Hội Kiến trúc sư Việt Nam – Hành nghề, hội nhập và đào tạo

Một trong những chủ đề chính tại Đại hội KTS Việt Nam lần này là “Hành nghề và hội nhập”. Mặc dù cũng tham gia thiết kế, song ở cương vị là một KTS làm công tác giảng dạy, tôi xin được nói về “hành nghề đào tạo” thì sẽ “đúng người đúng việc” hơn. Hơn nữa, những nội dung trọng điểm mà Hội cần ưu tiên quan tâm trong nhiệm kỳ tới có lẽ không chỉ có vấn đề hành nghề kiến trúc, mà còn cả vấn đề phát triển tổ chức Hội và đào tạo KTS. Đây cũng chính là 3 nhiệm vụ trọng tâm, được xếp hàng đầu trong dự thảo Báo cáo của BCH Hội, tuy nhiên tôi muốn đề cập từ một góc nhìn khác để thấy được mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng.

Với 17 trường đại học có đào tạo kiến trúc (mà chắc sẽ lên đến 20), hàng năm cho “ra lò” hơn 1.000 KTS, thì chỉ trong 5 năm tới sẽ có thêm 5.000-7.000 KTS trẻ nhập cuộc, cả nước sẽ có 20.000-22.000 KTS, tăng gấp rưỡi so với hiện nay. Khi đó để giữ được tỷ lệ hội viên ở mức 25%, sẽ phải kết nạp thêm gần 2000 hội viên mới. Nhưng liệu tỷ lệ 25% hội viên có đủ đảm bảo được vị thế của Hội ngay trong giới kiến trúc không? Nếu đó là những KTS có năng lực, chủ trì / chủ nhiệm đồ án thì thực sự là may mắn. Điều quan trọng là vừa quy tụ được những KTS đầu đàn, đồng thời tìm được những hình thức mới để “phủ sóng” tầm ảnh hưởng của Hội đối với 75% KTS còn lại không phải là hội viên, để mỗi KTS đều thấy được vai trò quan trọng của Hội trong hoạt động nghề nghiệp. Trong bối cảnh đội ngũ KTS sẽ có sự tăng trưởng đột biến về số lượng, Hội phải xác định được một đường lối phát triển thích hợp, có những đổi mới về cách thức và biện pháp hoạt động để củng cố, mở rộng tầm ảnh hưởng và khẳng định tiếng nói của mình (và cũng là của giới kiến trúc) trong các lĩnh vực liên quan đến chuyên môn, hướng tới những đối tượng hành nghề khác nhau (như tổ chức Câu lạc bộ KTS trẻ, thành lập một Ủy ban chuyên môn có chức năng giám sát, cấp chứng chỉ hành nghề, Chủ nhiệm dự án; hay một Hiệp hội KTS nhà nghề; một Hội đồng Lý luận – Phê bình kiến trúc,..). Được xác định là “tổ chức chính trị – xã hội và nghề nghiệp”, lâu nay Hội đã làm tốt vai trò một tổ chức chính trị, nay cần phát huy vai trò một tổ chức xã hội và tăng cường vai trò là tổ chức nghề nghiệp. Việc triển khai các hình thức hoạt động nói trên sẽ đóng góp tích cực cho sự chuyên nghiệp hóa về phương diện nghề nghiệp, đồng thời đa dạng hóa hoạt động, đa dạng hóa thành phần trên phương diện xã hội. Nhưng trước hết, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội và các tổ chức dưới Hội này cần được thống nhất thể chế hóa bằng những văn bản pháp lý, ít nhất là bởi Điều lệ Hội, hơn nữa là bởi một Pháp lệnh, và tốt nhất là bởi một bộ Luật về Kiến trúc.

Bộ luật này không chỉ là Luật KTS, mà nên là và cần phải là Luật Kiến trúc, vì đối tượng và phạm vi điều chỉnh của nó không chỉ là hoạt động của các KTS (chiếm chưa tới 0,3% dân số), mà là cả ngành Kiến trúc nói chung như một lĩnh vực hoạt động kinh tế – xã hội, góp phần quyết định vào sự hình thành diện mạo văn hóa của đất nước. Bản chất kiến trúc là một nghệ thuật tổ chức, người KTS là đầu mối tổ chức, nhưng lại bị chi phối bởi nhiều yếu tố / nhiều đối tượng, phải dung hòa nhiều lợi ích, chịu nhiều sự ràng buộc, nếu không có một hành lang pháp lý thì không thể hoàn thành trọng trách của mình. Hoạt động tư vấn thiết kế cũng liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, chịu sự điều chỉnh của những luật và quy định dưới luật khác nhau. Hệ thống pháp lý này có vẻ chặt chẽ nhưng thực chất mới nhằm đảm bảo sự an toàn cho các cấp quản lý, mà chưa đề cập hết những vấn đề đặc thù của nghề kiến trúc, hoặc có sự chồng lấn lẫn nhau trong các lĩnh vực liên ngành, nên thường bị vận dụng vì những lợi ích cục bộ. Trên thực tế thì phần rủi ro, thế bị động và bất lợi luôn bị đẩy sang phía người thiết kế, cho nên các KTS thường phải thỏa hiệp (thậm chí bỏ cuộc giữa chừng) vì quyền lợi của mình không những đã không được đảm bảo mà lại phải đảm nhận thêm những trách nhiệm ngoài chuyên môn, thiết kế phí đã rẻ mạt mà vẫn phải gánh chịu thêm đủ loại chi phí, luôn bị ép giá, ép tiến độ và ép cả ý đồ. Về vấn đề này, chắc các KTS làm tư vấn thiết kế đều rõ hơn ai hết.

  Một giờ học thiết kế nhanh

Trong bối cảnh đó, Luật Kiến trúc sẽ quy định, điều chỉnh việc hành nghề kiến trúc và các quan hệ, cơ chế, chính sách liên quan (kể cả vấn đề sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và đào tạo KTS) theo hướng chuyên nghiệp hóa phù hợp với các đặc thù của ngành nghề và với thông lệ quốc tế, thể chế hóa chức năng, nhiệm vụ của Hội KTS (là tổ chức chính trị – xã hội) và các thể chế dưới Hội (Ủy ban chuyên môn / Hiệp hội / Đoàn KTS – tổ chức nghề nghiệp). Luật Kiến trúc sẽ là căn cứ pháp lý khẳng định vai trò và cơ chế phối hợp giữa Hội KTS với các Bộ, ngành liên quan trong việc chuẩn hóa môi trường hành nghề kiến trúc và kiểm định chất lượng đào tạo KTS; đồng thời cũng là công cụ điều tiết quyền lợi và trách nhiệm của người KTS trong các lĩnh vực hoạt động và quan hệ nghề nghiệp, đặc biệt là đảm bảo vị thế công bằng, bình đẳng của KTS Việt Nam trong các tình huống hội nhập, hợp tác quốc tế.

Như vậy, việc tham gia xây dựng và vận động để thông qua được Luật Kiến trúc cần được xem là một mục tiêu chiến lược, tác động đến nhiều lĩnh vực hoạt động của Hội. Tuy nhiên, giới KTS bị hạn chế là không có cơ quan chuyên trách ngành kiến trúc làm đầu mối ở cấp Nhà nước, Chính phủ, mà phần lớn nhân lực và hoạt động lại do Bộ Xây dựng quản lý theo ngành dọc, nên việc tăng cường chức năng cho Hội gặp nhiều lực cản vì thực chất là san sẻ bớt quyền hạn của Bộ Xây dựng. Do đó đây là một nhiệm vụ lâu dài, chắc chắn không thể hoàn thành ngay trong nhiệm kỳ tới, mà cần có một lộ trình khéo léo và hợp lý để tranh thủ được sự ủng hộ của các cơ quan các cấp. Trước mắt, trong khi chờ sự quyết đáp chính thức về đề án “Sự cần thiết phải xây dựng Luật Kiến trúc”, Hội nên chủ động nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ thực hiện thí điểm một số biện pháp theo hướng này nhằm từng bước nâng cao chất lượng kiến trúc, tăng cường hiệu quả tư vấn phản biện xã hội, cải thiện môi trường và cơ chế hành nghề tư vấn thiết kế.

Mặt khác, Hội cũng cần sớm có tác động để điều tiết và kiểm soát chất lượng của hoạt động đào tạo KTS. Hiện nay dự thảo báo cáo của BCH Hội về lĩnh vực đào tạo mới chỉ nói đến việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho KTS trẻ, mà không đề cập đến việc đào tạo KTS trong nhà trường là một thiếu sót lớn. Vì muốn chuẩn hóa việc hành nghề và chuyên nghiệp hóa để hội nhập thì chúng ta phải bắt đầu ngay từ giai đoạn đào tạo. Thực tế cho thấy, ngay cả lực lượng được xem là “chuyên nghiệp” nhất, được rèn luyện nhất của những đơn vị tư vấn “đầu bảng” như VNCC hay CDC khi tham gia các dự án lớn hợp tác với tư vấn nước ngoài cũng chỉ đóng vai trò thể hiện lại hồ sơ một cách thụ động. Nhìn lại các cuộc giao lưu, hợp tác trong đào tạo thì thấy sinh viên Việt Nam (được tuyển chọn) không thua kém sinh viên các nước về khả năng, thậm chí còn trội hơn về tay vẽ. Nhưng đến khi ra trường thì lại tụt hậu vì hầu hết chỉ chú trọng kỹ năng kỹ xảo mà không phát triển được tư duy logic và phương pháp luận sáng tạo. Lâu nay Hội vẫn chủ trì tổ chức Festival sinh viên kiến trúc và trao giải Loa thành cho đồ án tốt nghiệp xuất sắc. Nhưng như vậy mới chỉ là “vuốt ve” phần ngọn, hình thức, mà chưa đụng đến phần gốc, bản chất. Để tồn tại và phát triển được trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế, đào tạo KTS phải lấy chất lượng là tiêu chí hàng đầu, phát triển theo hướng tinh hóa và quốc tế hóa.

Trước sự “bùng nổ” tới 17-20 trường có ngành Kiến trúc, mỗi năm có thêm 1.000-1.500 KTS mới vào nghề, thiết nghĩ hoạt động đào tạo phải có được sự định hướng mang tính chiến lược của Hội KTS với tư cách là tổ chức cao nhất về nghề nghiệp. Trước hết là định hướng đào tạo KTS phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước, đón trước những vấn đề đã được dự báo, được đưa vào các chương trình quốc gia (như phát triển bền vững, tiết kiệm năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu, bản địa hóa,.. Hiện chưa thấy trường nào đi thẳng vào những vấn đề này). Tình trạng “lạm phát” các trường kiến trúc hiện nay là hệ quả từ việc thực hiện chủ trương “đào tạo theo nhu cầu xã hội” của Bộ GD-ĐT nhưng thiếu sự giám sát. Mặt khác việc xác định, dự báo “nhu cầu xã hội” trong các lĩnh vực chuyên ngành cũng có nhiều lệch lạc, phiến diện (thậm chí chuyển thành “xã hội hóa” – đào tạo theo nhu cầu của người trả tiền). Thứ hai là định hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu về nhân lực của ngành (đa dạng hóa sản phẩm bằng cách phân luồng theo các chuyên ngành và ph©n cấp theo trình độ), đào tạo đúng với bản chất và đặc thù của nghề nghiệp (kÕt h#p gi¶ng d¹y ®¹i h#c víi truyÒn nghÒ trùc tiÕp, cân đối giữa các yếu tố kỹ thuật – vật liệu và tư tưởng – nghệ thuật). Những bất cập lớn hiện nay là: việc xóa bỏ hệ trung cấp kiến trúc dẫn đến tình trạng khủng hoảng thiếu nhân lực triển khai thiết kế mà không có nguồn thay thế; Kiến trúc bị áp mã ngành kỹ thuật nên cấu trúc và nội dung ch­¬ng tr×nh mất cân đối, sinh viên nhận thức sai lệch về nghề; KTS ra trường nhưng “chân không đến đất, cật chẳng đến giời”, phải mất thời gian để phân hóa và đào tạo lại qua thực tế;… Thứ ba về định hướng về quản lý chất lượng, Hội cần quan hệ thường xuyên và chặt chẽ với Bộ GD-ĐT để thực hiện việc kiểm định chất lượng đào tạo của các trường. Mặc dù chất lượng đào tạo phụ thuộc phần lớn vào nội lực của mỗi trường, song Hội cần đóng vai trò cầm trịch, đặt ra những yêu cầu về chuyên môn (chuẩn đầu ra đối với KTS để có thể hành nghề và hội nhập), xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng (từ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất cho đến chất lượng cụ thể của từng năm học) và xây dựng quy trình thực hiện (đảm bảo chất lượng tuyển sinh đầu vào, đánh giá và quản lý chất lượng trong suốt quá trình đào tạo cho đến đầu ra), trên cơ sở đó sẽ phân định phạm vi và cấp độ của từng đơn vị, tránh để tình trạng các trường, các địa phương chạy theo số lượng mà không đảm bảo được chất lượng.

Cuối cùng, hoạt động đào tạo của các trường thường xuyên phải huy động tới 350-400 giảng viên là KTS, chiếm một tỷ trọng hội viên không nhỏ (7-10%). Vì vậy, nếu Hội đã xác định đào tạo là một vấn đề thực sự quan trọng thì cần có sự quan tâm thích đáng đến đối tượng là các nhà giáo KTS (mà lâu nay vẫn bị lãng quên).

Triết lý đào tạo KTS trong thời kỳ đổi mới.

Vai trò của Kiến trúc là một thành tố văn hóa cơ bản, do con người tạo ra và vì con người mà phục vụ; là môi trường vật thể kết nối hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân văn. Bản chất của Kiến trúc là một Nghệ thuật tổ chức – tạo ra một thực thể thống nhất từ các yếu tố đối lập, đa thành phần, đa nguồn gốc, thể hiện bản tính “phức hợp và mâu thuẫn” như chính tự nhiên và xã hội. Cơ chế của Kiến trúc là phối hợp tư duy sáng tạo với thẩm mỹ nghệ thuật và logic kỹ thuật, dựa trên các quy luật của tự nhiên và các định luật khoa học. Sứ mệnh của Kiến trúc là đón trước động thái của xã hội về mặt tinh thần và đi trước một bước để tạo dựng cơ sở vật chất đáp ứng sự biến chuyển sẽ diễn ra trên diện rộng.

Sinh viên ĐH Kiến trúc

Nước ta đang trong thời kỳ quá độ, hệ thống các chuẩn giá trị cũ đang được chuyển hóa, các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội đang trong quá trình phủ định biện chứng để đổi mới. Trong bối cảnh đó, người KTS cần được trang bị những vũ khí “vạn năng” là phương pháp luận nhận thức (để nắm được các quy luật biến đổi) và tư duy biện chứng (để hành động phù hợp với hoàn cảnh) thì mới có thể “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Tuy không biết sẽ kéo dài bao lâu và cũng chưa thể thấy ngay đích đến cuối cùng, nhưng có thể nhận định xu thế chung là tích hợp đa phương diện để phát triển bền vững (hiện đại hóa đi đôi với nhân văn hóa, toàn cầu hóa đi đôi với bản địa hóa). Vì vậy, đào tạo KTS phải chủ động tiếp cận và nắm bắt những công cụ quốc tế hóa, hiện đại hóa để sử dụng cho mục đích thể hiện rõ các giá trị nhân văn và bản địa trong kiến trúc

TS.KTS Nguyễn Trí Thành