VNCC tiên phong trong tư vấn thiết kế ga Hàng không ở Việt Nam

Cuối năm 1995, Bộ trưởng Ngô Xuân Lộc sang tận trụ sở làm việc của VNCC giao nhiệm vụ cho Công ty phải cử cán bộ có năng lực thiết kế công trình Ga Hàng không T1 – Sân bay Quốc tế Nội bài. Đây là công trình đã trải qua hơn 5 năm, ngành Hàng không đã không trình được phương án nào tốt để Chính phủ duyệt cho thiết kế xây dựng. Lúc bấy giờ, đồng chí Giám đốc Nguyễn Hiển đã yêu cầu tôi sang phòng và trực tiếp nhận nhiệm vụ của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Nhiệm vụ thật khó khăn, khiến tôi có một chút lo lắng, song tôi thấy rất vinh dự được nhận nhiệm vụ này.

Nhat.2000_Nha ga T1. San bay quoc te Noi Bai
Ga hàng không Quốc tế Nội Bài

Chính phủ giao cho Bộ Xây dựng, Hội KTS Việt Nam và Cục Hàng không phải có phương án thiết kế sơ bộ trình Chính phủ trước khi kết thúc năm 1995. Thời gian gấp, vì vậy, tôi báo cáo với Giám đốc Công ty – kỹ sư Nguyễn Hiển và Thứ trưởng Bộ Xây dựng – KTS Nguyễn Tấn Vạn: Chúng ta cần phải chạy đua với thời gian bằng cách làm việc với Chủ đầu tư, làm việc với các chuyên gia của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam, nắm bắt những vấn đề cơ bản nhất về công nghệ và những tiêu chuẩn chính yếu của ICAO về thiết kế ga Hàng không quốc tế để có một ý tưởng kiến trúc phù hợp, lập được phương án báo cáo Chính phủ.

Cho đến thời điểm đó, cả đất nước Việt Nam chưa có một nhà ga Hàng không Quốc tế nào được xây dựng bài bản – đúng nghĩa là nhà ga Hàng không mà chỉ toàn là nhà ga tạm xây dựng cấp 4 với quy mô rất nhỏ. Sau ngày giải phóng miền Nam, nhu cầu đi lại Bắc-Nam của nhân dân cũng như các đoàn khách Quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều, nhất là các kỳ họp Quốc Hội, Đại hội Đảng… đặt ra nhu cầu cấp thiết xây dựng những nhà ga, sân bay lớn.

Trước khi phác thảo ý tưởng kiến trúc đầu tiên cho nhà ga, gần như tôi không có tài liệu chỉ dẫn hoặc tham khảo, ngoài việc ghi chép lại những ý kiến của chủ đầu tư và một vài chuyên gia của ngành Hàng không, cùng với một tài liệu sơ đồ mặt bằng mấy ngàn chiếc cọc đã đóng xuống theo phương án cũ của KTS Việt Nam tại Pháp – KTS Võ Thành Nghĩa và một vài bức ảnh trong các Tạp chí Kiến trúc nước ngoài. Chỉ còn một tháng 15 ngày để hoàn thành phác thảo kiến trúc nhà ga để trình phương án cho Thủ tướng Chính phủ (lúc đó là đồng chí Võ Văn Kiệt). Với những hiểu biết sơ bộ và lược giản nhất về dây chuyền công nghệ, tôi đã phác thảo ngày đêm trong vòng một tuần lễ để có được tổng mặt bằng, mặt bằng các tầng chính và sơ bộ hình khối kiến trúc công trình. Tranh thủ ý kiến một số anh em và Giám đốc Công ty. Tôi trình bày phác thảo với Thứ trưởng Nguyễn Tấn Vạn. Được sự đồng tình, ủng hộ của lãnh đạo Bộ Xây dựng, sau đó tôi có điều chỉnh và vẽ lại phác thảo lần thứ 3 để cho tập thể anh em hoàn thiện bản vẽ để báo cáo.

Nhóm KTS, những cộng sự do KTS Thân Hồng Linh (hiện nay đang là Phó Tổng Giám đốc VNCC) phụ trách là những người nắm bắt rất nhanh, nhiệt tình, say sưa với công việc, ngày đêm triển khai bản vẽ. Chưa đầy hai tuần chúng tôi đã thể hiện xong bản vẽ thiết kế sơ bộ, báo cáo trình bày phương án với Bộ Xây dựng, Hội KTS Việt Nam, Chủ đầu tư công trình và Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.

Tôi chuẩn bị khá kỹ, nhất là những vấn đề cơ bản của dây chuyền công nghệ mà tôi đã nắm bắt được, cũng như ý tưởng kiến trúc của Phương án. Tôi đã trình bày trước cuộc họp do Bộ Xây dựng chủ trì cùng các bên liên quan như trên với các ý chính như sau:
– Tổng mặt bằng chia làm 2 cụm: Nhà ga T1, T2, T3,T4. Các cụm này nằm ở phía Bắc của đường quốc lộ (đi Vĩnh Phúc) về lâu dài sẽ làm các nhà ga sau (T5…) và sẽ có thêm đường băng hạ và cất cánh mới.
– Cơ bản Nhà ga T1, T2 (và sau là T3, T4) có mặt bằng 3 cánh. Nó là sự biến tướng của giải pháp nhà ga tuyến tính nhưng xây dựng từng nhà ga, đáp ứng 6 triệu hành khách/ năm và sẽ xây dựng, phát triển dần theo sự tăng trưởng của số lượng hành khách.
– Nhà ga có đường hành khách đi trên tầng 2 – trên một cốt cao trình và hành khách đến ở tầng một (trên 1 cao trình rưỡi).
– Nhà ga có mái dốc, khai thác từ dáng dấp mái ngói cổ truyền, nhưng được cách điệu và có kết cấu hiện đại.
– Nhà ga đáp ứng yêu cầu công suất của 6 triệu hành khách/năm (như nhiệm vụ thiết kế trong dự án đã lập của Cục hàng không) nhưng có ngôn ngữ kiến trúc riêng, không giống với bất cứ nhà ga Hàng không nào trên thế giới.

Trong nhiệm vụ thiết kế, T1 là nhà ga Hàng không hỗn hợp vừa cho khách bay nội địa, vừa cho khách bay Quốc tế. Vì vậy, loại nhà ga này khá phức tạp vì có 2 loại luồng giao thông khác nhau. Để đơn giản cho dây chuyền công nghệ nên tôi đã phân chia: Cánh giữa của mặt bằng tầng 2 dành cho khách quốc tế; hai cánh 2 bên dành cho hành khách nội địa; ngoài ra, tầng 1 là sảnh đến nhưng phần lớn cánh giữa của tầng 1 sẽ bố trí khu xử lý hành lý.

Tại buổi họp, chúng tôi đã trình bày rất kỹ những ý tưởng chính về dây chuyền công nghệ, ý tưởng kiến trúc, và đã nhận được sự ủng hộ của Lãnh đạo Bộ Xây dựng và Hội KTS Việt Nam. KTS Nguyễn Trực Luyện đã kết luận: “Với phương án như thế này, tôi thấy yên tâm để báo cáo Chính phủ được”. Chủ đầu tư và các chuyên gia của Cục Hàng không cũng rất đồng tình về giải pháp bố trí mặt bằng và dây chuyền công nghệ rất phù hợp mà Việt Nam chưa có.

Tuy nhiên, tất cả trên đây mới chỉ là phương án kiến trúc phù hợp cho công trình Nhà ga T1. Sau khi trình phương án lên Chính phủ và được thông qua thì việc quan trọng và đáng lo lắng hơn cả là giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Trước hết phải thông qua hồ sơ kỹ thuật với đầy đủ phương án kiến trúc và các số liệu để có ý kiến của chuyên gia tư vấn công nghệ về hàng không ADP (Pháp). Rất may mắn là giữa năm 1996 tôi cũng được đi trong đoàn cán bộ cao cấp của VNCC sang Anh học tập theo dự án ODA của Chính phủ Anh. Tôi tranh thủ vừa học tập cùng đoàn, vừa trao đổi học thuật và tham quan các công trình nhà ga hàng không của Anh quốc. Tập đoàn tư vấn lớn nhất của Anh là Scott Winson đã thực hiện nhiều công trình tư vấn, thiết kế nhà ga hàng không ở Anh và trên thế giới. Tôi cũng tranh thủ đưa phương án của Việt Nam cho các bạn góp ý kiến và cũng xin được rất nhiều tài liệu về thiết kế. Đặc biệt, khi đến thăm Hội KTS Hoàng gia Anh, tôi đã sưu tầm được các tài liệu về tiêu chuẩn quy hoạch, thiết kế ga hàng không và sổ tay thiết kế ga hàng không với những tiêu chuẩn của ICAO và của các tổ chức hàng không quốc tế. Tôi cũng được ghé qua Đức để hội thảo với các chuyên gia Đức thiết kế các ga hàng không lớn của Đức và thế giới về phương án thiết kế T1 của Việt Nam. Đây là những tài liệu và những kiến thức vô cùng bổ ích để chỉnh sửa và hoàn thiện bản thiết kế kỹ thuật Nhà ga T1.

Quá trình triển khai thiết kế mỹ thuật, tôi vẫn chưa an tâm với những trang thiết bị và kỹ thuật chuyên dùng của Nhà ga, một mặt nhóm thiết kế hợp tác với Viện Thiết kế Hàng không, một mặt được phép của Giám đốc Công ty, tôi đã mời chuyên gia Mỹ nổi tiếng thuộc hãng Passon overseas Engineering gồm 3 chuyên gia xem xét trong vòng 2 tháng, lên phương án và góp ý với các thiết bị kỹ thuật chuyên dùng của Nhà ga T1. Có thể nói, nhóm thiết kế đã học tập được rất nhiều từ các chuyên gia, đặc biệt là các bộ môn kỹ thuật ME. Anh em trong nhóm đã có thể tự tin tính toán và thể hiện hồ sơ bản vẽ kỹ thuật của công trình để trình lên Cục Hàng không thông qua với đầy đủ các bản vẽ minh họa, các tính toán về kỹ thuật trang thiết bị của công trình T1. Lần trình bày này có lý giải về sự tính toán lại các tiêu chuẩn về diện tích và trang thiết bị so với phần lập dự án trước kia chưa thật chính xác.

Giai đoạn thiết kế thi công cũng gặp rất nhiều khó khăn do yêu cầu công trình xây dựng gấp. Chính phủ và Cục hàng không cho phép vừa thiết kế, vừa thi công, có rất nhiều nhà thầu thi công nên thiết kế vừa phải chạy đua với công trường, vừa phải bám sát hiện trường để kịp thời bổ sung và hiệu chỉnh trong quá trình thiết kế.

Cuối năm 1999, công trình được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Lần đầu tiên Việt Nam có một nhà ga hàng không lớn và hiện đại tầm cỡ thế giới. Đây là công trình hiện đại nhất Việt Nam trước năm 2000. Tuy có nhiều khen chê khác nhau nhưng công trình được Tổ chức Hàng không quốc tế ICAO đánh giá là công trình có dây chuyền hành khách hợp lý đơn giản, rất dễ quản lý khai thác so với các nhà ga khác trên thế giới. Ủy ban Người khuyết tật và Việc làm của Mỹ sang thăm Việt Nam đã đánh giá rất tốt về sự bố trí giao thông dành cho người tàn tật của công trình. Nhân chuyến sang thăm HộiKTS Việt Nam, Chủ tịch Hội KTS thế giới cũng đánh giá rất cao về cá tính và đặc thù khai thác kiến trúc dân tộc của công trình hiện đại nhất Việt Nam lúc bấy giờ. Nhà ga Hàng không quốc tế T1 là bài học về sự nghiêm túc với nghề nghiệp, sự khiêm tốn ra sức học hỏi kinh nhiệm của thế giới; học hỏi các tiêu chuẩn quy định của các tổ chức Hàng không Quốc tế. Đến năm 2014, Nhà ga Hàng không quốc tế T1 Nội Bài đã được gần 15 năm sử dụng với công suất thiết kế là: 6 triệu hành khách/năm. Nhà ga chủ yếu xây dựng bằng vật liệu sẵn có của Việt Nam thời bấy giờ, tuy không sang trọng nhưng công trình đã khai thác rất hiệu quả, công suất sử dụng của năm 2014 đã lên tới 14 triệu hành khách/năm (quá tải 200%) nhưng vẫn thuận lợi cho hành khách và cơ quan khai thác Nhà ga. Trong thời gian khai thác không có sự cố nào lớn với công trình. Công trình thực sự góp phần to lớn vào sự lớn mạnh của ngành Hàng không và sự phát triển kinh tế ngoại giao của Việt Nam.

Với quyết toán của công trình được duyệt là 72 triệu hành khách/năm (so với nhà ga quốc tế Tân Sơn Nhất với 8 triệu hành khách/năm là 280 triệu USD) thì Nhà ga T1 Nội Bài là rất kinh tế và có hiệu quả cao về công suất đầu tư, không gian diện tích và giao thông cho hành khách của Nhà ga T1 Nội Bài có nhiều ưu điểm hơn rất nhiều.

Điều đáng tiếc nhất là đội ngũ KTS, kỹ sư của VNCC thời gian đó đã được đào tạo và trưởng thành trong thiết kế Nhà ga T1 nhưng sau này không được tiếp tục sử dụng và phát huy để thiết kế các công trình ga hàng không mới cho đất nước.

Ga Hàng không Quốc tế T1 Nội Bài đã được tặng Giải Nhất – Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia năm 2002. Đến nay mặc dù đã xây dựng xong Nhà ga T2 với quy mô lớn hơn nhiều, nhưng hình ảnh Nhà ga T1 vẫn là một dấu ấn kiến trúc độc đáo với nhiều kỷ niệm và rất tự hào của các KTS và kỹ sư VNCC.

Hồi ký của KTS Lương Anh Dũng
Nguyên Phó Giám đốc VNCC

TCKT số 04-2015