Nhìn qua lăng kính Thị – Phố – Nghề, hạ tầng sáng tạo của Hà Nội hiện lên trong mối liên hệ giữa thị trường, không gian đô thị và tri thức nghề. Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 từng bước kết nối những mối liên hệ ấy trong quá trình hợp tác, thử nghiệm và phát triển mô hình kinh tế sáng tạo.
Chủ đề “Thăng Long – Kẻ Nghệ” gợi mở cách nhìn Hà Nội từ sức sáng tạo của người làm nghề, nghệ sĩ, nhà thiết kế và những cộng đồng đang gìn giữ, làm mới đời sống văn hóa của Thủ đô. Để tinh thần ấy đi vào thực tế, cần những điều kiện giúp các chủ thể tìm thấy nhau, cùng làm việc và đưa kết quả đến với công chúng. Chủ đề Kinh tế sáng tạo được cụ thể hóa qua cách tổ chức những mối quan hệ đó, từ lựa chọn đề xuất, bố trí nguồn lực đến thử nghiệm sản phẩm và phương thức sử dụng không gian.
Kế hoạch số 333/KH-UBND ngày 10/12/2025 của UBND thành phố Hà Nội về Tổ chức Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội năm 2026 xác định hướng chuyển dịch từ tổ chức lễ hội sang xây dựng hệ sinh thái sáng tạo đô thị. Sự chuyển dịch này đặt ra yêu cầu về một phương pháp vận hành xuyên suốt: Các chương trình trong năm 2025-2026 chính là quá trình chuẩn bị con người, ý tưởng và quan hệ hợp tác; cao điểm lễ hội tạo môi trường giới thiệu, thử nghiệm và tiếp nhận phản hồi; kết quả và phản hồi trở thành cơ sở để nuôi dưỡng những hướng phát triển tiếp.
Trong quá trình ấy, hạ tầng mềm có thể được hiểu là mạng lưới con người, cơ chế phối hợp, nguyên tắc chia sẻ nguồn lực và hệ thống thông tin giúp hoạt động sáng tạo được hình thành, vận hành và tiếp nối. Một cuộc gặp có thể khởi đầu ý tưởng; phương pháp tổ chức quyết định ý tưởng ấy được ai tiếp nhận, phát triển bằng nguồn lực nào và đi tiếp ra sao.
Thị – Phố – Nghề trong cấu trúc hạ tầng sáng tạo
“Thị – Phố – Nghề” gợi nhắc mối liên hệ giữa giao thương, phố nghề và cộng đồng làm nghề trong đời sống Hà Nội. Đặt vào phương pháp vận hành lễ hội, ba thành tố này tương ứng với thị trường, không gian đô thị và tri thức nghề. Hạ tầng sáng tạo được nhận diện qua những điều kiện giúp chúng kết nối và cùng tạo giá trị.
“Thị” là thị trường và các quan hệ giao thương, cung cấp thông tin về người sử dụng, nhu cầu, mức giá và kênh phân phối. Với sản phẩm sáng tạo, tiếp cận thị trường còn bao gồm việc kiểm chứng công năng, khả năng sản xuất và nhu cầu đặt hàng tiếp. Với nghệ thuật, đó có thể là cơ hội biểu diễn, sưu tập, đặt hàng, giới thiệu tác phẩm và phát triển công chúng.
“Phố” là không gian đô thị gắn với cộng đồng đang sống, làm việc và gìn giữ nơi đó; cung cấp địa điểm thực hành và bối cảnh xã hội cho sáng tạo. Một khu chợ, tuyến phố, ngôi đình, hay công viên đều có người quản lý, người sử dụng, nhịp sinh hoạt và các điều kiện vận hành riêng. Việc đưa một hoạt động vào đó đòi hỏi sự phối hợp về công năng, thời gian, an toàn, nguồn lực và quyền lợi của những người liên quan.
“Nghề” là tri thức, kỹ năng và năng lực thực hành sáng tạo, được tích lũy qua kinh nghiệm vật liệu, kỹ thuật, sản xuất và thiết kế. Những quyết định về đất, men, lửa trong nghề gốm, hay độ cứng, độ mềm của mây tre… ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng triển khai một thiết kế. Nghệ nhân tham gia quá trình sáng tạo bằng cả kỹ năng thực hành và năng lực đánh giá điều gì có thể làm được, cần điều chỉnh hoặc phải thử thêm.
Một sản phẩm phát triển từ Nghề có thể được thử nghiệm, giới thiệu trong các không gian của Phố và tìm cơ hội sản xuất, phân phối qua Thị. Phản hồi từ người sử dụng lại trở về với nghệ nhân, nhà thiết kế để hoàn thiện sản phẩm, đồng thời giúp đơn vị vận hành lựa chọn chương trình phù hợp với địa điểm. Hạ tầng mềm tạo điều kiện cho sự trao đổi ấy diễn ra liên tục, nối tri thức nghề với thực hành đô thị và nhu cầu đời sống.
Nghiên cứu của Marta Gasparin và Martin Quinn về hệ sinh thái sáng tạo tại Việt Nam gợi mở vai trò của việc tập hợp thông tin từ thực tiễn và đưa thông tin ấy vào quá trình xây dựng chính sách. Nghiên cứu của Marlen Komorowski và các cộng sự về 22 mạng lưới sáng tạo tại Anh cũng đặt trọng tâm vào các quan hệ và dòng trao đổi giữa những chủ thể phân tán. Từ góc nhìn này, năng lực kết nối của lễ hội cần được xem xét qua những công việc và nguồn lực thực sự được chuyển tiếp giữa các bên.
Quản trị những mối nối giữa ba nguồn lực
Từ lăng kính Thị – Phố – Nghề, việc xác định mục tiêu, tiêu chí lựa chọn và nguyên tắc phân bổ nguồn lực có thể cùng hướng tới phát huy tri thức nghề, phù hợp với đời sống nơi chốn và mở cơ hội tiếp cận thị trường. Công việc vận hành đưa những lựa chọn ấy vào thực tế: Tiếp nhận đề xuất, kết nối đối tác, thống nhất điều kiện triển khai, theo dõi thử nghiệm và cập nhật kết quả. Mối liên hệ giữa hai phần việc giúp một hoạt động vừa đáp ứng yêu cầu tổ chức trước mắt, vừa phục vụ mục tiêu phát triển lâu dài.
Trong một chương trình có nhiều chủ thể, mỗi đơn vị đóng góp năng lực riêng. Trường đại học có giảng viên, sinh viên và phương pháp nghiên cứu; nghệ nhân có tri thức nghề; nhà thiết kế có năng lực phát triển sản phẩm; doanh nghiệp có kinh nghiệm sản xuất, phân phối; địa phương và đơn vị quản lý địa điểm nắm điều kiện sử dụng không gian. Cơ chế phối hợp cần làm rõ người chủ trì từng công việc, phần đóng góp và trách nhiệm tiếp nhận kết quả.
Sự phối hợp được cụ thể hóa qua những “điểm bàn giao” giữa các giai đoạn. Hồ sơ mẫu thử giúp đối tác sản xuất tiếp cận ý tưởng và khả năng triển khai; kết quả khảo sát địa điểm cung cấp cơ sở cùng xây dựng phương án vận hành; phản hồi công chúng giúp nhóm phát triển hoàn thiện sản phẩm. Việc thống nhất người tiếp nhận và thông tin đi cùng tạo điều kiện để công việc được nối tiếp thuận lợi.
Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội trực thuộc Bảo tàng Hà Nội có chức năng kết nối nguồn lực, hỗ trợ thử nghiệm ý tưởng, nâng cao năng lực cộng đồng và thúc đẩy hợp tác. Mạng lưới Không gian văn hóa sáng tạo Hà Nội, ra mắt ngày 10/12/2025 với 82 không gian được trao chứng nhận, cũng tạo cơ sở kết nối các địa điểm có chức năng và nguồn lực khác nhau. Đây là những đầu mối và nền tảng có thể hỗ trợ quá trình chuyển tiếp giữa các chương trình.
Việc cập nhật quá trình phát triển của từng sáng kiến giúp những đầu mối này kết nối nguồn lực phù hợp. Hồ sơ dự án có thể ghi nhận người tham gia, kết quả từng giai đoạn, nhu cầu hoàn thiện và cơ hội hợp tác. Bên cạnh quy mô hoạt động và khả năng tiếp cận công chúng, thông tin về mẫu thử, đối tác và nguồn lực được huy động giúp nhận diện những hướng phát triển có triển vọng.
Khi đơn vị tiếp nhận và cách cập nhật được thống nhất từ đầu, hồ sơ tiếp tục đồng hành cùng dự án sau thời gian cao điểm. Đối tác mới có thêm cơ sở tham gia, các chương trình hỗ trợ có thể kế thừa kết quả đã có, còn kinh nghiệm tổ chức trở thành nguồn tham khảo cho những chu kỳ tiếp theo.
Từ tri thức Nghề đến cơ hội của Thị
Những hoạt động được nhóm tác giả ghi nhận đến ngày 5/9/2026 gợi mở cách lễ hội từng bước tổ chức những mối nối giữa ý tưởng, nguồn lực và công chúng. Kết Duyên Sáng Tạo 2026 là một trường hợp thể hiện quá trình ấy. Chợ phiên ngày 13–14/6/2026 quy tụ hơn 60 nhà sáng tạo và đại diện 16 làng nghề. Từ quá trình gặp gỡ, phát triển ý tưởng, 57 sản phẩm, đề xuất tham gia giai đoạn đầu; ngày 29/8, 10 dự án được công bố nhận hỗ trợ phát triển sản phẩm.
Chuỗi hoạt động này cho thấy một quy trình từ kết nối mở, hình thành đề xuất và tuyển chọn đến hỗ trợ thử nghiệm, cố vấn và tiếp cận công chúng. Nguồn lực được bố trí theo từng giai đoạn, còn các đề xuất có thêm cơ hội phát triển ở những mức độ hoàn thiện khác nhau. Với mỗi dự án, việc ghi nhận thỏa thuận hợp tác, kinh phí, phí tri thức, mẫu thử và phản hồi thị trường tạo cơ sở để lựa chọn hình thức hỗ trợ tiếp theo. Những bước hoàn thiện sản phẩm và quan hệ được duy trì cũng giúp làm rõ giá trị của quá trình đồng hành. Qua lăng kính Thị – Phố – Nghề, tri thức nghệ nhân và năng lực thiết kế là nguồn lực khởi đầu; chợ phiên và các địa điểm giới thiệu, trưng bày tạo không gian gặp gỡ; phản hồi của công chúng và đối tác mở thêm hướng phát triển sản phẩm. Mỗi khâu góp phần đưa nguồn lực văn hóa vào một quá trình tạo giá trị cụ thể.
Quy định dành một phần ngân sách cho phí tri thức nghệ nhân đưa nguyên tắc tôn trọng người làm nghề vào cơ chế vận hành cụ thể. Tọa đàm “Sở hữu trí tuệ trong sản phẩm sáng tạo” ngày 29/8 tiếp tục đặt vấn đề về nguồn gốc chất liệu, quyền sở hữu, trách nhiệm và chia sẻ lợi ích. Để quan hệ hợp tác có thể tiếp tục, các nội dung này cần được thống nhất từ quá trình cùng nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển sản phẩm.
Summer Camp “Re:Craft 2026 – Làng nghề tái sinh”, diễn ra từ ngày 6 đến 13/7, cung cấp một lát cắt khác về phương pháp thử nghiệm. Hơn 100 sinh viên từ 11 trường đại học, cùng giảng viên và nghệ nhân, làm việc với năm làng nghề Hạ Thái, Kim Lan, Đào Thục, Phú Vinh và Quất Động. Các nhóm khảo sát, tìm hiểu vật liệu và quy trình trước khi phát triển ý tưởng, mẫu thử.
Ở đây, giá trị phương pháp nằm trong việc đưa học hỏi và thiết kế vào điều kiện thực hành cụ thể. Những cuộc trao đổi với người làm nghề giúp nhóm sáng tạo hiểu đặc tính vật liệu, thời gian và khả năng sản xuất. Việc lưu giữ kết quả khảo sát, mẫu thử và những hướng cần phát triển thêm tạo cơ sở để giảng viên, nghệ nhân, doanh nghiệp hoặc chương trình hỗ trợ tiếp theo cùng tham gia. Thông tin về các nhóm tiếp tục làm việc với làng nghề, sản phẩm được hoàn thiện và nhu cầu hỗ trợ cũng giúp nối trải nghiệm học tập với cơ hội thực hành nghề nghiệp lâu dài.
Phố như môi trường kết nối Nghề với Thị
Nhìn từ “Phố”, không gian đô thị tham gia trực tiếp vào cách các nguồn lực sáng tạo gặp nhau. Một địa điểm cung cấp điều kiện thực hành nghề, giới thiệu sản phẩm, tổ chức trải nghiệm và kết nối người sử dụng. Thử nghiệm vì thế bao gồm cả cách tổ chức hoạt động và cách các chủ thể cùng sử dụng, quản lý địa điểm, tạo cơ sở duy trì những chương trình phù hợp với đời sống cộng đồng.
Chương trình Phát triển Hạ tầng Sáng tạo và Cuộc thi “Hà Nội: Đánh thức không gian đô thị”, phát động ngày 18/7/2026, đặt những đề xuất thiết kế trong quan hệ với cơ chế chính sách, phương án tài chính, mô hình quản trị và nguồn lực cộng đồng. Đây là cơ sở để xem xét khả năng triển khai của một ý tưởng cùng với hình thức kiến trúc, mỹ thuật.
Chợ Đồng Xuân là một ví dụ để nhìn ba yếu tố trong cùng một không gian: “Thị” gắn với hoạt động giao thương; “Phố” với kiến trúc, nhịp sinh hoạt và cộng đồng; “Nghề” với tri thức, kỹ năng của người làm nghề và người thực hành sáng tạo. Việc phối hợp với tiểu thương và đơn vị quản lý giúp các hoạt động nghệ thuật gắn với đời sống chợ, đồng thời mở thêm cách công chúng tiếp cận nơi chốn.
Với đình, di tích hoặc không gian công cộng, sự phối hợp cùng người gìn giữ và người sử dụng địa điểm giúp xác định thời gian, cách tiếp cận công chúng, trách nhiệm chăm sóc và những điều kiện để hoạt động có thể tiếp nối. Mối quan hệ giữa người làm nghề, cộng đồng và địa điểm trở thành một phần của phương án vận hành.
Ngay từ lúc phát triển đề xuất, việc thống nhất đơn vị tổ chức, người quản lý địa điểm, cách chia sẻ chi phí và hình thức tham gia của cộng đồng tạo nền tảng cho quá trình triển khai. Kết quả thử nghiệm giúp lựa chọn phương án hoạt động thường xuyên, mở định kỳ hoặc tiếp tục công năng chính với những chương trình sáng tạo phù hợp.
Sự tham gia của cư dân, tiểu thương và người thực hành văn hóa cung cấp phản hồi để chương trình gắn hơn với nhu cầu của những người đang sống và làm việc tại địa điểm. Việc tiếp tục cập nhật lịch hoạt động, nguồn lực và trải nghiệm của cộng đồng sau thời gian cao điểm giúp nhóm phụ trách điều chỉnh cách tổ chức, bồi đắp quan hệ hợp tác và phát triển những hình thức sử dụng không gian có ý nghĩa với đời sống.
Xây dựng mô hình thử nghiệm từ những quan hệ hợp tác
Một mẫu thử cho biết ý tưởng có thể được thể hiện như thế nào. Một mô hình vận hành làm rõ cách các bên tổ chức công việc, sử dụng nguồn lực, chia sẻ lợi ích và điều chỉnh theo phản hồi. Từ kết quả trưng bày và trải nghiệm công chúng, những thông tin về sản xuất, hợp tác và sử dụng không gian giúp nhóm thực hiện lựa chọn hướng phát triển tiếp.
Trong mối nối giữa Nghề và Thị, hợp tác giữa nghệ nhân và nhà thiết kế có triển vọng phát triển thành mô hình khi các bên hiểu vai trò của nhau, thống nhất quyền lợi và có cách tiếp tục nghiên cứu, sản xuất. Chi phí, thời gian làm, mức giá, người sử dụng và kênh phân phối cần được xem xét cùng chất lượng thiết kế. Những kinh nghiệm ấy có thể trở thành cơ sở để cặp hợp tác phát triển sản phẩm tiếp theo hoặc giúp các nhóm khác học hỏi.
Ở “Phố”, một địa điểm mở định kỳ có thể tiếp tục tạo cơ hội thực hành nghề, giới thiệu sản phẩm và gặp gỡ công chúng. Chương trình phù hợp, người vận hành, nguồn lực và sự đồng thuận của các bên tạo điều kiện cho mô hình ấy phát triển. Kết quả thử nghiệm và đặc điểm thực tế của từng nơi giúp nhóm thực hiện lựa chọn quy mô, cách tổ chức vừa sức.
Thị trường tham gia bước chuyển này bằng phản hồi và những quan hệ cụ thể. Các hoạt động triển lãm, hội chợ sáng tạo tạo cơ hội giới thiệu sản phẩm, tìm đối tác và tìm hiểu mức độ quan tâm của công chúng. Những đơn hàng tiếp theo, nhu cầu nhập lại, hợp tác sản xuất và phân phối là thông tin hữu ích để phát triển sản phẩm. Với nghệ thuật, đó còn là cơ hội hoàn thiện tác phẩm, tổ chức suất diễn tiếp và mở rộng quan hệ nghề nghiệp.
Qua sáu tháng hoặc một năm, việc tiếp tục cập nhật sản phẩm được sản xuất, quan hệ hợp tác được duy trì, chương trình tại các không gian và nguồn lực mới giúp nhận diện những mô hình có triển vọng. Những kết quả ấy tạo cơ sở cho việc kết nối đối tác, bố trí hỗ trợ và phát triển chương trình trong các giai đoạn tiếp theo.
Quá trình thử nghiệm đồng thời cho phép các nhóm điều chỉnh vật liệu, kỹ thuật, chi phí và cách hợp tác để tìm phương án phù hợp hơn. Việc lưu giữ kinh nghiệm và phản hồi giúp những kết quả nghiên cứu, thiết kế trở thành tri thức có thể chia sẻ, sử dụng trong các dự án tiếp theo. Khả năng học hỏi và hoàn thiện qua từng giai đoạn là một phần giá trị của mô hình lễ hội sáng tạo.
Hạ tầng mềm được bồi đắp trong chính những mối nối giữa Thị, Phố và Nghề: Quan hệ hợp tác được tiếp tục, kinh nghiệm thử nghiệm được chia sẻ và các mô hình được nuôi dưỡng trên cơ sở vận hành rõ ràng – Đó là cách Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 cụ thể hóa chủ đề Kinh tế sáng tạo bằng phương pháp tổ chức. Khả năng phát triển của thành phố được tích lũy qua những quy trình hợp tác ngày càng rõ, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn và tri thức được tiếp nối qua từng chu kỳ sáng tạo.
Tác giả: Nguyễn Trung Đại, Hà Kim Tuấn, Hoàng Thùy Dung, Phan Như Quỳnh, Hoàng Minh, Huyền Nguyễn
© Tạp chí Kiến trúc




















