Từ Kẻ Chợ đến Hà Nội hôm nay: Khi một thành phố biết kết nối để tạo ra giá trị

Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 với chủ đề “Thăng Long – Kẻ Nghệ” tiếp nối dòng chảy đặt con người và khả năng cùng sáng tạo vào trung tâm của văn hóa sáng tạo. Từ mạch giao thương, phố nghề và làng nghề của Kẻ Chợ, chủ đề mở ra một cách nhìn về cộng đồng sáng tạo hôm nay: Những người đang kết nối tri thức nghề, nghệ thuật, thiết kế và công nghệ để phát triển vốn văn hóa của Hà Nội thành những giá trị mới.

Hàng Bạc, Hàng Đào, Hàng Mã, Hàng Thiếc, Hàng Đồng, Hàng Gai… Những tên phố gợi nhắc một Hà Nội gắn với nghề và buôn bán. Phía sau các cửa hiệu là những dòng người, vật liệu, kỹ năng và hàng hóa nối thành phố với các vùng nghề – Người thợ mang theo kinh nghiệm chế tác; người buôn đưa sản phẩm đến khách hàng; nhu cầu sử dụng góp phần định hình cách sản xuất.

Từ góc nhìn ấy, Kẻ Chợ hiện lên như một môi trường sáng tạo, trong đó các nguồn lực gặp gỡ, trao đổi và cùng tạo nên sức sống đô thị. Đây là một nền tảng để suy nghĩ về kinh tế sáng tạo của Hà Nội hôm nay: Những tri thức đang được gìn giữ có thể gặp ai, được phát triển theo cách nào và tạo thêm cơ hội gì cho cộng đồng đang nắm giữ chúng?

Kẻ Nghệ và cộng đồng sáng tạo của Hà Nội

Trong chủ đề lễ hội, “Kẻ Nghệ” là nơi quy tụ cộng đồng những người có tri thức, kỹ năng và khả năng sáng tạo, đang cùng làm nên đời sống văn hóa của Hà Nội. Cách gọi này hướng sự chú ý đến con người: Văn hóa được tiếp nối qua người thực hành; ý tưởng có đời sống nhờ những người phát triển nó thành tác phẩm, sản phẩm, trải nghiệm và những cách sử dụng không gian có ý nghĩa.

“Kẻ Nghệ” gợi nhắc “Kẻ Chợ”, nơi người từ nhiều vùng tìm đến, mang theo nghề nghiệp, sản vật và tập quán để cùng tạo nên sức sống thành thị. Mối liên hệ ấy giúp đọc chủ đề từ một đặc điểm của Hà Nội: Khả năng quy tụ những năng lực khác nhau và tạo điều kiện để chúng gặp gỡ, trao đổi. Trong đời sống hôm nay, mạng lưới ấy mở rộng với sự tham gia của nghệ sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, các không gian sáng tạo và cộng đồng cư dân.

Chữ “Nghệ” trước hết gợi sự tinh thông của người làm nghề: Hiểu vật liệu, nắm kỹ thuật, biết xử lý những vấn đề nảy sinh trong thực hành. Đồng thời, “Nghệ” mở ra sự liên tưởng đến nghệ thuật, mỹ cảm và khả năng đem lại những cách cảm nhận mới về đời sống. Khi kỹ nghệ thủ công gặp tư duy thiết kế, công nghệ và ngôn ngữ nghệ thuật đương đại, tri thức được tích lũy có thêm cơ hội đi vào những công năng và hình thức biểu đạt mới. Đây là cách diễn giải văn hóa của chủ đề, được phân biệt với một khẳng định về từ nguyên hay địa danh lịch sử.

Vì vậy, cộng đồng được gợi lên qua hình tượng “Kẻ Nghệ” có nhiều cách tham gia: Nghệ nhân tham gia bằng hiểu biết về nghề; nghệ sĩ bằng khả năng khám phá và biểu đạt; nhà thiết kế bằng các ý tưởng, giải pháp, và tổ chức trải nghiệm; người làm công nghệ có thể mở thêm phương thức lưu giữ, sản xuất và chia sẻ tri thức; iểu thương đưa hiểu biết về khách hàng vào quá trình phát triển sản phẩm; cư dân đóng góp ký ức, kinh nghiệm sống và tiếng nói về những thay đổi ở nơi mình gắn bó…

Những đóng góp ấy có giá trị riêng và cần được đặt trong quan hệ hợp tác bình đẳng. Nghệ nhân cùng tham gia từ khi hình thành ý tưởng sẽ có điều kiện đóng góp vào quyết định về kỹ thuật, chất liệu và cách ghi nhận tri thức. Cư dân cùng bàn bạc về một thực hành nghệ thuật công cộng có thể giúp tác phẩm gắn với nhu cầu và đời sống nơi chốn. Người trẻ vừa học từ những kinh nghiệm đã có, vừa mang đến câu hỏi, phương pháp và khả năng thử nghiệm mới…

Đặt cạnh “Kẻ Nghệ”, “Thăng Long” gợi chiều sâu của một thành phố đã tích lũy nhiều lớp tri thức và đời sống văn hóa. Chiều sâu ấy hiện diện trong kỹ năng, ký ức và cách ứng xử của những người đang sống, làm việc tại Hà Nội. Chủ đề hướng đến việc phát triển các nguồn lực này thông qua những cuộc gặp gỡ, đối thoại giữa các thế hệ, lĩnh vực và cộng đồng, đồng thời mở rộng trao đổi với nghệ sĩ, nhà sáng tạo trong nước và quốc tế.

Từ đó, “Thăng Long – Kẻ Nghệ” có thể được hiểu như lời mời cùng tham gia vào đời sống sáng tạo của thành phố. Mỗi người có thể bắt đầu từ năng lực và mối quan tâm của mình, tìm đến những người có khả năng bổ sung cho công việc đang làm. Ý nghĩa của cuộc gặp được tiếp tục qua tác phẩm, qua cơ hội học hỏi, sinh kế và những quan hệ giúp con người còn muốn cùng nhau làm việc sau mùa lễ hội.

Mạch nối làng và phố

Hình ảnh “ba mươi sáu phố phường” thường gợi cảm giác về một trật tự rõ ràng, mỗi phố gắn với một nghề hay một mặt hàng. Tuy nhiên, phố phường Thăng Long – Hà Nội đã hình thành và biến đổi trong những điều kiện lịch sử phức tạp hơn.

Trong nghiên cứu về các thế kỷ XVII–XIX, Nguyễn Thừa Hỷ phân biệt “phường”, trước hết là một đơn vị hành chính, với “phố”, gắn với những trục đường tập trung hoạt động thủ công và buôn bán. Sự phân biệt này giúp tránh đồng nhất toàn bộ cấu trúc đô thị với một tập hợp phường hội nghề nghiệp. Nhà ở, nơi chế tác, cửa hiệu và các hoạt động trao đổi có thể cùng hiện diện trong đời sống phố.

Mỗi phố nghề lại nối với những địa bàn cung cấp thợ, vật liệu và sản phẩm. Bến sông, cửa ô và các tuyến vận chuyển đưa hàng hóa vào đô thị, đồng thời đưa đơn đặt hàng và nhu cầu từ đô thị trở lại các vùng sản xuất. Trong quá trình ấy, người thợ vừa tham gia đời sống thành thị, vừa duy trì quan hệ với quê gốc.

Các nghiên cứu của Sylvie Fanchette và Nicholas Stedman về làng nghề quanh Hà Nội cũng cho thấy mối liên hệ giữa những cộng đồng sản xuất với khu phố chuyên doanh và các thị trường rộng hơn. Nhìn theo mạng lưới này, làng nghề và phố nghề là những mắt xích có quan hệ mật thiết. Thành phố tạo nhu cầu và cơ hội giao thương; vùng nghề đóng góp kỹ năng, vật liệu và năng lực sản xuất.

Khi nghiên cứu sự chuyển đổi của khu phố cổ, Michael Waibel đặt hoạt động thương mại trong mối liên hệ với những biến đổi của không gian đô thị. Góc nhìn ấy gợi mở một yêu cầu đối với bảo tồn: Cùng với kiến trúc và tên phố, cần quan tâm đến những hoạt động và quan hệ khiến nơi chốn tiếp tục “sống”.

Một cửa hiệu còn mở chưa đủ cho biết nghề đang được truyền lại ra sao. Một món hàng được bày bán cũng chưa cho thấy ai chế tác, nguyên liệu đến từ đâu, hay người làm nghề hưởng lợi như thế nào. Những câu hỏi ấy đưa việc tìm hiểu phố nghề đi sâu vào nền tảng kinh tế và xã hội đã tạo nên nó.

Chợ Đồng Xuân xưa.

Hàng Bạc và những cộng đồng làm nên phố

Hàng Bạc cho thấy khá rõ sự hội tụ của nhiều dòng kỹ năng. Lịch sử nghề kim hoàn tại đây gắn với những cộng đồng thợ từ Châu Khê, Định Công, Đồng Xâm. Mang theo kỹ thuật và quan hệ quê gốc, họ cùng tham gia hoạt động chế tác, trao đổi trong môi trường thương mại của thành phố.

Phố tạo điều kiện để kỹ năng từ nhiều địa phương tiếp xúc với nhau và với nhu cầu của khách hàng. Những quan hệ đồng hương, tín ngưỡng và nghề nghiệp cũng góp phần gắn kết cộng đồng. Người thợ lên thành phố lập nghiệp nhưng vẫn giữ những mối liên hệ với nơi nghề được trao truyền.

Đình Kim Ngân, tại số 42–44 Hàng Bạc, là một dấu vết của đời sống cộng đồng ấy. Những chương trình giới thiệu, trình diễn nghề được tổ chức tại đình qua nhiều năm đã đưa nghệ nhân trở lại gặp công chúng giữa không gian phố cổ. Một thiết chế lịch sử nhờ đó tiếp tục tham gia vào đời sống hôm nay, qua việc tạo nơi trao đổi kinh nghiệm và giới thiệu kỹ năng.

Từ trường hợp này, có thể thấy ý nghĩa của việc kết nối lại các chủ thể gắn với di sản. Bảo tồn một phố nghề còn cần quan tâm đến cơ hội để người làm nghề gặp người học, kỹ thuật được thực hành và sản phẩm tiếp xúc với người sử dụng. Những hoạt động ấy giúp ký ức nghề có thêm điều kiện được tiếp nối.

Đồng thời, sự tồn tại của tên phố và hoạt động kinh doanh cần được phân biệt với mức độ duy trì nghề. Qua thời gian, nơi chế tác, phương thức cung ứng và quan hệ với làng nghề có thể thay đổi. Tìm hiểu những biến đổi đó là cơ sở để lựa chọn cách bảo tồn, giới thiệu và phát triển phù hợp với thực tế của từng nơi.

Tri thức nằm trong quá trình làm nghề

Những quan hệ nối làng với phố vẫn có thể được nhận ra từ thực hành của người làm nghề hôm nay. Ba cuộc trò chuyện tại Hạ Thái, Phú Vinh và Kim Lan trong khuôn khổ hoạt động điền dã của chương trình Re:Craft 2026 – Làng nghề tái sinh tổ chức vào tháng 7-2026 cho thấy phía sau mỗi sản phẩm còn có một phần tri thức ít được công chúng nhìn thấy.

Tại Hạ Thái, họa sĩ Trần Công Dũng nói về khó khăn tìm nguồn sơn ta và cách các xưởng thích ứng với yêu cầu về tiến độ, đơn hàng. Theo ông, việc thay đổi vật liệu và quy trình đòi hỏi người làm nghề tự tìm giải pháp trong thực tế sản xuất. Kinh nghiệm truyền thống và những cách xử lý mới vì thế cùng hiện diện, đặt ra yêu cầu nhận biết rõ đặc tính chất liệu, kỹ thuật và hướng phát triển của từng sản phẩm.

Ở Phú Vinh, Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh nhận biết tre, giang, trúc, mây qua màu sắc, độ mềm, độ cứng và cả âm thanh khi gõ. Những cảm nhận ấy được tích lũy qua thời gian tiếp xúc với vật liệu. Người học có thể tiếp cận thông số và quy trình, nhưng để lựa chọn, xử lý vật liệu thành thạo còn cần thực hành dưới sự hướng dẫn của người có kinh nghiệm.

Tại Kim Lan, Nghệ nhân Ưu tú Đào Việt Bình cho thấy một cơ sở nghề còn có thể làm men, chuẩn bị nguyên liệu và cung cấp vật tư cho những người sản xuất khác. Năng lực của một cộng đồng nghề vì vậy bao gồm cả những công việc hỗ trợ ở phía sau sản phẩm hoàn thiện. Khi một mắt xích cung ứng thay đổi, nhiều xưởng có thể cùng chịu tác động.

Ba trường hợp là những lát cắt cụ thể, chưa đủ để khái quát toàn bộ làng nghề Hà Nội. Tuy nhiên, chúng gợi rõ yêu cầu đối với các chương trình hợp tác: phát triển mẫu mã cần đi cùng hiểu biết về vật liệu, kỹ thuật và điều kiện làm nghề. Chính phần tri thức ấy quyết định một ý tưởng có thể được chế tác, sử dụng và phát triển tiếp hay không.

Khoảng cách giữa bản vẽ và vật liệu là nơi cuộc đối thoại giữa nhà thiết kế với người thợ trở nên đặc biệt cần thiết. Một đường cong đẹp trong phối cảnh có thể khó tạo hình bằng mây tre; một dáng gốm mới cần được xem xét trong tương quan với kết cấu và quá trình nung; một bề mặt sơn mài phải đi qua những công đoạn xử lý cụ thể.

Trong các cuộc trao đổi, Nghệ nhân Trần Công Dũng nhấn mạnh nhu cầu điều chỉnh ý tưởng khi đưa vào chất liệu thật. Nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh đặt việc giải quyết những thiết kế mới trong quan hệ với tỷ lệ, kết cấu và đặc tính vật liệu. Nghệ nhân Đào Việt Bình lưu ý thêm tính ổn định của sản xuất, giá thành và nhóm người sử dụng.

Từ đó, đồng sáng tạo có thể được hiểu như một quá trình cùng xác định vấn đề, thử mẫu, nhận phản hồi và điều chỉnh. Người làm nghề tham gia bằng hiểu biết về chế tác; nhà thiết kế đóng góp cách tiếp cận công năng, hình thức và nhu cầu mới. Các quyết định được hình thành qua trao đổi giúp hai bên hiểu rõ hơn giới hạn và khả năng của nhau.

Mối quan hệ ấy cũng mở rộng sang nghệ thuật. Kinh nghiệm về chất liệu có thể trở thành cơ sở cho một ngôn ngữ biểu đạt; góc nhìn của nghệ sĩ có thể khơi mở cách sử dụng kỹ thuật; sự tham gia của cộng đồng giúp tác phẩm và trải nghiệm giữ mối liên hệ với nơi chốn. Giá trị mới hình thành từ quá trình cùng làm việc, trong đó, đóng góp của người nắm tri thức nghề được nhận diện và tôn trọng.

Những con đường bước vào nghề

Truyền nghề trong gia đình giữ vai trò quan trọng ở nhiều làng nghề. Bên cạnh đó, những người đến từ bên ngoài cũng có thể trở thành lực lượng tiếp nối khi có điều kiện học hỏi và gắn bó lâu dài.

Trần Công Dũng đến với Hạ Thái sau quá trình học mỹ thuật, rồi tích lũy kinh nghiệm trong thực hành. Ở Kim Lan, Đào Việt Bình nối nghề gia đình và nhấn mạnh trách nhiệm truyền lại hiểu biết cho thế hệ sau. Với Nguyễn Văn Tĩnh, học nghề còn là quá trình trao đổi với những người có kinh nghiệm trong cộng đồng, ngay cả khi bản thân đã có nhiều năm làm nghề.

Những con đường khác nhau ấy gợi cách nhìn rộng hơn về lực lượng kế cận. Người trẻ từ các trường mỹ thuật, thiết kế, kiến trúc hoặc đào tạo nghề có thể mang theo kiến thức và nhu cầu mới. Để tham gia sâu, họ cần thời gian tìm hiểu quy tắc làm nghề, thực hành kỹ thuật và xây dựng quan hệ tin cậy với cộng đồng.

Re:Craft 2026 tạo một cơ hội tiếp xúc ban đầu như vậy. Việc đến làng, quan sát sản xuất và trao đổi trực tiếp giúp sinh viên hiểu thêm những điều mà hình ảnh hay bản vẽ khó chuyển tải đầy đủ. Cơ sở nghề cũng có thể tiếp cận các kỹ năng thiết kế, kể chuyện và công nghệ từ người trẻ.

Một chương trình ngắn ngày mới chỉ mở đầu cho quá trình học hỏi. Giá trị tiếp nối phụ thuộc vào cơ hội để người có nhu cầu được quay lại thực hành, tham gia dự án dài hơn hoặc làm việc cùng cơ sở nghề. Khi có những hình thức hợp tác phù hợp, cuộc gặp trong một trại sáng tạo có thể trở thành bước đầu của quan hệ nghề nghiệp lâu dài.

Điều này cũng đặt ra yêu cầu về sinh kế. Người học cần nhìn thấy triển vọng làm việc; người hướng dẫn cần được ghi nhận công sức; cơ sở nghề cần có điều kiện dành thời gian, vật liệu và không gian cho hoạt động đào tạo. Sự tiếp nối vì thế gắn với cả tình yêu nghề và khả năng tổ chức những điều kiện để con người sống, học và làm việc với nghề.

Công chúng tìm hiểu các sản phẩm sáng tạo lấy cảm hứng từ chất liệu và kỹ thuật của làng nghề truyền thống.

Ba trục triển khai chủ đề lễ hội

Tinh thần “Thăng Long – Kẻ Nghệ” được triển khai qua ba trục của mùa lễ hội 2026: Kinh tế sáng tạo, nghệ thuật liên ngành và đồng sáng tạo. Mỗi trục làm rõ một điều kiện để vốn văn hóa gặp thực hành đương đại và tạo ra giá trị có thể tiếp nối.

Kinh tế sáng tạo đặt ra cách tổ chức nguồn lực để ý tưởng phát triển thành tác phẩm, sản phẩm, dịch vụ và cơ hội nghề nghiệp. Một kỹ thuật có thể trở thành nền tảng cho thiết kế mới; một câu chuyện nghề có thể đi vào chương trình giáo dục hoặc trải nghiệm văn hóa. Điều cần quan tâm là những giá trị ấy được công chúng tiếp nhận ra sao, có điều kiện duy trì thế nào và đóng góp gì cho những người cùng tạo ra chúng.

Nghệ thuật liên ngành mở rộng khả năng biểu đạt bằng sự trao đổi giữa những chất liệu và phương pháp thực hành. Âm thanh, chuyển động, hình ảnh, thiết kế không gian hay công nghệ có thể cùng tham gia vào cách tiếp cận một ký ức đô thị hoặc một thực hành di sản. Những cuộc đối thoại ấy tạo cơ hội để công chúng cảm nhận Hà Nội từ các góc nhìn mới, đồng thời, giúp nghệ sĩ và người thực hành học hỏi lẫn nhau.

Đồng sáng tạo xác định cách các bên cùng tham gia vào quá trình hình thành và phát triển ý tưởng. Nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà thiết kế, người trẻ và cư dân có thể đóng góp từ việc xác định vấn đề, thử nghiệm đến lựa chọn giải pháp phù hợp. Vai trò, công sức và lợi ích của mỗi bên cần được ghi nhận để sự hợp tác có cơ sở đi tiếp.

Ba trục có thể gặp nhau trong một dự án: Quá trình làm việc chung mở ra ngôn ngữ nghệ thuật mới, kết quả sáng tạo tiếp cận công chúng, còn nguồn lực được huy động giúp những người tham gia tiếp tục thực hành. Từ đó, quan hệ “Thị – Phố – Nghề” được mở rộng trong đời sống hôm nay, nối làng nghề và phố nghề với trường đại học, studio, thiết chế văn hóa, doanh nghiệp và các nền tảng số.

Một câu chuyện từ Hạ Thái cho thấy nhu cầu kết nối ở quy mô rộng hơn xưởng nghề. Trần Công Dũng cho biết xưởng của ông đã tổ chức hoạt động trải nghiệm có thu phí cho khách quốc tế. Đồng thời, ông mong có thêm các cơ sở cùng tham gia và những điều kiện giới thiệu nghề tốt hơn. Từ trường hợp này, có thể thấy một hoạt động trải nghiệm muốn phát triển cần sự phối hợp ở nhiều khâu: Thông tin để khách tiếp cận, cách tổ chức tiếp đón, người hướng dẫn, sản phẩm phù hợp và quan hệ với các đơn vị giáo dục hoặc du lịch. Khi nhiều cơ sở cùng tham gia, việc thống nhất chất lượng và chia sẻ cơ hội cũng trở nên cần thiết.

Đó là một hướng để chuyển từ sáng kiến riêng lẻ sang năng lực hợp tác của cộng đồng. Mỗi chủ thể vẫn giữ chuyên môn và cách làm riêng, đồng thời, tìm được những phần việc có thể cùng thực hiện. Quan hệ với nghệ sĩ, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các đối tác trong nước, quốc tế có thể đem đến phương pháp, nhu cầu và cơ hội mới cho quá trình ấy.

Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 đặt những thực hành này trong định hướng xây dựng hệ sinh thái sáng tạo đô thị, được đề cập trong Kế hoạch số 333/KH-UBND về tổ chức Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội năm 2026 của UBND thành phố Hà Nội, ban hành ngày 10/12/2025. Vai trò của lễ hội có thể được phát huy qua việc tạo cơ hội gặp gỡ, hỗ trợ thử nghiệm và giới thiệu kết quả. Khả năng đi tiếp cần thêm sự đồng hành của hệ thống đào tạo, các cơ sở sản xuất, đơn vị phân phối, thiết chế văn hóa và cơ quan quản lý.

Giá trị mới cần trở lại nuôi dưỡng nguồn lực

Khi di sản tham gia vào sản phẩm và trải nghiệm mới, cần quan tâm đến cách quan hệ hợp tác được tổ chức. Ai tham gia quyết định cách sử dụng kỹ thuật, câu chuyện và hình ảnh? Công sức của nghệ nhân được ghi nhận thế nào? Cộng đồng có thêm điều kiện làm nghề và truyền nghề hay không?

Những câu hỏi này giúp cuộc thảo luận về kinh tế sáng tạo đi vào những thỏa thuận cụ thể. Một sản phẩm có triển vọng thương mại cần tính đến vai trò của người giữ tri thức, mức trả công và cách chia sẻ lợi ích. Một hoạt động giáo dục cần ghi nhận công việc hướng dẫn. Một chương trình khai thác câu chuyện làng nghề cần tôn trọng nguồn tư liệu và tiếng nói của người thực hành.

Doanh thu là một nguồn lực quan trọng, nhưng giá trị đóng góp cho cộng đồng còn có thể là kỹ năng, quan hệ hợp tác, cơ hội học nghề hoặc khả năng tiếp cận công chúng. Theo dõi những kết quả ấy giúp nhận biết sự phát triển có đang bồi đắp nền tảng của nghề hay chỉ khai thác hình ảnh bên ngoài.

Điều có thể học từ Kẻ Chợ nằm ở khả năng kết nối những nguồn lực khác nhau trong một đời sống đô thị luôn biến đổi. Tiếp nối năng lực ấy hôm nay đòi hỏi hiểu biết về di sản, sự tôn trọng người thực hành và những điều kiện để hợp tác được duy trì. Công nghệ, thiết kế và nghệ thuật có thể mở ra nhiều hướng đi, khi chúng được phát triển cùng với cộng đồng đang nắm giữ tri thức.

“Thăng Long – Kẻ Nghệ” vì thế hướng đến một Hà Nội biết nuôi dưỡng khả năng sáng tạo của con người. Chiều sâu văn hóa sẽ tiếp tục được bồi đắp khi một người trẻ tìm được nơi học, một kỹ năng có thêm cơ hội thực hành và một ý tưởng được phát triển qua những quan hệ tin cậy. Từ những lựa chọn cụ thể ấy, thành phố có thể mở rộng đời sống đương đại của di sản và tạo thêm cơ hội cho những người sẽ tiếp bước.

Nguyễn Trung Đại, Hà Kim Tuấn, Hoàng Thùy Dung, Phan Như Quỳnh, Hoàng Minh
© Tạp chí Kiến trúc