở Đức là 5 năm), thuế thu nhập và thuế doanh thu của những người hoạt động hành nghề kiến trúc theo tôi là chưa được áp dụng triệt để hoặc là chưa có cụ thể và chặt chẽ. Điều này dẫn đến hậu quả là KTS ở Việt Nam không nhất thiết phải theo khung thù lao thiết kế nào cả vì cũng không có trách nhiệm nhiều trong việc đóng thuế và bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm công trình, dẫn đến việc phá giá thù lao tư vấn, tự biến chúng ta thành các nhà cung cấp dịch vụ nhỏ lẻ. Điều gì xảy ra nếu chúng ta, các KTS đều làm việc khi đối diện với chủ đầu tư bằng một nền chung về khung hợp đồng và khung thù lao cho phép? Chủ đầu tư sẽ coi đó như một điều kiện đương nhiên nếu muốn làm việc với KTS và không có lựa chọn khác. Việc phá giá khung hợp đồng tư vấn khiến các KTS chúng ta chưa chắc đã “sống” riêng được, chắc chắn là “chết” chung vì muốn nhận được công trình thì phải đồng loạt phá giá. Từ phá giá ở đây tôi muốn nói không chỉ trong nghĩa của giá dịch vụ thù lao tư vấn mà còn trong nhiều nghĩa của điều kiện hợp đồng, đền bù chấm dứt hợp đồng, điều kiện đặt cọc hợp đồng và chủ đề nóng hổi nhất như bản quyền tác giả.

PV: Là người Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài, có lẽ với cái nhìn của người vừa trọng cuộc, lại có cơ hội tiếp xúc với môi trường làm việc ở đó. Anh có thể cho biết những kinh nghiệm anh có được với các đồng nghiệp đang làm việc ở trong nước?

KTS Tô Kiên: Là người Việt làm việc tại nước ngoài, tôi luôn mong được đóng góp cho quê hương dưới nhiều hình thức và bất cứ khi nào có thể. Rất nhiều năm về trước, tôi cũng như nhiều bạn trẻ đi du học ở nước ngoài thường suy nghĩ một cách “cổ điển” là chỉ có về nước mới đóng góp được cho đất nước. Nhưng sau này tôi đi theo một hướng tư duy khác về con đường đi để đóng góp cho nước nhà. Đó là ở lại nước ngoài, không ngừng trau dồi kiến thức và kinh nghiệm trong một thế giới đang biến đổi nhanh chóng, tận dụng nguồn lực và các mối quan hệ ở nước đó cũng như trên trường quốc tế để “kéo dự án” về Việt Nam, đồng thời làm nhịp cầu giữa các đơn vị ở trong nước muốn hợp tác quốc tế hay vươn ra nước ngoài.

Trong quá trình hợp tác giữa quốc tế và trong nước, tôi luôn chú trọng vào việc chuyển giao kiến thức, kinh nghiệm, công nghệ và bí quyết từ nước ngoài về Việt Nam, đồng thời đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ trong nước thông qua các dự án thực tế. Đơn cử như dự án phát triển bền cộng đồng bền vững tại xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, TP HCM (2013-2014). Khi đó, tôi đang công tác tại Đại học Công nghệ và Thiết kế Singapore (SUTD). Khi nhóm nghiên cứu của chúng tôi xin được nguồn kinh phí hàng năm để khởi xướng một dự án thiết kế cộng đồng tại một nước đang phát triển trong khu vực ASEAN và đứng trước một loạt lựa chọn như Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Indonesia, tôi đã thuyết phục được nhóm chọn Việt Nam làm nơi tiến hành dự án. Sau đó chúng tôi đã hợp tác với Đại học Bách khoa TP HCM và Đại học Văn Lang để thực hiện dự án này. Các đồng nghiệp trong nước có độ tuổi khá trẻ, có thế mạnh về kinh nghiệm thực tiễn và đặc thù ở Việt Nam, có mạng lưới địa phương tốt, trong khi chúng tôi ở nước ngoài có kinh nghiệm chuyên môn và mạng lưới quốc tế tốt, có khả năng vận động gây quỹ đa dạng. Team dự án được tuyển chọn rất kĩ lưỡng qua nhiều vòng phỏng vấn, và sau đó được đào tạo, “truyền lửa”, cọ sát và “thử lửa” tại cộng đồng và làm việc từ xa trong suốt hơn một năm trời. Sau dự án, các giáo viên trẻ và rất nhiều sinh viên trong team đã thực sự trưởng thành về nghề nghiệp, tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm quý báu, và đã trở thành hạt nhân cho những dự án tiếp theo (Ví dụ như dự án Làng Nghệ thuật Cộng đồng Tam Thanh, TP Tam Kỳ) với vai trò chủ động nhiều hơn. Họ dần dần có cách tiếp cận đa ngành đa phương hơn, làm việc chuyên nghiệp hơn và kết quả đem lại mang tính thực tiễn cao hơn. Điều thú vị nữa là sau dự án đầu suôn sẻ và xây dựng được các mối quan hệ tốt ở Việt Nam, anh bạn đồng nghiệp Singapore của tôi, hai năm liền sau đó đều chọn Việt Nam để làm dự án cộng đồng (dự án thứ 2 ở Hưng Yên làm cùng với Đại học Xây dựng, và dự án thứ 3 ở Long An làm cùng với đối tác cũ). Thông qua giao lưu và hợp tác quốc tế như vậy, không chỉ phía Việt Nam được hưởng lợi, mà phía bạn cũng học hỏi được rất nhiều từ các đồng nghiệp Việt Nam cũng như từ các bối cảnh và vấn đề xã hội của một nước đang phát triển nóng, điều mà các bạn đến từ các nước đã phát triển không có cơ hội trải nghiệm sâu tại nước họ. Rất nhiều đoàn quốc tế mà tôi “dẫn về” không khỏi kinh ngạc trước khả năng vẽ tay và diễn họa trên máy tính của các sinh viên và giáo viên Việt Nam.

Các dự án thiết kế đô thị và thiết kế cộng đồng của tôi và các đồng nghiệp tại Việt Nam, Singapore hay Nhật Bản hầu hết là các dự án thí điểm nên ban đầu chỉ ở quy mô nhỏ rồi tăng quy mô dần lên, vừa làm vừa rút kinh nghiệm (learning by doing) để nhân rộng sau này. Dự án sau kế thừa và thành công hơn dự án trước. Điều đáng mừng là năng lực, trình độ chuyên môn, trình độ nhận thức, mức độ chuyên nghiệp, năng suất lao động và mạng lưới ở trong nước ngày một phát triển tốt. Tôi có nhiều đồng nghiệp trẻ trong nước từng du học tại các nước tiên tiến, khi trở về đã phát triển sự nghiệp tốt và mang nhiều kinh nghiệm quốc tế về cho team trong nước.
Tuy đặc thù của nghề kiến trúc là “cái tôi” khá lớn, ở nước nào cũng vậy, nhưng ngày càng có thêm nhiều KTS, QHS (KTS quy hoạch) chọn hướng tiếp cận cộng đồng, hạ “cái tôi” xuống và thay vào bằng “cái chúng ta” để trở thành những KTS cộng đồng (community architect). Họ năng động, tràn đầy nhiệt huyết, khởi xướng và thực hiện ngày càng nhiều các sáng kiến để cùng các bên liên quan chung tay tạo ra các dự án thực sự ý nghĩa, đóng góp tốt cho giới nghề, cho cộng đồng địa phương nơi có dự án, gây tiếng vang và lan tỏa cảm hứng sáng tạo đi xa.

KTS Vũ Thu Hương

  • Văn phòng Kiến trúc vn-a
(visual network art and architecture) Sickingenstraße 04
10553 Berlin;
  • 08/2018: Đồng triển lãm với Nghệ sĩ thị giác, nhà làm phim Trương Quế Chi trong triển lãm
“Cao/ Độ/ Chiều” tại The Factory Contemporary Art Centre, TP HCM, được hỗ trợ bởi Viện Ngôn ngữ và Văn hóa Geothe, chi nhánh TPHCM, Việt Nam;
  • Từ 2017: Được kết nạp vào KTS đoàn BDA (Bund Deutscher Architekten) chi nhánh Berlin;
  • 10/2016: Giải thưởng Hans Schäfers 2016 dành cho KTS
trẻ dưới 40 tuổi
(Hiệp hội KTS Liên bang Đức BDA, Phân hội Berlin) Giải Nhì tại Giải thưởng quốc tế Kiến trúc thánh lần VI, Quỹ Frate Sole tại Pavia, Italia;
  • Từ 11/2014: Thành viên Hội KTS Berlin, số thành viên 4872;
  • Từ 2012: Thành lập Văn phòng Kiến trúc vn-a (visual network art architecture) (Đồng sáng lập Nguyễn Tuấn Dũng).

KTS Tô Kiên

TS. Tô Kiên tốt nghiệp KTS tại ĐH Xây dựng (1996), ThS Thiết kế Đô thị tại ĐH Nghệ thuật Berlin-Weisensee (Đức, 2000), và TS Kiến trúc tại ĐH Kumamoto (Nhật Bản, 2008). Anh từng có nhiều năm là giảng viên tại Đại học Xây dựng, và sau đó làm nghiên cứu và giảng dạy tại một số đại học ở châu Á khác như ĐH Kumamoto, ĐH Kyushu và gần đây nhất là ĐH Công nghệ và Thiết kế Singapore. Giải thưởng gần đây nhất mà anh nhận được với tư cách Phó Chủ nhiệm dự án là giải “Cảnh quan Đô thị Châu Á 2017” của UN Habitat cho dự án Làng Nghệ thuật cộng đồng Tam Thanh.

Từ năm 2017 tới nay, anh là Quy hoạch sư Cao cấp (KTS Quy hoạch) kiêm Quản lý Dự án của Công ty Tư vấn Kỹ thuật Hạ tầng Eight Japan (EJEC), trụ sở chính tại Tokyo

Vũ Đức Khuynh

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2020)