Nhìn nhận về vai trò của kiến trúc trong phát triển công nghiệp văn hoá tại Việt Nam

I. Vai trò của kiến trúc trong công nghiệp văn hoá trên thế giới

1. Vai trò tổng quát

Mọi quốc gia phát triển với nền văn hoá bản địa sâu sắc và lâu đời trên thế giới, đều cho thấy rằng: “Kiến trúc là một ngành văn hoá, và mang nhiều ý nghĩa hơn trong khía cạnh văn hoá vật thể. Kiến trúc đóng vai trò là hạt nhân tổ chức không gian và là một ngành công nghiệp sáng tạo độc lập, tạo nền móng vật chất và hồn cốt cho sự phát triển của công nghiệp văn hoá”.

Chuyển đổi từ di sản công nghiệp thành không gian hoạt động công nghiệp văn hóa tại Tây Ban Nha (Nguồn: Tác giả)

Tổ chức văn hoá giáo dục liên hiệp quốc UNESCO đánh giá vai trò kiến trúc trong văn hoá thông qua các giá trị nổi bật toàn cầu (Outstading Universai Value – OUV) trong hệ thống di sản thế giới, cũng như các chương trình vinh danh chuyên ngành như thủ đô Kiến trúc thế giới, công trình kiến trúc di sản (chương trình hợp tác cùng liên minh kiến trúc sư quốc tế UIA). Từ đó, UNESCO đánh giá các khía cạnh chính, bao gồm:

1.1. Tiêu chí di sản văn hoá liên quan đến kiến trúc

  • (i) Kiệt tác sáng tạo của con người: Tiêu chí di sản văn hoá liên quan đến kiến trúc: Công trình kiến trúc thể hiện thành tựu về tài năng sáng tạo tuyệt đỉnh của của con người;
  • (ii) Sự giao lưu giá trị: Thể hiện sự trao đổi quan trọngcác giá trị trong một khoảng thời gian hoặc trong một khu vực văn hoá cử thế giới về phát triển kiến trúc, công nghệ, quy hoạch thành phố, nông thôn hoặc thiết kế cảnh quan, thiết kế đô thị;
  • (iii) Bằng chứng độc đáo về truyền thống văn hoá: Là bằng chứng độc đáo hoặc duy nhất về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh đang tồn tại hoặc đã biến mất;
  • (iv) Quần thể kiến trúc hoặc cảnh quan tiêu biểu: Là một ví dụ nổi bật về một lại hình công trình xây dựng, một quần thể kiến trúc, công nghệ hay cảnh quan minh hoạ cho một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử nhân loại (ví dụ: Vạn lý trường thành, đền Parthenon, tháp Eiffel…);
  • (v) Định cư con người hoặc sử dụng nơi chốn truyền thống: là một ví dụ nổi bật về định cư truyền thống của con người, việc sử dụng nơi chốn vật thể đại diện cho mộ hoặc nhiều nền văn hoá, đặc biệt khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới những tác động không thể đảo ngược.

1.2. Vai trò thúc đẩy phát triển bền vững và bản sắc

  • (i) Gắn kết xã hội và phục hồi: UNESCO xem kiến trúc và không gian văn hoá là nền tảng tạo nên sự ổn định, phẩm giá, bản sắc và khả năng phục hồi cho cộng đồng, đặc biệt trongbối cảnh khủng hoảng hay đô thị hoá;
  • (ii) Tôn trọng vật liệu và môi trường bản địa: Nhấn mạnh vai trò kiến trúc trong việc tạo ra môi trường sống thích ứng từ nguồn tài nguyên sẵn có;
  • (iii) Thiết lập Thủ đô kiến trúc thế giới trong từng thời gian: Nhằm làm nổi bật vai trò của kiến trúc, quy hoạch đô thị trong việc định hình văn hoá, giải quyết các thách thức toàn cầu về phát triển bền vững.

Cung điện Hoàng Gia Tây Ban Nha kết hợp vẫn sử dụng cho nhà Vua, đồng thời cho phép khai thác tham quan theo tinh thần di sản văn hóa

2. Vai trò kiến trúc trong phát triển công nghiệp văn hoá:

2.1. Xác lập các ngành công nghiệp văn hoá của UNESCO [1]

  • Các ngành chính trong hệ sinh thái công nghiệp văn hoá (Cultural Industries): Được UNESCO định nghĩa đó là những ngành kết hợp giữa sáng tạo, sản xuất và khai thác nội dung mang tính văn hoá hoặc phi vật thể, được bảo vệ bởi luật quyền tác giả dưới dạng các sản phẩm hoặc dịch vụ thương mại;
  • Các ngành chính Công nghiệp Văn hoá bao gồm: Di sản văn hoá (bao gồm di sản vật thể, bảo tàng, di tích); Lưu trữ và thư viện; âm thanh và ghi âm; Nghệ thuật thị giác (hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh); Nghệ thuật biểu diễn (sân khấu, múa, ca nhạc, kịch…); Nghe nhìn và đa phương tiện/điện ảnh (phim ảnh, truyền hình, phát thanh, trò chơi điện tử và giải trí kỹ thuật số); kiến trúc; quảng cáo; thiết kế (thiết kế thời trang, thiết kế đồ hoa, thiết kế công nghiệp…); thủ công mỹ nghệ và đồ cổ.

2.2. Vai trò kiến trúc trong phát triển công nghiệp văn hoá toàn cầu

Vai trò tổng quát: Theo quan điểm của UNESCO và các khung chính sách văn hoá toàn cầu, kiến trúc không đơn thuần là hoạt động kỹ thuật xây dựng cơ sở vật chất, mà được xác định là một ngành công hgiệp văn hoá sáng tạo có giá trị kinh tế xã hộ và biểu tượng sâu sắc; [2]

Vai trò kiến trúc cụ thể trong phát triển công nghiệp văn hoá trên toàn cầu được thể hiện qua các trong tâm sau:

  • (i). Là biểu tượng và bản sắc nhận diện: Kiến trúc tạo ra hình ảnh nhận diện độc đáo cho các đô thị, vùng miền hoặc cả một quốc gia; những công trình kiến trúc mạng tính biểu tượng giúp định vị thương hiệu địa phương trên bản đồ dụ lịch và thương mại toàn cầu; bản sắc văn hoá không thể chỉ lưu truyền, truyền tải qua khẩu hiệu, mà phải được hiện thực hoá qua không gian, cảnh quan và ngôn ngữ kiến trúc;
  • (ii). Kiến tạo hệ sinh thái không gian cho sáng tạo: Kiến trúc thiết lập môi trường vật lý để các ngành công nghiệp văn hoá khác (như nghệ thuật biểu diễn, triển lãm, thiết kế, điện ảnh, âm nhạc) có thể sinh hoạt và phát triển, đồng thời góp phần tạo môi cảnh cho sáng tạo nảy nở; Việc cải tạo, chuyển đổi công năng các di sản công nghiệp cũ, nhà xưởng hoặc khu phố cổ, nhà cổ thành các không gian sáng tạo (creative hubs), bảo tàng, phòng trưng bày, hặc phố đi bộ giúp kết nối cộng đồng và kích thích kinh tế phát triển cho mô hình du lịch,trải nghiệm, dịch vụ…;[3]
  • (iii). Động lực kinh tế và giá trị gia tăng cao: Trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá, các ngành trong đó có kiến trúc trực tiếp đóng góp vào GDP, tạo việc làm và thúc đẩy thương mại dịch vụ văn hoá [4]; kiến trúc gắn liền với du lịch văn hoá – một trong những nguồn thu lớn nhất của kinh tế sáng tạo, biến các di sản và công trình kiến trúc thành tài sản chiến lược trong cạnh tranh quốc gia;
  • (iv). Giao thoa giá trị và bảo tồn bền vững: Theo tiêu chí của UNESCO thể hiện trong công ước về bảo vệ di sản thế giới, kiến trúc thể hiện sự giao thoa giá trị nhân văn qua các thời kỳ lịch sử, kỹ thuật công nghệ và quy hoạch đô thị [5]; Phát triển kiến trúc trong công nghiệp văn hoá song hành với nguyên tắc “bảo tồn kết hợp phát triển bền vững”. Từ đó giữ gìn giá trị lịch sử – văn hoá gốc, nhưng vẫn thích ứng linh hoạt với nhu cầu kinh tế – xã hội hiện đại.

Sân vận động Real Madrid cho phép khai thác du lịch văn hóa trong thời gian vẫn vận hành hoạt động

II. Hiệu quả về vai trò kiến trúc với công nghiệp văn hoá trên thế giới

Trên thế giới, việc xác định đúng và thực hiện vận hành, phát huy vai trò kiến trúc trong phát triển công nghiệp văn hoá như là một hệ sinh thái đồng bộ đã mang đến hiệu quả vô cùng to lớn. Nội dung này thậm chí đã được thể hiện rõ bằng số liệu cụ thể, rất nhiều quốc gia đã đạt đến mức 2 con số trong đóng góp cho GDP mỗi nước. Một số tham chiếu sau đây có thể chứng minh điều đó.

1. Tại Vương quốc Anh:

Kiến trúc giữ một vai trò trụ cột và là một trong những tiểu ngành chính thức thuộc khối công nghiệp và sáng tạo văn hoá. Sự thúc đẩy này thể hiện cụ thể ở những khía cạnh cụ thể sau[6]:

  • Đóng góp trực tiếp vào kinh tế và việc làm: theo thống kê của Chính phủ Anh và thư viện Quốc hội Anh, kiến trúc là một phân ngành có tỉ lệ doanh thu cao (khoảng 28%) và đóng góp hàng tỷ bảng anh vào tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế sáng tạo quốc gia; Là ngành thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao với mức thu nhập trung bình vượt trội so với mức chung của cả nước;
  • Tái tạo đô thị và cấu trúc văn hoá: Kiến trúc tại Anh không chỉ đơn thuần là hoạt động xây dựng cơ bản, mà là cầu nối tạo ra hạ tầng văn hoá; Các dự án chuyển đổi không gian công nghiệp cũ thành các trung tâm sáng tạo, bảo tàng, phòng trưng bày hoặc các khu phức hợp nhà ở (ví dụ điển hình như khu phức hợp Barbican Estate hoặc các dự án tái thiết khu vực phía đông London) đã biến kiến trúc thành động lực thu hút du khách và sinh kế cộng đồng. Các không gian truyền thống được chuyển đổi công năng hoặc các không gian mới được tạo ra theo chức năng yêu cầu riêng và yêu cầu kết hợp trong hệ sinh thái;
  • Nền tảng của sức mạnh mềm: Anh được nhìn nhận là “sân khấu” cho nền kiến trúc thế giới, nơi có các công ty kiến trúc hàng đầu quốc tế đặt trụ sở tại đây và xuất khẩu chất xám ra toàn cầu, trong đó có Việt Nam; Các công trình mang tính biểu tượng lịch sử kết hợp với tư duy thiết kế hiện đại, bền vững (điển hình như các công trình đạt giải thướng Stirling Prize) định hình hình ảnh nước Anh đóng vai trò như một trung tâm đổi mới sáng tạo toàn cầu, có sức ảnh hưởng kết nối văn hoá rất lớn;
  • Tích hợp liên ngành và đổi mới nghiên cứu: Kiến trúc gắn chặt chẽ với nghệ thuật thị giác, thiết kế thời trang và công nghệ số; Các văn phòng kiến trúc tại Anh thường xuyên hợp tác với nghệ sĩ, nhà thiết kế và các nhà khoa học để phát triển giải pháp kinh tế tuần hoàn, vật liệu xanh và ứng phó biến đổi khí hậu.

2. Tại Trung quốc:

Kiến trúc đóng vai trò là nền tảng vật chất, biểu thượng văn hoá và “chất xúc tác” kinh tế cốt lõi trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá và sáng tạo tại đây. Có thể thấy trọng tâm vai trò là:

  • Làm nền tảng không gian và cơ sở hạ tầng cho sáng tạo: Tái thiết nhà xưởng và khu công nghiệp cũ. Ngay từ cuối thế kỷ 20, Trung Quốc đã đẩy mạnh việc chuyển đổi các nhà máy, khu công nhgiệp cũ thành các khu/trung tâm công nghiệp văn hoá sáng tạo (tiêu biểu có thể thấy là khu 798 ở Bắc Kinh chẳng hạn). Kiến trúc giúp giữ lại ký ức công nghiệp, nhưng khoác lên lớp áo mới hiện đại, phục vụ triển lãm, studio, quán cà phê, không gian khởi nghiệp; Tạo không gian cho các ngành nghệ thuật khác thăng hoa: Kiến tạo ra các đia điểm vật lý đạt chuẩn để các sự kiện biểu diễn, điẹn ảnh, bảo tàng, thiết kế và thời trang hoạt động;
  • Biểu tượng bản sắc và sức mạnh mềm quốc gia: Giao thoa truyền thống và hiện đại: kiến trúc đương đại Trung quốc thường được vận dụng triết lý phương Đông kết hợp công nghệ mới, biến các công trình thành biểu tượng thị giác thu hút khách du lịch và lan toả tinh thần văn hoá tiếp nối của quốc gia với hình ảnh là một đất nước luôn tìm hướng đột phát phát triển; khai thác “ngữ pháp không gian di sản”: Áp dụng tư duy “đô thị hoá định hướng di sản”, kết hợp giữa việc bảo tồn các kỳ quan lịch sử, với quy hoạch đô thị xung quanh, để biến di tích thành thương hiệu văn hoá có giá trị thương mại cao, sức lan toả lớn;
  • Động lực kinh tế và đô thị hoá: Khuếch đại giá trị kinh tế: ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc đóng góp doanh thu rất lớn(đạt hơn 7.100 tỷ NDT trong chỉ nửa đầu năm 2025 là một ví dụ), trong đó các công trình kiến trúc biểu tượng và quần thể du lịch văn hoá là điểm “neo”, kéo theo dịch vụ thương mại và bất động sản sáng tạo; Lấy con người và chất lượng sống làm trung tâm: Tư duy phát triển kiến trúc tại Trung Quốc dần chuyển dịch từ việc chỉ xây dựng công trình sang kiến tạo không gian sống, lấy văn hoá làm nền tảng và sinh thái làm giới hạn để đảm bảo sự phát triển bền vững thay vì thương mại hoá thuần tuý.

3. Tại Hàn Quốc:

Kiến trúc đóng vai trò là “hạ tầng mềm” và không gian vật chất cốt lõi giúp tái sinh đô thị, tạo dung bản sắc thương hiệu và thúc đẩy các ngành công nghiệp sáng tạo tại Hàn Quốc. Các vai trò chính của kiến trúc trong công nghiệp văn hoá Hàn Quôc có thể khái lược chính:

  • Tái chế và chuyển đổi không gian công nghiệp cũ thành trung tâm sáng tạo: Hà Quốc rất thành công trong việc biến các nhà máy, xưởng cơ khí hoặc kho bãi cũ thành các khu phức hợp văn hoá, nghệ thuật và thiết kế; Có thể thấy tiêu biểu cho loại hình này là khu Seong-dong, nơi các xưởng công hgiệp cũ được giữ lại các choi tiết kiến trúc đặc trưng và chuyển đổi thành quán cà phê, studio thời trang, phòng trưng bày nghệ thuật, vừa bảo tồn được ký ức lịch sử, vừa tạo ra nguồn thu kinh tế và du lịch cho địa phương;
  • Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để tạo biểu tượng quốc gia: kiến trúc Hàn Quốc kết hợp hài hoà giữa các cung điện, đền đài lịch sử với các công trình hiện đại, ứng dụng công nghệ cao; sự giao thoa này tạo ra điểm du lịch biểu tượng, thu hút khách quốc tế và trực tiếp hỗ trợ, quảng bá hình ảnh văn hoá Hàn Quốc ra thế giới;
  • Làm bệ đỡ không gian cho các ngành công nghiệp sáng tạo (K-pop, thiết kế, thời trang): Các công trình kiến trúc hiện đại, độc đáo (như Dongdaemun Design plaza-DDP chẳng hạn) trở thành “sân khấu” hoặc nơi tổ chức các tuần lễ thời trang Seoul, triển lãm thiết kế, và sự kiện văn hoá lớn của thành phố và quốc gia; không gian kiến trúc sáng tạo giúp kích thích tư duy của nghệ sĩ, nhà thiết kế và cộng đồng khởi nghiệp;
  • Thúc đẩy phát triển bền vững và sức mạnh mềm: Kiến trúc được xem là phương tiện phản ánh trào lưu xã hội và nâng cao đời sống tinh thần cho người dân; Việc đầu tư vào thiết kế kiến trúc thông minh, thân thiện với môi trường giúp gia tăng giá trị gia tăng cho các sản phẩm văn hoá và củng cố vị thế kinh tế của ngành công nghiệp văn hoá (hiện đóng góp hàng chục tỷ USD mỗi năm cho GDP Hàn Quốc).

III. Các vai trò cụ thể và cốt lõi có thể ứng dụng tại Việt Nam

1. Không gian di sản văn hoá truyền thống trở thành tài sản khởi phát

Làm thế nào để bản sắc văn hoá từ các di sản truyền thống không chỉ được bảo tồn, mà thực sự trở thành tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo cho hệ sinh thái công nghiệp văn hoá. Từ đó, tạo ra dòng kinh tế tuần hoàn. Đây là một bài toán mà trong chặng phát triển vừa qua, dù đã có manh nha, nhưng chúng ta mới khaithác được một phần rất nhỏ tiềm năng ở mọi vùng miền Việt Nam. Một trong những điểm nghẽn chính là về mặt kiến trúc, chúng ta mới thụ động bảo tồn mà chưa thực đưa ra bài toán phát huy và tiếp biến hiệu quả.

Triển khai đường lối chủ trương của Đảng trong phát triển Văn hóa & công nghiệp văn hóa tại Việt Nam (nguồn TTXVN)

Tất nhiên, chúng ta cũng cần tiếp cận mới theo hướng: Di sản phải được giải mã, đừng chỉ sao chép hình thức. Điều đáng kế thừa ở di sản không nằm ở mái ngói, đầu đao hay hoạ tiết trang trí, mà nằm sâu hơn trong cách người xưa tổ chức không gian và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, cộng đồng [7]. Muốn làm điều đó thì phải có kiến trúc tiếp cận và giải quyết vấn đề đúng. Kiến trúc lúc đó phải chắt lọc 3 hướng chuyển hoá vào đương đại nếu muốn thành công: (i) Xác lập cấu trúc trục (không gian tổ chức theo lớp lang, thứ bậc – từ công cộng, qua khoảng đệm, riêng tư, tĩnh tại); (ii) Trật tự mô – đun (các khối chức năng theo hệ lưới thống nhất, kết nối bằng hành lang mở, sân trong, vừa liên kế cộng đồng vừa thích ứng khí hậu; (iii) Kịch bản trải nghiệm và tương tác để di sản không chỉ có ý nghĩa vật thể mà còn mang tinh thần phi vật thể tức là kể câu chuyện của riêng nó gắn với xã hội [8].

Để đáp ứng phát triển công nghiệp văn hoá, về mặt này ở cấp đô thị cần “đô thị hoá định hướng di sản” mở rộng qua 3 cấp: Bảo vệ hướng nhìn, đường chân trời di sản ở cấp vùng; Tạo khoảng mở, sân trong, hành lang kết nối ở cấp đô thị; Xây dựng, trải nghiệm không gian đủ khác biệt ở cấp kiến trúc[9].

  • Từ tri thức, di sản văn hoá đến sản phẩm thị trường làm thế nào để những giá trị di sản được giải mã bước ra khỏi nghiên cứu, trở thành sản phẩm và thực sự tham gia vào thị trường, đây là một bài toán lớn mà sáng tạo kiến trúc, với vai trò là một nội dung cần triển khai của phát triển công nghiệp văn hoá phải giải. Mức độ thành công của lời giải sẽ đưa đến đóng góp theo cấp độ nào cho phát triển hệ sinh thái chung. Kiến trúc cũng tránh biến di sản thành những phim trường để khai thác, cách làm thuần tuý đó cũng là một thất bại.
  • Cần chú trọng để giá trị văn hoá không thua trong bài toán kinh tế đầu tư. Bởi vì, khi không lượng hoá được, những giá trị văn hoá rất dễ hi sinh khi đặt cạnh bài toán hiệu quả kinh tế. Vì vậy, cần cơ chế, giải pháp để những giá trị tưởng như vô hình của di sản được ghi nhận và tiếp biến, phát huy thành những tiêu chí, hình hài cụ thể trong quá trình hình thành và triển khai, vận hành dự án, mà điều này vai trò của kiến trúc chính là phần giải pháp cụ thể.
  • Làng nghề, phố cổ, làng cũ… lại cần một cách tiếp cận khác trong phát triển công nghiệp văn hoá. ở đó, sau khi hình thành ý tưởng, kiến trúc chính là đóng vai trò “khai bút” vớ cách làm linh hoạt. Có thể là chỉnh trang lại di sản hiện có để thích ứng với một đời sống hoạt động mới, có khả năng thành “hàng hoá công nghiệp”, hoặc có thể cấy xen, xâu chuỗi phù hợp cho hệ sinh thái phát huy từ truyền thống, từ đó tạo nguồn sống để duy trì và phát triển, cũng như đóng góp GDP cùng hệ sinh thái công nghiệp văn hoá. Tất cả những nội dụng này cũng cần kiến trúc là bước kiến tạo thành hình hài cụ thể, đóng góp nền tảng để giữ vững bảo tồn bản sắc khi phát triển.

2. Tái thiết, chuyển đổi thích ứng di sản công nghiệp, công trình, tổ hợp

Biến không gian cũ thành trung tâm sáng tạo: Kiến trúc sư sử dụng chiến lược tái sử dụng thích ứng để biến các nhà máy cũ, bến cảng, kho tàng lịch sử, khu làm việc dư thừa… thành các bảo tàng, phòng trưng bày, hay tổ hợp văn hoá sáng tạo, mà không phát bỏ hoặc xây mới để tránh lãng phí, quá tải.

Các công trình Kiến trúc Việt Nam đang phát huy tốt trong phát triển Công nghiệp văn hóa (Ảnh: tác giả & nguồn internet)

Tại các thành phố lớn Việt Nam, di sản công nghiệp để lại là vô cùng lớn, trong thể trạng các khu công nghiệp thời kỳ đầu quy hoạch có rất nhiều nhà máy, xí nghiệp, cụm công nghiệp nằm trong nội thị, có thể nói điều này là phổ biến ở tất cả các đô thị Việt Nam có khu công nghiệp hiện nay. Trong khi đó, theo chủ trương chuyển đổi trong thời kỳ quá độ vừa qua, cách tiếp cận và giải pháp vấn đề thường là khi các khu công nghiệp này chuyển ra khỏi thành phố, khu đất cũ tiến hành tái cấu trúc sẽ được dùng làm quỹ đất xây dựng các khu nhà ở thương mại, khu văn phòng cao tầng theo hình thức đổi đất lấy hạ tầng. Cách làm này đã xuất hiện hệ luỵ nặng nề là tăng dân số cơ học tập trung tại các điểm tái cấu trúc này làm quá tải hạ tầng khu vực, có nơi là khá nghiêm trọng.

Hiện nay, theo cách tiếp cận mới từ bài học thành công của các quốc gia phát triển trên thế giới, Việt Nam đã có chính sách tái cấu trúc di sản công nghiệp ưu tiên cho các chức năng công cộng, đặc biệt là hình thành các không gian cho hệ sinh thái công nghiệp văn hoá khai thác. Điều này, tạo ra một cơ hội lớn cho các đô thị Việt Nam phát triển bền vững theo hướng cân bằng hệ sinh thái đáp ứng phát triển kinh tế – xã hôị – văn hoá – môi trường bằng hiệu quả thực sự cho từng lĩnh vực. Vấn đề đặt ra là cần phải có một tổ chức nào đủ tầm hiểu sâu kỹ, có khả năng đề xuất kiến tạo, để được giao chủ động quy hoạch mạng lưới tái cấu trúc này cho từng thành phố, địa phương theo một trật tự và khối lượng thống nhất, trên cơ sở phải lồng ghép sâu sắc, cụ thể với tính toán khả thi cho từng di sản công nghiệp trong mạng lưới chung. Việc này, tất nhiên không nên do một cơ quan nhà nước đứng ra tự quy hoạch và phân bổ, vì điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ không sát nhu cầu thực tiễn, do đó lãng phí nguồn.

Kế thừa giá trị lịch sử: Giữ lại ký ức di sản, đô thị và tạo ra nét độc đáo riêng biệt mà các công trình xây mới không thể sao chép, hoặc có tinh thần văn hoá hoài niệm để thu hút khách du lịch và cộng đồng nghệ thuật; Đây là bài toán theo đúng chủ trương hiện nay, kế thừa để phục vụ phát triển. Mỗi di sản dù là công nghiệp cũng luôn chứa đựng trong nó một sức hấp dẫn đặc biệt và dồi dào về lịch sử. Điều quan trọng nhất là chúng ta đọc được và viết thành ngôn ngữ văn hoá sáng tạo vốn rất quý đó thành hấp dẫn, có khả năng khai thác trong phát triển công nghiệp văn hoá. Ví dụ: nhà máy bia Hà Nội được xây dựng từ thời Pháp thuộc (tại khu vực sát đường Hoàng Hoa Thám, Hà Nội) có thể thành khu văn hoá trải nghiệm ẩm thực truyền thống và trưng bày ký ức về một loại hình đồ uống xa lạ du nhập vào Việt Nam, đã trở thành một phần văn hoá gắn với hoạt động hè phố sôi động, quyến rũ của Hà Nội. Hay những tổ hợp trụ sở dôi dư khi chuyển từ chính quyền địa phương ba cấp thành chính quyền địa phương hai cấp, hoàn toàn có thế trở thành các vùng “zons” tự do cho khởi nghiệp sáng tạo, trưng bày sản phẩm do các nghệ sĩ, nhà chuyên môn thử nghiệm từ chương trình phát triển công nghiệp văn hoá. Điều đó muốn thành hiện thực cần sự tham gia của cộng đồng sáng tạo, mà trong đó kiến trúc đóng vai trò là khâu hình thành không gian tương thích.

3. Định hình không gian sống và hệ sinh thái sáng tạo

  • Hạt nhân kết nối: Kiến trúc sắp đặt các khu vực làm việc, tương tác, sáng tạo của nghệ sĩ, nhà chuyên môn. Tạo không gian biểu diễn, quán cà phê sách, mỹ thuật… các công ty khởi nghiệp trong từng hệ sinh thái chuyên ngành công nghiệp văn hoá, hình thành các tổ hợp công nghiệp văn hoá;
  • Tạo “hồn” cho công trình: Một cụm công nghiệp văn hoá không chỉ cần hạ tầng cứng (phần vỏ kiến trúc từ bê tông, sắt thép, gạch đá) mà cần thời gian, chính sách và không gian nghệ thuật kiến trúc có chiều sâu, để nuôi dưỡng tài năng, lan toả giá trị văn hoá và tương hợp sáng tạo, thăng hoa;
  • Có thể nói, một công trình kiến trúc khi được tạo ra, không chỉ là một sản phẩm xây dựng để phục vụ công năng sản xuất, lao động, nghỉ ngơi thuần tuý. Mà phần không nhỏ trong đó, đều có thể trở thành nơi diễn ra các hoạt động văn hoá, hình thành nhận diện điểm đến, hay “sân khấu” để các sản phẩm văn hoá khác, trong đó có các sản phẩm của hệ sinh thái công nghiệp văn hoá được trải nghiệm, tương tác, sáng tạo, tiêu dung và tiếp tục sinh ra giá trị kinh tế. Điều rõ ràng là không cần gắn thêm nhãn “văn hoá” cho các “dự án bất động sản này” mà ngay từ những bước đầu đặt vấn đề gắn với phát triển công nghiệp văn hoá, cần xác định vai trò của kiến trúc rõ ràng, đặt ra giá trị yêu cầu sáng tạo thực sự, rồi từ đó có thể nhận diện, tạo không gian, truyền động lực, bảo hộ, cùng thương mại hoá được theo tinh thần “công nghiệp”.

4. Đóng góp trực tiếp vào giá trị kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia

  • Ngành kinh tế sáng tạo: Bản thân kiến trúc nằm trong nhóm các ngành công nghiệp văn hoá – sáng tạo trọng điểm (cùng với thiết kế, điện ảnh, sân khấu, phần mềm…), trực tiếp tạo ra doanh thu, việc làm và giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế. Ở Việt Nam, nơi mà nền tảng “vật thể văn hoá” còn đang thiếu thốn nhiều cho sự nghiệp phát triển công nghiệp văn hoá thì điều này càng mang nhiều ý nghĩa cần đột phá mạnh mẽ.
  • Tạo biểu tượng văn hoá quốc gia, vùng miền: Các công trình kiến túc mang tính biểu tượng giúp quảng bá, giới thiệu đất nước, vùng miền.từ đó thu hút du lịch, dịch vụ, đầu tư không biên giới mạnh mẽ, nâng cao vị thế ngoại giao văn hoá, tạo sức mạnh mềm trên trường quốc tế.

5. Thúc đầy phát triển đô thị, nông thôn bền vững

  • Tương tác với môi trường: Các công trình kiến trúc có thẩm mỹ cao và thân thiện với thiên nhiên giúp cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn sinh thái, hướng đến mô hình tri thức và kinh tế sáng tạo;
  • Các công trình cộng đồng ở các vùng nông thôn Việt Nam được kiến tạo từ hun đúc bản sắc bản địa và học tập hiện đại mang lại giá trị to lớn trong kết nối cộng đồng cùng phát huy, tiếp biến, lan toả văn hoá bản địa. Giáo dục cho các thế hệ về truyền thống căn cốt của ông cha, vùng miền văn hoá.

6. Thúc đẩy sự tương tác, đồng phối hợn và cộng hưởng sức mạnh của các ngành công nghiệp văn hoá

  • Mỗi ngành công nghiệp văn hoá khi phát triển đơn đọc và tạo ra sản phẩm đơn độc thì dù có sáng tạo bao nhiêu cũng dễ nhàm chán và tạo ra lối mòn, giảm sức hấp dẫn dần theo thời gian, hiệu suất kinh tế khó khai thác hết tiềm năng, lợi thế. Nếu nhiều ngành đặt trong cùng một không gian kiến trúc cùng phục vụ và “bán hàng”, sẽ nhiều cơ hội tôn vinh tác phẩm mỗi ngành và tạo nên tác phẩm gộp với mức sáng tạo không giới hạn;
  • Không gian kiến trúc đựợc tạo ra xấu hay đẹp, hợp lý hay không hợp lý cũng sẽ ảnh hướng đến tinh thần sáng tạo và đặc biệt là khả năng thu hút cộng đồng. Rõ ràng, không có khán giả, người mua, người tương tác thì mọi thể hiện của người nghệ sĩ, chuyên gia đều trở thành vô nghĩa.
Phim trường mô phỏng từ Hoàng Thành Thăng Long, Nhà hát Opera mới & Công Viên Cảnh quan trung tâm Tp HCM mới – Các Kiến trúc trong hệ sinh thái phát triển Công nghiệp Văn hóa tương lai tại Việt Nam (Ảnh: internet)

7. Lan toả sức mạnh mềm văn hoá Việt Nam ra quốc tế:

Kiến trúc đóng vai trò là “cuốn sử bằng đá và không gian”, là cầu nối vật chất và biểu tượng cốt lõi giúp lan toả sức mạnh mềm văn hoá Việt Nam ra thế giới [10]. Vai trò này thể hiện qua các khía cạnh chính sau:

  • Làm đại sứ thị giác và biểu tượng bản sắc quốc gia: (i) Khẳng định sự độc lập và riêng có: Kiến trúc là hình thức phản ánh trực quan, rõ nét và bền vững nhất về trình độ văn minh, tâm hồn, tư duy thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam; (ii) tạo dấu ấn khác biệt: khi bạn bè quốc tế nhìn vào kiến trúc Việt Nam họ nhận diên ngay ra bản sắc văn hoá một đất nước riêng, dân tộc riêng, thay vì sự hoà tan trong môi cảnh toàn cầu hoá;
  • Nền tảng không gian cho công nghiệp văn hoá Việt Nam riêng, không hoà lẫn, không phụ thuộc, kể cả đối với những quốc gia khác. có nền công nghiệp văn hoá thành công vượt trội. Từ đó, kích thích giá trị kinh tế – văn hoá: một công trình kiến trúc có sức hút lớn có thể trở thành điềm đến biểu tượng (destination landmark), kéo theo sự phát triển của dịch vụ, du lịch, ngoại giao, văn hoá và hình ảnh quốc gia;
  • Sự dung hoà truyền thống và hiện đại: (i) Ngôn ngữ toàn cầu với linh hồn dân tộc: Nền kiến trúc Việt Nam hiện đại đang trong tiến trình đối thoại với các trường phái kiến trúc lớn trên thể giới và bắt dầu có tiếng nói ảnh hưởng; (ii) Sức mạnh mềm từ sự thích ứng: việc thối hồn văn hoá bản địa vào kiến trúc xanh, kiến trúc bền vững giúp Việt Nam tham gia vào các diễn đàn kiến trúc toàn cầu với một thông điệp nhân văn “phát triển đi đôi với với bảo tồn và thân thiện môi trường.

“Mang chuông đi đánh nước người”: Việc Tử cấm thành Trung Quốc được thiết kế chính bởi một Kiến trúc sư người Việt có lẽ là một ví dụ sinh động nhất; ngày nay, Kiến trúc sư Việt Nam kế tục theo tinh thần đó, đã mang tâm hồn, cách làm của Văn hoá Việt Nam đi ra thế giới, đã sáng tạo về thiết kế công trình cho hơn 30 quốc gia trên thế giới, trong đó có những công trình không nhỏ (gần đây nhất có thể thấy là nhà Quốc hội Lào chẳng hạn). Những công trình đó đều được đánh giá mạng hơi thở bản địa đậm bản sắc, nhưng không ít công trình cũng có thể nhìn ra chất văn hoá Việt Nam dung dị và tao nhã, chung sống hoà bình với con người và thiên nhiên hiển hiện trong đó.

Lời tạm kết:

Có thể nói, Kiến trúc có vai trò là một nhánh, một mảnh ghép không thể thiếu trong phát triển công nghiệp văn hoá. Mà cụ thể hơn vai trò đó là tự mình “Hữu xạ tự nhiên hương”, nở hoa, đóng góp là thành tố quan trọng trong phát triển công nghiệp văn hoá đất nước. Từ đó, đóng góp của kiến trúc cho GRDP cho mỗi địa phương và đóng góp GDP cho Quốc gia không nhỏ trong tỉ trọng ngành công nghiệp văn hoá. Đồng thời, kiến trúc đóng vai trò tạo lập không gian cho các ngành công nghiệp văn hoá khác hoạt động, tương tác, sáng tạo với những loại hinh thích ứng.
Nếu chúng ta biết đặt đúng tầm quan trọng, phát huy đúng đặc tính và đặc thù ngành, kiến trúc sẽ ngày càng tạo nền tảng và cấu thành bộ phận vững chắc cho hệ sinh thái công ghiệp văn hoá phát triển. Từ đó góp phần cho văn hoá nghệ thuật – khoa học công nghệ đất nước phát triển xanh hơn, bền vững hơn vào tương lai, đồng đẳng với những nước phát triển cao trên thế giới.

TS KTS Phan Đăng Sơn – Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam
© Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc

Tài liệu tham khảo:
[1] UNESCO-các ngành công nghiệp văn hoá, tâm điểm của văn hoá trong tương lai, Website htt://portal.unesco.org/culture/en/er
[2] hồ sơ sự kiện-https://hssk.tapchicongsan.org.vn
[3] Www.vietnam.vn-https://www.vietnam.vn
[4] Hồ sơ sự kiện -https://hssk.tapchicongsan.org.vn
[5] Cục di sản – https://dsvn.gov.vn
[6] Hội đồng anh – british council and the creative industries
[7],[8],[9] ngữ pháp không gian di sản như chất xúc tác cho công nghiệp văn hoá – Trang Nhung – dbnd.vn,2026
[10] Học viện chính trị khu vực I – sức mạnh mềm trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – https://hcmi.hcma.vn