Từ những thế hệ KTS đầu tiên mang sứ mệnh định hình ngôn ngữ kiến trúc bản địa trên nền tảng kỹ thuật phương Tây, đến những nhà thiết kế đương đại đang định hình hệ sinh thái sáng tạo số, góp phần giải mã bài toán đô thị bền vững – Trải qua 100 năm, hành trình đào tạo và hành nghề của Kiến trúc sư (KTS) Việt Nam không chỉ là sự tiếp nhận các giá trị hàn lâm thế giới, mà là một quá trình tiếp biến liên tục của bản sắc trong dòng chảy biến thiên của lịch sử. Bước vào năm 2026, hành nghề kiến trúc đang đứng trước những sự biến đổi mạnh mẽ.

Tạp chí Kiến trúc số này trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuộc trò chuyện với nhiều thế hệ KTS trẻ đang làm nghề, đang tham gia vào quá trình đào tạo kiến trúc, nhằm nhìn nhận những giá trị nội tại của giới nghề, tái định nghĩa vị thế của KTS trong hệ sinh thái sáng tạo hiện đại.
Từ tiếp nhận đến trưởng thành: Chuyển biến trong tư duy kiến trúc
Là một KTS thuộc thế hệ 8x, tôi không có nhiều điều kiện tiếp xúc trực tiếp với các thế hệ KTS đầu tiên của Việt Nam. Tuy nhiên, thông qua các công trình, các bản vẽ và những tư liệu còn lại, tôi có cơ hội hiểu hơn về tinh thần nghề nghiệp của lớp người đi trước.
Nếu nhìn lại một thế kỷ, theo tôi, kiến trúc Việt Nam đã trải qua một hành trình rất đặc biệt: Từ giai đoạn tiếp nhận nền tảng hàn lâm và kỹ thuật phương Tây; đến nỗ lực tìm kiếm tiếng nói bản địa trong thiết kế; tiếp đó là thời kỳ tái thiết đô thị, xây dựng trong bối cảnh xã hội chủ nghĩa và hôm nay là giai đoạn hội nhập sâu rộng với công nghệ số, phát triển bền vững và tư duy liên ngành.
Chuyển biến lớn nhất, theo tôi, là sự dịch chuyển từ tư duy tiếp cận hàn lâm đơn thuần sang tư duy hành nghề gắn với nhu cầu thực tiễn của xã hội và thị trường. Kiến trúc Việt Nam hôm nay không chỉ cần đẹp về thị giác, mà còn phải trả lời được những câu hỏi căn bản: Công trình ấy thuộc về nơi chốn nào, phản ánh điều gì của bối cảnh và đóng góp gì cho đời sống đô thị.
Vì vậy, trong 100 năm qua, kiến trúc Việt Nam không chỉ thay đổi về hình thức biểu đạt, mà còn trưởng thành về ý thức nghề nghiệp: Từ việc tạo dựng công trình đơn lẻ đến việc kiến tạo môi trường sống có trách nhiệm. Đào tạo kiến trúc tại Việt Nam hiện nay cũng có những chuyển biến tích cực, đặc biệt trong việc chuẩn hóa chương trình và đẩy mạnh công tác bảo đảm chất lượng theo định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều đó cho thấy hệ thống đào tạo không còn vận hành theo kiểu hoàn toàn tự phát như trước. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ rằng đây mới là điều kiện cần, chứ chưa phải sự bảo chứng tuyệt đối cho chất lượng đào tạo. Bên cạnh những tích cực, vẫn còn những hạn chế, mà theo tôi, nằm ở khoảng cách giữa nhà trường và thực tiễn hành nghề. Sinh viên rất thiếu cơ hội va chạm đầy đủ với các yêu cầu cốt lõi của nghề như pháp lý, hệ thống tiêu chuẩn – quy chuẩn, phối hợp đa bộ môn, làm việc với cộng đồng và xử lý bối cảnh thực tế. Nói cách khác, sinh viên đang được rèn để làm bài tốt, nhưng chưa được chuẩn bị đầy đủ để hành nghề vững vàng.
Trong khi đó, khung pháp lý về hành nghề kiến trúc hiện nay đòi hỏi KTS phải qua các kỳ thi sát hạch, đồng thời duy trì quá trình phát triển nghề nghiệp liên tục, năng lực hành nghề thực sự phải được hình thành qua một quá trình dài và có cấu trúc.
Tôi cho rằng đào tạo KTS ở Việt Nam hiện nay thiếu một cơ chế đủ hiệu quả để chuyển hóa tài năng thành năng lực hành nghề chuyên nghiệp.
Nếu nhìn về 10–20 năm tới, theo tôi, đào tạo KTS ở Việt Nam cần chuyển mạnh từ mô hình đào tạo người “vẽ tốt” sang mô hình đào tạo người “kiến tạo môi trường sống”. Điều đó có nghĩa là chúng ta không chỉ đào tạo tác giả của hình khối, mà phải đào tạo một chủ thể nghề nghiệp có khả năng thiết kế tích hợp, đọc được bối cảnh xã hội, hiểu khí hậu, làm việc với dữ liệu, phối hợp liên ngành và dẫn dắt đối thoại với cộng đồng.
Theo tôi, có ba chuyển đổi lớn cần được thực hiện:
Thứ nhất, chương trình đào tạo theo năng lực đầu ra phải được gắn chặt hơn với thực tiễn hành nghề, thay cho cách tổ chức môn học còn phân mảnh và rời rạc. Sinh viên cần được tiếp cận một cấu trúc học tập tích hợp hơn, trong đó kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp được hình thành đồng thời.
Thứ hai, cần đưa hoạt động studio đến gần hơn với các vấn đề thực địa, địa phương thực, cộng đồng thực và dữ liệu thực. Nói cách khác, nhà trường cần phát triển những mô hình đào tạo theo hướng “lab mở”, nơi sinh viên không chỉ thiết kế trên giấy mà còn học cách quan sát, khảo sát, phản biện và can thiệp vào những tình huống không gian có thật.
Thứ ba, cần xây dựng một hệ sinh thái học tập bền vững giữa nhà trường, văn phòng thiết kế, hội nghề nghiệp và mạng lưới cựu sinh viên. Bởi lẽ, đào tạo KTS không nên khép lại ở lễ tốt nghiệp, mà phải được tiếp nối bằng một quá trình học tập nghề nghiệp liên tục.
Tôi cũng cho rằng cần mạnh dạn thay đổi cách tổ chức dạy học trong tương lai. Môi trường đào tạo kiến trúc không thể chỉ có người dạy kiến trúc, mà cần có sự tham gia của kỹ sư, chuyên gia công nghệ, nhà xã hội học, chuyên gia môi trường, chuyên gia dữ liệu và các KTS đang hành nghề. KTS của tương lai sẽ không thắng chỉ vì vẽ đẹp hơn, mà vì biết đặt câu hỏi đúng hơn, hiểu con người sâu hơn và đưa ra những quyết định có trách nhiệm hơn. Di sản của 100 năm qua đã tạo cho chúng ta một nền móng quan trọng. Nhưng chính 10–20 năm tới mới là giai đoạn quyết định liệu nền móng ấy có thể chuyển hóa thành một bản sắc hành nghề sống động, đủ năng lực dẫn dắt xã hội và đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước hay không.
Một thế kỷ kiến trúc Việt Nam: Từ hành trình tìm kiếm bản sắc đến thách thức đổi mới đào tạo
Như chúng ta đều biết kiến trúc là một bộ phận của văn hóa, nó là “tấm gương” phản ánh văn hóa – xã hội qua từng giai đoạn lịch sử. Mỗi công trình là dấu ấn của thời đại, thể hiện lối sống, tư duy và điều kiện kinh tế của con người.
Kiến trúc Việt Nam trong khoảng 100 năm qua là một quá trình đi tìm bản sắc riêng, gắn liền với tiến trình lịch sử của đất nước. Cùng với sự thay đổi về xu hướng kiến trúc, việc đào tạo kiến trúc tại Việt Nam cũng có nhiều thay đổi phù hợp với sự phát triển của xã hội. Cụ thể như:
- Việc đào tạo tại hầu hết các cơ sở đào tạo về kiến trúc đều hướng tới chất lượng đào tạo thông qua việc đạt các chứng nhận về kiểm định chất lượng của các tổ chức kiểm định uy tín như MOET (Việt Nam), AUN-QA (Đông Nam Á)…;
- Chương trình đào tạo về kiến trúc đã cập nhật theo xu hướng thế giới như BIM, Kiến trúc xanh, Kiến trúc bền vững, ứng dụng công nghệ vào thiết kế kiến trúc… Đây thực sự là những tín hiệu đáng mừng, nó cho thấy một triển vọng của kiến trúc Việt Nam.
- Sinh viên Việt Nam đã để lại nhiều dấu ấn trong các cuộc thi quốc tế dành cho sinh viên kiến trúc.
Tuy nhiên, chương trình đào tạo kiến trúc của Việt Nam còn nhiều hạn chế, chúng ta vẫn còn một khoảng cách nhất định với thế giới, nó được thể hiện qua một số điểm khác biệt sau:
- Khác biệt về mô hình đào tạo: Mô hình học qua các dự án thực tế ở nhiều nước trên thế giới và mô hình vẫn còn nặng về lý thuyết của Việt Nam.
- Khác biệt về định hướng tư duy thiết kế: Ở các nước trên thế giới sinh viên chú trọng nhiều vào việc nghiên cứu, phản biện để tìm ra phương án thiết kế kiến trúc, còn ở Việt Nam thì các bạn sinh viên vẫn còn đặt nặng về việc diễn họa đồ án đẹp;
- Khác biệt về khoảng cách giữa trình độ sinh viên mới tốt nghiệp và yêu cầu về nghề do mô hình học tập nặng lý thuyết, sinh viên Việt Nam ít cơ hội va chạm với các công trình thực tế, không quen quy trình làm việc, thiếu kỹ năng phối hợp đa ngành nên gặp nhiều khó khăn khi tham gia thị trường lao động.
- Khoảng cách về công nghệ: Mặc dù nhiều cơ sở đào tạo kiến trúc tại Việt Nam đã cập nhật và đưa việc ứng dụng công nghệ vào công tác thiết kế kiến trúc, nhưng việc này chưa nhất quán và đưa vào chương trình đào tạo chính thức, hầu như đều được tổ chức theo dạng các lớp học ngoại khóa dẫn đến việc vẫn còn nhiều sinh viên chưa cập nhật và thao tác được với các công nghệ mới này.
- Về môi trường học thuật: Các bạn sinh viên quốc tế với văn hóa phản biện, tranh luận nên tư duy kiến trúc thường được phát triển rất mạnh. Còn ở Việt Nam sinh viên ít tranh luận, ngại phản biện với giảng viên nên dẫn đến việc hạn chế trong việc phát triển tư duy độc lập.
- Mặc dù trong bối cảnh toàn cầu hóa nhưng do một số khó khăn nhất định sinh viên Việt Nam vẫn chưa có nhiều điều kiện để giao lưu, trải nghiệm và học hỏi trực tiếp với thế giới mà hầu như chúng ta chỉ giao lưu trực tuyến, việc này cũng là một hạn chế với sinh viên kiến trúc Việt Nam.
Việc nhận thức rõ những điểm yếu để tập trung cải thiện như tăng yếu tố thực tiễn trong quá trình đào tạo, tăng tính phản biện phát huy tinh thần sáng tạo độc lập của sinh viên, tăng tính giao lưu quốc tế nhằm giúp sinh viên có những trải nghiệm và học hỏi…sẽ cho chúng ta tự tin về một tương lai tươi sáng của thế hệ KTS trẻ Việt Nam.
Giữ lửa đam mê – Khác biệt đến từ công cụ và môi trường học tập
Nhìn lại hành trình đào tạo và hành nghề của KTS trong suốt một thế kỷ vừa qua, có thể thấy các thế hệ sinh viên kiến trúc luôn giữ được sự đam mê, khả năng tư duy sáng tạo trong lĩnh vực kiến trúc vẫn không bao giờ tắt, được thể hiện qua tinh thần học các đồ án kiến trúc. Tinh thần đó rèn luyện bằng quan sát, phân tích, phát thảo, phản biện, sửa bài liên tục tại xưởng.
Tuy nhiên, qua các thế hệ, việc đào tạo kiến trúc cũng đã có nhiều thay như môi trường tiếp cận tri thức và công cụ hành nghề đã thay đổi. Thế hệ sinh viên kiến trúc trước đây đi lên từ thiếu thốn tư liệu, ít phần mềm, ít nguồn tham chiếu quốc tế, nên thường được rèn sức bền, tính kiên nhẫn và nền tảng vẽ tay khá chắc. Sinh viên kiến trúc hiện nay có lợi thế rất lớn về dữ liệu số, phần mềm, AI, khả năng tiếp cận xu hướng quốc tế và trao đổi học thuật nhanh hơn nhiều. Những điều này vừa là điểm thuận lợi nhưng cũng là điểm rủi ro vì rất dễ phụ thuộc công cụ hiện đại, dễ bị quá tải thông tin, và có thể chiều sâu tư duy chậm hơn tốc độ thể hiện.
Hiện nay, khi công nghệ và các vấn đề đô thị thay đổi nhanh, các yếu tố này có nhiều tác động như thế nào đến đào tạo kiến trúc. Các yếu tố này tác động rất lớn bởi vì công nghệ số đang làm thay đổi chính cách học, cách dạy và cách hành nghề kiến trúc. Sinh viên bây giờ không chỉ học vẽ và thiết kế theo phương thức truyền thống, mà còn phải làm quen với mô hình số, dữ liệu số, phối hợp liên ngành, thậm chí tư duy theo hệ sinh thái đô thị thông minh.
Bản thân các cơ sở đào tạo kiến trúc, các giảng viên, KTS cũng phải thay đổi phương thức dạy, truyền thụ kiến thức sang hình thức hướng tới phát triển tư duy, năng lực. Chương trình đào tạo gắn chặt với xưởng thiết kế, công nghệ, hành nghề, nghiên cứu và trách nhiệm xã hội, cộng đồng (chuẩn đầu ra).
Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, theo tôi sinh viên kiến trúc hiện nay cần ít nhất 4 kỹ năng như sau:
- Năng lực số: Sinh viên không chỉ biết dùng phần mềm, mà phải biết tư duy bằng công cụ số, làm việc với dữ liệu, mô hình thông tin số.
- Năng lực thiết kế, nghiên cứu gắn với bản sắc địa phương (hiểu tính bản địa, môi trường khí hậu địa phương, tính bền vững): Sinh viên cần hiểu thông gió, chiếu sáng tự nhiên, vật liệu phù hợp, thích ứng biến đổi khí hậu… Đây không chỉ là xu hướng quốc tế mà còn là nhu cầu rất thực của kiến trúc Việt Nam. Sinh viên càng hội nhập quốc tế càng phải hiểu sâu địa phương: lịch sử đô thị, di sản, văn hóa bản địa… Đây chính là kỹ năng mềm của người làm kiến trúc tại Việt Nam.
- Kỹ năng nghiên cứu và tư duy phản biện: Trong thời đại số, không nên dựa vào AI để dựng hình ý tưởng thiết kế, thực hiện công việc nhanh, mà quan trọng là nên quản lý, có tư duy để tương tác đặt câu hỏi đúng, kiểm chứng thông tin, phân tích bối cảnh và đưa ra lập luận thiết kế có cơ sở. Sinh viên biết phân biệt giữa hình ảnh đẹp và giải pháp đúng.
- Kỹ năng liên ngành và làm việc với cộng đồng: KTS ngày nay cần làm việc với các đồng nghiệp, cộng sự ở nhiều lĩnh vực khác nhau như kỹ sư, nhà quy hoạch, nhà quản lý, chuyên gia môi trường, chuyên gia dữ liệu và cả người dân.
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, giá trị cốt lõi của KTS vẫn nằm ở tư duy sáng tạo và khả năng phản biện, chứ không chỉ ở việc sử dụng công cụ. Vì vậy, đào tạo kiến trúc cần hướng tới sự cân bằng giữa công nghệ và chiều sâu tư duy, giúp sinh viên trở thành những người kiến tạo không gian có trách nhiệm và bản sắc.
Từ di sản đến kỷ nguyên số: Thích ứng để kiến tạo bản sắc kiến trúc đương đại
“Một thế kỷ kiến tạo” không chỉ phản ánh hành trình phát triển của một ngành nghề, mà còn định hình tư duy và lý tưởng của nhiều thế hệ KTS. Trên nền tảng đó, các thế hệ sinh viên kiến trúc có chung một niềm tin mạnh mẽ rằng kiến trúc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống trong cộng đồng thông qua chính sản phẩm của mình và qua sự tham gia phục vụ xã hội, những hoạt động vượt ra khỏi ranh giới của hành nghề. Các em tin rằng kiến trúc là một nghề có cơ hội phong phú và đa dạng vì nó cho phép KTS tự mở ra cho mình rất nhiều con đường sự nghiệp độc đáo, có thể định hình những niềm đam mê của một KTS.
Qua nhiều giai đoạn, khác biệt cơ bản giữa thế hệ trước (thế hệ di sản) và thế hệ hiện nay (thế hệ số) không nằm ở cách họ tư duy sáng tạo mà nằm ở khía cạnh công nghệ kiến trúc và các kỹ năng dựa trên công nghệ. Các sinh viên thế hệ trước tư duy dựa trên sự chiêm nghiệm một cách “chậm rãi” và các kỹ năng thủ công. Kiến thức được truyền thụ mang tính hàn lâm, cô đọng. Thậm chí mới chỉ một thập kỷ trước, các nhà thiết kế có sở thích về cả kiến trúc lẫn công nghệ về cơ bản được yêu cầu theo đuổi cái này hoặc cái kia. Bây giờ, với việc kiến trúc đã đi sâu khai thác sức mạnh của các công nghệ tiên tiến, hai lĩnh vực này không còn loại trừ lẫn nhau nữa. Thay vì chọn một con đường ưa thích, các sinh viên hiện nay ngày càng được khuyến khích nắm bắt công nghệ sau để trở thành những tài năng được săn lùng. Nhưng khác biệt này tạo ra một áp lực thay đổi rất lớn khiến sinh ngày nay phải không ngừng học tập nếu không muốn bị bỏ rơi hay chấp nhận lượm lặt “những miếng bánh vụn” nghề nghiệp.
Trong kỷ nguyên kết nối hiện nay, kiến trúc Việt Nam đang chịu ảnh hưởng quốc tế mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Sự thâm nhập của hệ sinh thái sáng tạo số khiến ngôn ngữ kiến trúc trên toàn cầu trở nên “phẳng” hơn.
Sự biến đổi của công nghệ và các vấn đề đô thị hiện nay không chỉ là thách thức mà còn là lực đẩy buộc hệ thống đào tạo kiến trúc phải tái cấu trúc toàn diện.
- Tốc độ cập nhật chương trình đã phải rút ngắn, thậm chí dưới chu kỳ 5 năm. Trong kỷ nguyên xã hội số, kiến thức và công cụ tư duy thiết kế thay đổi theo từng ngày. Chương trình đào tạo không còn có thể duy trì sự ổn định kéo dài hàng thập kỷ như trước đây. Để sinh viên không bị tụt hậu, các cơ sở đào tạo phải chủ động rút ngắn chu kỳ cập nhật chuẩn đầu ra, khung chương trình, giáo trình, thậm chí dưới 5 năm, nhằm tích hợp kịp thời các tiến bộ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và các mô phỏng phức tạp vào quy trình thiết kế. Ở Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, chu kỳ rà soát toàn diện chương trình là 5 năm; rà soát cải tiến cục bộ là hàng năm, chậm nhất là 2,5 năm.
- Định vị bản sắc trong tư duy thế hệ mới: Công nghệ càng phát triển, chương trình đào tạo càng phải đề cao và “định vị” rõ nét bản sắc kiến trúc Việt Nam. Mục tiêu là giúp thế hệ sinh viên mới không chỉ giỏi về công cụ quốc tế mà còn có khả năng dùng chính công nghệ đó để “giải mã” và tôn vinh những giá trị bản địa. Bản sắc lúc này không phải là sự sao chép hình thức cũ, mà là tư duy cốt lõi về văn hóa, con người và khí hậu Việt Nam được lồng ghép xuyên suốt trong quá trình sáng tạo.
Trong bối cảnh hiện nay, rất khó để đoán định chính xác diện mạo nghề kiến trúc sau 10 hay 20 năm nữa nhưng có một tương lai rất chắc chắn là nó sẽ ở trạng thái “động” thay vì “tĩnh”, việc đào tạo kỹ năng thích ứng cho một tương lai “động” là rất quan trọng. Do đó, bên cạnh các kỹ năng và kiến thức chuyên môn kinh điển, kỹ năng thích ứng (adaptability) trở thành năng lực sống còn của KTS. Sinh viên cần được trang bị tư duy tự học và cập nhật kỹ năng, khả năng xoay sở trước các biến số của đô thị và sự linh hoạt trong việc phối hợp đa ngành để giải quyết các bài toán xã hội phát sinh.
Trước những biến động nhanh chóng của công nghệ và xã hội, đào tạo kiến trúc không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức mà cần trang bị năng lực thích ứng linh hoạt cho thế hệ tương lai. Trong một thế giới nghề nghiệp luôn vận động, bản sắc kiến trúc và khả năng tự học, đổi mới sẽ là nền tảng giúp KTS không bị cuốn trôi mà tiếp tục kiến tạo giá trị bền vững cho cộng đồng.
Thuỵ An
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2026)




























