Kiến trúc miếu thờ của người Hoa ở Châu Đốc

Văn hóa kiến trúc mặc dù là một thành tố được xếp vào bình diện văn hóa vật thể, tuy nhiên nó thường hàm chứa nhiều giá trị nổi bật trong văn hóa của mỗi cộng đồng. Trong đó, các công trình kiến trúc nhằm phục vụ cho tín ngưỡng tôn giáo luôn được mỗi cộng đồng xem là niềm tự hào trong kho tàng di sản văn hóa của họ. Nội dung bài viết này xoay quanh phân tích những đặc điểm, hiện trạng và đánh giá giá trị các công trình kiến trúc miếu thờ của người Hoa ở thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Bởi địa phương này là nơi có sự đa dạng về văn hóa tộc người và tín ngưỡng tôn giáo.

Mặt tiền miếu Quan Đế và Chánh điện miếu Quan Đế

1. Khái quát

Thành phố Châu Đốc (tỉnh An Giang) là một trong những trung tâm văn hóa thu hút đông đảo cư dân từ nhiều tộc người đến lập nghiệp. Điều đó đã khiến nơi đây trở thành vùng đất giao hòa, chia sẻ và dung hợp đa văn hóa. Từ xưa đến nay, Châu Đốc luôn tồn tại mối quan hệ tương tác mật thiết giữa bốn tộc người Việt, Khmer, Chăm, Hoa. Vì thế, nơi đây có diện mạo văn hóa đa tộc người và đa tôn gáo, tạo nên những nét đặc thù cho văn hóa địa phương và đóng góp vào sự phong phú của văn hóa vùng.

Trong đó, người Hoa đã chọn Châu Đốc để dừng chân và lập nghiệp trên hành trình di cư của mình. Họ đến Châu Đốc cách nay khoảng trên dưới 200 năm, gồm năm nhóm là Quảng Đông, Phúc Kiến, Khách Gia, Hải Nam và đông nhất là Triều Châu. Suốt nhiều thế kỷ qua, họ vừa bảo tồn truyền thống, vừa biến đổi để thích ứng. Từ đó họ đã đóng góp cho địa phương nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, trong đó kiến trúc của các ngôi miếu là một lĩnh vực nổi bật.

2. Đặc điểm và hiện trạng các ngôi miếu của người Hoa ở Châu Đốc

2.1. Miếu Quan Đế

Quan Đế miếu ở phường Châu Phú A ra đời năm 1847 và lần đại trùng tu gần đây nhất là năm 2017, nhân dịp kỷ niệm 170 năm thành lập miếu. Ngôi miếu hiện nay có ngoại thất tương đối đơn giản với kết cấu kiến trúc truyền thống của người Hoa. Nóc miếu lợp ngói tiểu đại màu xanh ngọc. Bờ nóc cong nhẹ, phía trên có tượng lưỡng long triều nhật, thân bờ nóc vẽ hình chim phụng, cá chép, hoa quả… Trên cửa chính có bảng chữ Hán “Quan Đế miếu” được nhũ vàng trên nền đỏ.

Chánh điện miếu tôn trí là bàn thờ Quan Đế nằm phía trong cùng. Trên bàn thờ có tượng ba vị Quan Công, Quan Bình, Châu Xương với kích thước lớn. Tượng Quan Công được tạo hình là một vị tướng oai vệ, mặt đỏ, râu dài, mặc cẩm bào. Tượng Quan Bình tay cầm Thanh Long đao còn tượng Châu Xương cầm chiếc ấn Hiệp Thiên, đây là hai người con nuôi và cũng được xem là hai tùy tùng của ông. Trước bàn thờ là đôi liễn đối ốp cột “Đào viên kết bái thiên thu tụng/ Trung nghĩa càn khôn vạn cổ dương” được chạm lộng tinh xảo với họa tiết long vấn và sơn son thếp vàng, phía trên có hoành phi “Hiệp Thiên Đại Đế” được nhủ vàng trên nền đen.

Nhìn theo hướng từ trong ra ngoài, hai bên bàn thờ chính có bàn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu bên trái và Phước Đức Chánh Thần bên phải. Bên góc chánh điện có tượng ngựa Xích Thố là con vật đã tận tụy phục vụ Quan Công trong những ngày chinh chiến, được người dân tôn là Thần Mã tướng quân. Giữa chánh điện có thiên tỉnh (giếng trời) là khoảng trống không có nóc, mang chức năng lấy ánh sáng và tản bớt khói hương. Hai bên thiên tỉnh có phù điêu tả thanh long – hữu bạch hổ, trước hình thanh long có bồn nước và trước hình bạch hổ có bồn cây cảnh, thể hiện triết lý âm dương và mang ý nghĩa phong thủy.

2.2. Miếu Tam Sơn

Mặt tiền miếu Tam Sơn

Miếu Tam Sơn ở phường Vĩnh Mỹ có niên đại khoảng 200 năm. Miếu thờ Tam Sơn Quốc Vương là ba vị sơn thần của ba ngọn núi Minh Sơn, Độc Sơn và Cân Sơn ở vùng Yết Dương – Triều Châu (nay thuộc tỉnh Quảng Đông). Đây là tín ngưỡng dân gian của cộng đồng người Hoa nhóm Triều Châu, có nguồn gốc từ quan niệm sùng bái núi non của cư dân Hoa Nam cổ xưa.

Kiến trúc miếu ngày nay mang phong cách pha lẫn truyền thống và hiện đại. Nóc chính của miếu là cổ lầu tam cấp, mặt tiền là cổ lầu nhị cấp, bờ nóc gắn tượng lưỡng long triều nhật, mái cong hình thuyền và lợp ngói tiểu đại màu xanh ngọc. Trên cổ lầu có hai bảng “Tam Sơn miếu” bằng chữ Hán và Quốc ngữ, cửa chính của miếu cũng có hoành phi “Tam Sơn Quốc Vương” và liễn đối “Tam Sơn cứu giá lạc hồi anh linh dân gian tại/ Quốc Vương ngự phong thánh đức vô tư hợp cảnh an”, tất cả đều được sơn son thếp vàng.

Nội thất được trang hoàng với nhiều hoành phi, liễn đối, bao lam với nghệ thuật chạm khắc điêu luyện, tất cả kết hợp thành một không gian thâm nghiêm mà hài hòa. Về cấu trúc thờ tự, từ ngoài vào đầu tiên bàn thờ Sơn Quân có tượng Ông Hổ, tiếp đến là bàn thờ Hội đồng chư thần, cuối cùng nơi cao nhất là bàn thờ Tam Sơn Quốc Vương. Hai bên bàn thờ chính có bàn thờ Phước Đức Chánh Thần và Thiên Hậu Thánh Mẫu, cặp theo hai vách có bàn thờ Tiền quá vãng và Hậu quá vãng.

Bàn thờ Tam Sơn Quốc Vương

2.3. Miếu Hàn Lâm

Mặt tiền miếu Hàn Lâm

Hàn Lâm miếu tọa lạc ở phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc. Nơi đây thờ Võ Tướng Thần, tên thật là Võ Phước Trường, tương truyền là một vị học sĩ trong Hàn Lâm viện của triều Minh. Không ai còn nhớ chính xác ngôi miếu ra đời từ khi nào, chỉ biết đã tồn tại khoảng trước thập niên 1940 và chỉ là một chòi nhỏ bằng tre lá. Đến năm 1948 miếu được xây lại và giữ nguyên diện mạo đến nay.
Ngày nay, Hàn Lâm miếu là một trong những công trình kiến trúc mang tính thẩm mỹ cao ở thành phố Châu Đốc, với phong cách cổ điển của cung đình Trung Hoa. Cổng miếu dạng tam quan, bên trên có bảng “Hàn Lâm viện” bằng chữ Hán màu vàng trên nền đỏ, dọc hai thân cột là liễn đối “Sanh tiền sắc tứ Hàn Lâm viện/ Một hậu sắc phong Võ Tướng Thần”. Trong sân có hai miễu nhỏ là Ngũ Hành và Sơn Quân đối xứng nhau.

Ngôi chánh điện có bộ nóc nhị cấp lợp ngói tiểu đại, mái cong hình thuyền, bờ nóc trang trí tượng rồng phun nước, các đầu đao trang trí hoa văn mây uốn lượn. Giữa hai cấp mái có khắc các dòng chữ Quốc ngữ gồm “Hàn Lâm miếu” ở giữa, “Mậu Tý niên” ở bên trái và “Nhất cửu tứ bát” (1948) ở bên phải. Trên cửa chính vào miếu có hoành phi “Võ Tướng Thần” bằng chữ Hán nhũ vàng trên nền đỏ. Hai chái bên có nóc thấp hơn gian chính, mặt tiền là hai cửa sổ tròn cách điệu chữ “thọ” theo Hán tự.

Trong chánh điện, các gian thờ được bố trí dọc theo trục trung tâm và hai vách. Ở giữa lần lượt từ ngoài vào là bàn thờ Phù sứ, đến bàn thờ Hội đồng nội, cuối cùng ở vị trí cao nhất là bàn thờ Võ Tướng Thần. Trên bàn thờ chính có long ngai, bên trên đặt long vị, hai bên có lỗ bộ (bộ binh khí) và tượng đôi chim hạc, phía trước long ngai là hòm đựng văn tế. Nhìn từ bàn thờ chính ra, vách bên trái lần lượt là các bàn thờ Tả ban, Tiền bổn hội quá vãng, Thiện nam, vách bên phải lần lượt là các bàn thờ Hữu ban, Hậu bổn hội quá vãng, Tín nữ.

Bàn thờ chính trong miếu Hàn Lâm

2.4. Miếu Thiên Hậu

Mặt tiền miếu Thiên Hậu

Thiên Hậu là một trong những hình thái tín ngưỡng Mẫu nổi bật hàng đầu của cư dân miền Nam Trung Hoa. Thành phố Châu Đốc cũng có một ngôi miếu thờ Thiên Hậu mang tên là Thiên Hậu thánh miếu, tọa lạc ở phường Vĩnh Mỹ. Miếu Thiên Hậu ra đời cách nay khoảng 200 năm. Ngôi miếu ban đầu làm bằng tre lá đơn sơ và nhỏ bé, nằm trên một gò đất. Sau này, một người nông dân tìm thấy thêm một pho tượng khác ở dưới sông, tiếp tục mang về đây thờ chung. Năm 1958, miếu được xây lại kiên cố như hiện nay, từ đó đến nay miếu đã trải qua thêm ba lần trùng tu.

Kiến trúc miếu Thiên Hậu ngày nay chịu ảnh hưởng phong cách kiến trúc đình làng Nam Bộ. Cổng miếu dạng tam quan, trên cổng chính có chữ Quốc ngữ “Thiên Hậu Thánh Mẫu” và dưới có chữ Hán “Thiên Hậu thánh miếu”, hai cổng phụ mỗi bên có chữ “Thiên Hậu” và chữ “Thánh miếu” bằng Quốc ngữ. Cổng chính có liễn đối “Thiên đức cao minh bảo hộ thôn hương hỷ lạc/ Hậu cung phổ chiếu phù trì xã ngọc vĩnh khang” và cổng phụ có liễn đối: “Thánh tích oai linh lê dân lạc nghiệp/ Mẫu nghi chiếu diện bổn hội an hòa”. Phía sau cổng có hai miễu nhỏ thờ Ngũ Hành và Thổ Địa.

Nóc miếu lợp ngói tiểu đại, trên nóc có trang trí hoa văn và tượng chim phụng. Mặt tiền miếu có gắn bảng ghi chữ Hán “Thiên Hậu miếu”, phía sau là bao lam hoa văn cung đình cổ điển. Miếu có ba cửa ra vào, bên trong rộng rãi và nhờ kết hợp với nóc cao nên tạo cho ngôi miếu thoáng và sáng. Vị trí cao nhất là bàn thờ Thiên Hậu. Phía trước có bàn thờ Hội đồng được đặt thấp hơn, hai bên có các bàn thờ đối xứng là Tả ban – Hữu ban, Tiền vãng – Hậu vãng.

Bàn thờ chính trong miếu Thiên Hậu

2.5. Miếu Bảy Bà Hai Cậu

Mặt tiền miếu Bảy Bà Hai Cậu

Miếu Bảy Bà Hai Cậu có tên chữ là Thất Thánh miếu, là một cơ sở tín ngưỡng tọa lạc tại phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc. Đối tượng thờ chính của ngôi miếu này là Thất Thánh Nương Nương (Bảy Bà) và Cậu Tài – Cậu Quý (Hai Cậu).

Theo truyền thuyết của người Hoa, Thất Thánh Nương Nương là bảy vị tiên nữ theo phò Tây Vương Mẫu. Song, Cậu Tài – Cậu Quý lại là sản phẩm dung hợp có nguồn gốc từ văn hóa Chăm. Dân gian cho rằng đây là hai người con của Thiên Y A Na – vị nữ thần có nguồn gốc từ Po Yang Inư Nưgar (mẹ xứ sở) của người Chăm. Hiện tượng thờ ghép Bảy Bà và Hai Cậu thường thấy ở vùng sông nước, làm ngư nghiệp.

Thất Thánh miếu ở Châu Đốc ra đời đã khoảng 200 năm và đã trải qua nhiều lần trùng tu. Thất Thánh miếu ngày nay có diện không lớn và kiến trúc đơn giản. Nóc miếu dạng cổ lầu nhị cấp, mái lợp ngói tiểu đại màu xanh, trên các bờ nóc trang trí tượng linh thú. Mặt trước cổ lầu có bảng nền vàng, khắc chữ đỏ “Thất Thánh miếu” bằng chữ Hán. Mặt tiền ngôi chánh điện có ba cửa ra vào, hai bên là hai cửa sổ tròn cách điệu chữ “thọ” theo Hán tự.

Bước vào chánh điện, ở trung tâm có bàn thờ Hội đồng, phía sau là bàn thờ chính dành cho Thất Thánh Nương Nương với bảy pho tượng được điểm xuyến màu sắc rực rỡ và đặt trên bệ cao. Hai bên bàn thờ chính có bàn thờ Cậu Tài và Cậu Quý, mỗi bàn thờ có một pho tượng tạc người nam giới với khuôn mặt trẻ trung. Tiếp theo phía ngoài, hai bàn thờ đối xứng nhau ở hai vách là Tiền quá vãng và Hậu quá vãng. Ngoài sân có hai miễu nhỏ thờ Thổ Thần và Vạn Ban.

Bàn thờ Thất Thánh Nương Nương

3. Giá trị văn hóa kiến trúc miếu của người Hoa ở Châu Đốc

Giá trị nổi bật trong phong cách kiến trúc Hoa thể hiện rõ nhất ở các ngôi miếu. Miếu thờ của người Hoa thường có kiến trúc điển hình, góp phần nhận diện văn hóa tộc người. Đa phần những cơ sở thờ tự của người Hoa thường có những đặc điểm chung như kiến trúc “nội công ngoại quốc”, mái lợp ngói âm dương, tường sơn vàng, trong miếu có thiên tỉnh (giếng trời) để lấy ánh sáng và tản bớt khói hương, hai bên vách có phù điêu tả thanh long – hữu bạch hổ…

Miếu thờ là nơi gần như thể hiện toàn bộ thế giới quan và nhân sinh quan của người Hoa. Đó không chỉ là không gian thờ tự thần thánh, mà còn là nơi sinh hoạt, giáo dục và đóng vai trò như một “bảo tàng” lưu trữ những tác phẩm nghệ thuật thể hiện tất cả tài hoa của họ. Ngôi miếu được trang trí cầu kỳ và tinh tế với nhiều hình ảnh mang đậm dấu ấn văn hóa Trung Hoa và nhiều tác phẩm tranh tường tái hiện sự tích các thần linh hoặc danh nhân lịch sử.

Bước vào mỗi ngôi miếu, chúng ta sẽ ấn tượng với các bao lam, thành vọng, hoành phi, liễn đối… với hình thức chạm lộng và chạm khuyết, đạt đến trình độ tinh xảo với sự sống động trong từng chi tiết nhỏ. Nghệ thuật chạm khắc còn được thể hiện ở các khánh thờ, tủ thờ, long ngai… mang vẻ đẹp tôn nghiêm dành cho thần linh. Bên cạnh những hàng cột được ốp liễn đối, chúng ta còn thấy dạng cột được vẽ hình long vấn (rồng quấn quanh thân cột) đầy uyển chuyển. Xung quanh không gian thiêng là những bức tranh tường đa dạng về đề tài như cuộc đời vị thần hay phong cảnh…
Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tư tưởng Nho giáo, nên các công trình kiến trúc đền miếu trước hết về mặt hình thức luôn thể hiện tính tôn ti trong kết cấu bày trí các đối tượng thờ tự. Nghệ thuật trong các công trình kiến trúc này cũng chịu sự chi phối của Nho giáo với các hình tượng quen thuộc như tứ linh, tứ quý, bát bửu… Ngoài ra, các yếu tố Đạo giáo còn được thể hiện trong nghệ thuật kiến trúc của miếu như Môn Thần, bát tiên, bát quái…

Bên cạnh đó, do giao lưu văn hóa và quá trình hiện đại hóa, nhiều miếu thoát khỏi mô hình này, tạo nên sự đa dạng trong kiến trúc miếu của người Hoa vùng Châu Đốc. Như vậy có thể nhận định một cách tổng quan rằng kiến trúc miếu thờ người Hoa vùng Châu là sản phẩm được kế thừa từ văn hóa gốc ở Trung Hoa và được người Hoa linh hoạt biển đổi cho phù hợp với vùng đất mới, có tiếp thu những giá trị văn hóa của các tộc người cùng sinh sống gần gũi trên địa bàn. Chúng không phải là bản sao hoàn toàn, nhưng cũng không đánh mất những giá trị truyền thống của cố hương.

4. Kết luận

Do đặc thù lịch sử, quá trình khai phá và kiến thiết Nam Bộ gắn liền với quá trình giao lưu văn hóa toàn diện và sâu sắc giữa các tộc người Việt, Khmer, Hoa, Chăm… Họ cùng nhau làm giàu cho diện mạo văn hóa vùng, trong đó có bình diện kiến trúc đã mang đến cho văn hóa vật thể ở Nam Bộ những màu sắc mới. Với sự linh hoạt của chủ thể văn hóa, người Hoa đã tạo nên những công trình kiến trúc độc đáo trên vùng đất mới, đơn cử như trường hợp thành phố Châu Đốc. Kiến trúc những ngôi miếu không phải là “bản sao” hoàn toàn của văn hóa Trung Hoa, mà vừa kế thừa truyền thống, vừa thể hiện sự năng động và linh hoạt để biến đổi cho phù hợp với môi trường mới đang cư trú.

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người và đa văn hóa, Châu Đốc là một trong những vùng đất thể hiện rõ đặc trưng này. Với điều kiện tự nhiên kết hợp nhiều dạng địa hình khác nhau, cộng thêm điều kiện xã hội có sự hội tụ nhiều cộng đồng cư dân đến từ nhiều nguồn, làm cho Châu Đốc trở thành trung tâm kinh tế – văn hóa quan trọng của khu vực biên giới Tây Nam Bộ. Trong bức tranh tổng thể với nhiều gam màu ấy, có sự đóng góp không nhỏ của văn hóa tộc người Hoa, đặc biệt là khía cạnh văn hóa kiến trúc, góp phần vào sự đa dạng cho văn hóa địa phương và văn hóa vùng.

KTS Vĩnh Thông
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 01-2021)