Trở về mái nhà xưa

Chẳng biết từ khi nào, ngay hồi còn rất nhỏ, tôi đã nghêu ngao một bài hát Italia nổi tiếng mà người soạn lời Việt là nhạc sĩ Phạm Duy, bài hát mang tên “Trở về mái nhà xưa”. Đó là vì nghe các anh các chị trong nhà hát mà nhập tâm. Khi ấy, căn nhà bố mẹ tôi xây ở ngoại ô Hải Phòng vừa tân gia được vài năm. Căn nhà đó bây giờ vợ chồng cô em ruột đã xây lại thành một tòa nhà cao 5 tầng. Vậy mà khi trở về, tôi vẫn nhìn thấy trong ký ức tươi sáng của mình hình ảnh căn nhà cũ – Đấy là một căn nhà cao, có gác xép, phía trước – phía sau đều có vườn. Ở sân nhà gồm bể nước lớn, bể nước nhỏ, giếng và bể lọc nước giếng. Căn nhà đó và các gác xép đã dung dưỡng  thuở học trò của tôi. Bây giờ nghĩ lại, các cụ đã kết hợp được ở căn nhà đó cả kiến trúc làng với kiến trúc nhà phố khá hài hòa. Bởi thế nó gây ấn tượng. Mỗi khi về thăm nhà, tôi đều nhẩm hát “Trở lại mái nhà xưa”: “Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh – Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh…” . Bài hát này sau lớn hơn, tôi mới biết đó là bài hát “Trở về Sorrento” của nhạc sĩ Italia E. Curtiss và có nhiều bản dịch tiếng Việt khác. Song tôi vẫn thích lời Việt của Phạm Duy. Gần đây, nghiên cứu để viết cuốn sách về Phạm Duy, tôi càng thấm thía cái lời Việt của “Trở về mái nhà xưa”.

Theo hồi ký của Phạm Duy, “Trở về mái nhà xưa” được ông soạn lời Việt năm 1948 tại quán Thăng Long ở chợ Neo – Thanh Hóa. Soạn để tặng cho chị em Thái Hằng, Thái Thanh. Trong hai chị em, sau Thái Hằng trở thành vợ Phạm Duy. Khi ấy, Phạm Duy vừa có những năm sáng tác thật dồi dào với những hành khúc và những bài hát thiết tha thấm đẫm âm hưởng dân ca Việt Nam như “Bà mẹ quê”, “Em bé quê”, “Nương chiều”, “Vợ chồng quê”…trở thành một trong những nhạc sĩ hàng đầu của thời kỳ đầu trường kỳ Kháng chiến. Những bài hát này ra đời cùng thời với những kiến trúc tre nứa làm nhà sàn Bác Hồ, phòng họp chính phủ, hội trường chiến khu Việt Bắc…để lại một dấu ấn độc đáo của kiến trúc cách mạng thời kháng chiến. Khi Phạm Duy cũng rời Việt Bắc vào khu Bốn thì chợ Neo là nơi ông thường trú ngụ những ngày nghỉ ở quán Thăng Long. Ông soạn lời Việt cho “Trở về mái nhà xưa” bằng cảm xúc của một người trở về làng quê trú ngụ tại căn nhà ba gian, hai chái từ ngàn xưa của làng Việt Nam. Bởi thế, bản dịch của ông có ca từ rất Việt: “Về đây khi mái tóc còn xanh xanh. Về đây với màu gió ngày lang thang…”. Tôi rất mê câu: “Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh”… Nó rất gần với những kỷ niệm làng quê của tôi khi đi gặt mùa ở ngoại thành Hải Phòng, khi đi học đại học sơ tán ở Cẩm Khê, Phú Thọ, lúc đi bộ đội đóng ở nhiều làng quê từ Bắc vào đến Quảng Bình… Ở đâu, cái màu rêu xanh của một kiến trúc bình dị từ quá vãng cứ hắt vào trong ta những thảng thốt không lời. Không biết nó có làm động lòng những KTS trẻ hôm nay trên đường tìm tòi diện mạo đích thực của kiến trúc Việt Nam như cách họ đang tìm lại trong tre nứa? “Trở về mái nhà xưa” hơn hẳn cái tên thật “Trở về Sorrento” vì nó không còn gắn bài hát vào một địa danh cụ thể mà “mái nhà xưa” đã trở thành biểu tượng của tất cả nhân loại. Riêng đối với nghệ thuật kiến trúc, “mái nhà xưa” còn là một gợi ý rất đáng ngẫm nghĩ cho các tác giả định chế lại nét vẽ của mình sau rất nhiều trải nghiệm đã gặp trên con đường kiếm tìm. Nó cũng gợi ý cho cả các nhạc sĩ để bây giờ việc bám sát vào những giai điệu dân ca xưa, tinh chế thành một tác phẩm mới cùng những kỹ thuật hiện đại là việc làm đương nhiên từ khẩu hiệu: “Dân tộc – Khoa học – Đại chúng” hay sát gần hơn là: “Dân tộc đích thực – Nhân loại tiên phong”.

Gần đây, tôi có cùng một nhóm họa sĩ của Gallery39 về vẽ ở làng Cự Đà-Hà Đông cũ (nay thuộc Hà Nội). Chợt thấy rất ổn cái giải pháp kiến trúc mà người làng này thực thi trong hôm nay. Vẫn là con đường gạch quanh co xuyên làng. Vẫn là mùi tương và mùi miến truyền thống Cự Đà. Vẫn là những mái ngói âm dương nhà cổ xa xưa. Nhưng bên cạnh đó, là những nhà gác thời Pháp thuộc, nhà gác thời hôm nay. Khi bước vào căn nhà cổ có tuổi hơn thế kỷ mà vợ chồng họa sĩ trẻ thuê để ở và vẽ, thì mới thấy hết rằng căn nhà kiểu như thế này vẫn là hạt nhân của làng. Còn những nhà gác kia trong đó có cả nhà gác của dòng họ Trịnh của Trưởng Ban văn nghệ VTV Trịnh Lê Văn, chỉ là những nguyên tử xoay quanh hạt nhân để tạo ra một nguyên tố riêng biệt nhưng không dị biệt của Cự Đà. Bữa đó, các họa sĩ tổ chức triển lãm ngay vào lúc cuối chiều, khi họ đã vẽ xong những cảm xúc của mình về Cự Đà trong lúc vừa nghe bà Hà Thị Cầu hát xẩm, rồi lại nghe nhạc rock cũng trong không gian nhà cổ ấm cúng và gần gũi. Những cuộc đưa tranh đến với người nông dân thế này thật hiếm. Những bức tranh làm cho cái sân lát gạch cổ bỗng mới mẻ lạ thường. Đến Cự Đà, tôi lại có cảm giác đang “Trở về mái nhà xưa” và thay vì vẽ như các họa sĩ, tôi ghi ra một bài thơ để tặng nhóm họa sĩ dễ thương G39:

CỰ ĐÀ, MỘT NGÀY

Mưa nhỏ níu xuân, dẫn ta về Cự Đà

Hồn vía xưa dắt kẻ mù lòa

Đường làng ngoằn ngoèo gạch sợi miến to màu tương

Rêu phong đón chào trên mái ngói âm dương

Cổ sơ quánh đặc bánh đúc

Chum da lươn đầy nước

Mưa vẫn nhỏ đều đều

Trên sân gạch trên gáo dừa

Giọng xẩm bà Cầu giao hoan cột đứng

Nam xăm rock metal lừng lững

Máy ảnh bấm cò lạch tạch

Mong vạch vô hình chớp ánh sáng cũ

Mưa tạnh nắng lên bút lông chấm vào cảm xúc

Lưu giữ nét nhà đã hơn trăm tuổi

Cự Đà một ngày hóa sợi dây thừng

Quá vãng và hiện tại dùng chơi kéo co

Cứ nhìn cách uống rượu của con cháu

Chắc quá vãng sắp tới hồi chào thua

Chỉ còn lại dành cho mai sau vài nét vẽ mơ hồ

Gắng nhặt nhạnh từ đống khổng lồ ký ức mất tích…

Xuân Đinh Dậu 2017

Nguyễn Thụy Kha

Tranh minh họa: Nhóm Gallery 39

(Bài đăng trong Tạp Chí Kiến Trúc số 12 – 2016)