Tóm tắt
Bài viết tiếp cận di sản không chỉ như tập hợp các đối tượng cần bảo tồn, mà như một dạng vốn văn hóa và hạ tầng văn hóa của lãnh thổ, bao gồm ba lớp nổi bật: Di sản tự nhiên – cảnh quan Hạ Long; Di sản văn hóa – tâm linh Yên Tử; Di sản công nghiệp – đô thị của vùng mỏ than. Trên cơ sở lý thuyết về vốn văn hóa, Cảnh quan đô thị lịch sử, kinh tế sáng tạo, tái sử dụng thích ứng và chủ nghĩa vùng phê phán, bài viết đề xuất chuyển từ tư duy “bảo tồn di sản như đối tượng” sang “kích hoạt di sản như nguồn lực”. Từ đó, di sản có thể cung cấp nội dung cho kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật, du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa, không gian công cộng và các hệ sinh thái sáng tạo. Bài viết đồng thời đặt vấn đề xây dựng một ngôn ngữ kiến trúc Quảng Ninh mới, không dựa trên sao chép hình thức truyền thống mà chuyển dịch các cấu trúc sâu của bản địa – địa hình, khí hậu, vật liệu, cảnh quan, văn hóa biển, ký ức khai khoáng và tinh thần Yên Tử – thành kiến trúc đương đại thích ứng khí hậu, thông minh và phát thải thấp. Qua đó, di sản không phải là giới hạn của phát triển mà có thể trở thành nguồn lực nội sinh để kiến tạo bản sắc, năng lực sáng tạo và lợi thế cạnh tranh dài hạn của không gian đô thị Quảng Ninh.
Từ khóa: Di sản; kinh tế sáng tạo; công nghiệp văn hóa; bản sắc địa phương; kiến trúc phát thải thấp; Quảng Ninh.
Đặt vấn đề
Trong mô hình bảo tồn truyền thống, di sản thường được nhìn nhận trước hết như một đối tượng có giá trị lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học cần được gìn giữ. Tuy nhiên, những thảo luận quốc tế trong vài thập niên gần đây đã mở rộng đáng kể cách hiểu này. Throsby (1999, 2001) đề xuất khái niệm: Vốn văn hóa – cultural capital, những tài sản văn hóa có thể vừa mang giá trị văn hóa tự thân, vừa tạo ra các dòng giá trị kinh tế và xã hội theo thời gian. UNESCO (2011), với Khuyến nghị về Cảnh quan đô thị lịch sử (Historic Urban Landscape – HUL), tiếp tục mở rộng phạm vi bảo tồn từ từng công trình sang toàn bộ bối cảnh đô thị, bao gồm địa hình, cảnh quan, hạ tầng, không gian mở, quan hệ thị giác, thực hành xã hội, ký ức và các giá trị phi vật thể. Cách tiếp cận này đưa bảo tồn ra khỏi trạng thái “đóng băng quá khứ” để trở thành một thành tố của quản trị biến đổi đô thị.
Ở một hướng khác, lý thuyết về thành phố (TP) sáng tạo nhấn mạnh khả năng huy động văn hóa, tri thức, tài năng và trí tưởng tượng của cộng đồng như nguồn lực phát triển đô thị (Landry, 2000). Creative Economy Report 2013 của UNESCO và UNDP đặc biệt lưu ý rằng: Văn hóa và sáng tạo có khả năng mở ra những con đường phát triển địa phương dựa trên các tài sản đặc thù của từng nơi (UNESCO & UNDP, 2013). UNESCO (2016) sau đó đặt văn hóa vào trung tâm của phát triển đô thị bền vững; UNCTAD (2022) tiếp tục khẳng định vai trò ngày càng lớn của kinh tế sáng tạo trong phát triển, thương mại và việc làm.
Quảng Ninh là trường hợp đặc biệt phù hợp để đặt hai dòng tư duy – Di sản và kinh tế sáng tạo – vào cùng một chiến lược. Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/02/2023 đặt mục tiêu phát triển Quảng Ninh theo hướng hiện đại, bền vững và tăng trưởng xanh (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Đồng thời, Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 30/10/2023 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định văn hóa và sức mạnh con người Quảng Ninh là nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh, bền vững (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2023). Định hướng này tương thích với Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, trong đó kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật, du lịch văn hóa và các lĩnh vực sáng tạo được nhìn nhận như những bộ phận có khả năng tạo giá trị kinh tế mới (Thủ tướng Chính phủ, 2016).
Đặc biệt, từ năm 2026, vấn đề này đã bước sang một bối cảnh thể chế và không gian mới. Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/04/2026 của Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập TP Quảng Ninh trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh, đồng thời định hướng phát triển Quảng Ninh thành đô thị xanh, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc; tái cấu trúc không gian theo hướng tích hợp đô thị, biển, đảo, biên giới và di sản thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, đa trung tâm, mở và liên kết (Bộ Chính trị, 2026)… Chính quá trình chuyển đổi này làm cho câu hỏi về bản sắc, di sản và ngôn ngữ kiến trúc trở nên cấp thiết hơn: Một TP đa cực, đa trung tâm cần một cấu trúc nhận diện đủ mạnh để liên kết những không gian rất khác nhau mà không làm mất đi tính đa dạng của từng tiểu vùng.
Vấn đề cốt lõi sẽ được đặt ra với Quảng Ninh là: Làm thế nào để các giá trị di sản trở thành nguồn lực của một nền kinh tế sáng tạo, đồng thời tạo nên một ngôn ngữ kiến trúc – đô thị mới cho Quảng Ninh xanh, thông minh và phát thải thấp?
Bài viết đề xuất một luận điểm trung tâm: Cần chuyển “bảo tồn di sản như đối tượng” sang “kích hoạt di sản như nguồn lực”. Trong cách nhìn này, giá trị khác biệt của di sản có thể trở thành nền tảng của lợi thế cạnh tranh mà Licciardi và Amirtahmasebi (2012) gọi là “economics of uniqueness” – Kinh tế của tính độc đáo.
Quảng Ninh: Ba hệ di sản và nhiều lớp kí ức
Có thể “đọc” Quảng Ninh như một “Palimpsest” – Trong đó, nhiều lớp tự nhiên, văn hóa, công nghiệp và đô thị chồng xếp, tương tác và tiếp tục được viết lại. Khái niệm này đặc biệt hữu ích bởi bản sắc Quảng Ninh không thể quy về một hình ảnh duy nhất. Nó được hình thành từ quan hệ giữa núi – biển – rừng – mỏ – cảng – đô thị – cộng đồng – tâm linh.
Hạ Long – Lớp di sản tự nhiên và cảnh quan
Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thế giới năm 1994, bổ sung tiêu chí địa chất năm 2000; đến năm 2023, ranh giới Di sản được mở rộng để hình thành Di sản thế giới Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà (UNESCO World Heritage Centre, 2023). Giá trị của Hạ Long được ghi nhận ở tổng thể mối quan hệ giữa núi đá vôi, đảo, mặt nước, đường chân trời, hệ sinh thái và trải nghiệm thị giác của một cảnh quan biển đặc thù.
Đối với kiến trúc và đô thị, điều này dẫn đến một nguyên tắc quan trọng: Với Hạ Long, cảnh quan phải được coi là cấu trúc nền của thiết kế – Đây là tinh thần tương thích với tư duy đô thị học cảnh quan (landscape urbanism), trong đó cảnh quan được nhìn nhận như một phương tiện tổ chức quá trình đô thị hóa chứ không phải phần trang trí còn lại sau xây dựng (Waldheim, 2016).
Yên Tử – Lớp di sản văn hóa, tâm linh và cảnh quan
Năm 2025, Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản thế giới. Quần thể gồm 12 hợp phần trải trên địa hình núi rừng, vùng thấp và thung lũng sông, với Yên Tử giữ vị trí trung tâm trong lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Trúc Lâm (UNESCO World Heritage Centre, 2025).
Giá trị cốt lõi của Yên Tử nằm trong quan hệ giữa con người – kiến trúc – địa hình – rừng – đường hành hương – khoảng cách – thời gian – tĩnh lặng. Chính cấu trúc trải nghiệm này mới là “DNA” có khả năng cung cấp chất liệu cho kiến trúc đương đại. Một công trình mới mang tinh thần Yên Tử có thể biểu đạt qua cách đặt công trình vào địa hình, trình tự tiếp cận, tỷ lệ, vật liệu, ánh sáng, bóng tối và khoảng trống.
Vùng mỏ – Lớp di sản công nghiệp và ký ức đô thị
Lớp thứ ba ít được định danh như “di sản” hơn nhưng có ý nghĩa đặc biệt đối với bản sắc Quảng Ninh là cảnh quan công nghiệp khai khoáng. Theo Hiến chương Nizhny Tagil, di sản công nghiệp bao gồm những dấu tích của văn hóa công nghiệp có giá trị lịch sử, công nghệ, xã hội, kiến trúc hoặc khoa học, từ nhà xưởng, máy móc, mỏ và địa điểm chế biến đến hạ tầng giao thông và những nơi gắn với đời sống xã hội của công nghiệp (TICCIH, 2003). Các Nguyên tắc Dublin của ICOMOS-TICCIH tiếp tục nhấn mạnh nhu cầu nhận diện không chỉ các cấu trúc riêng lẻ mà cả địa điểm, khu vực và cảnh quan công nghiệp (ICOMOS & TICCIH, 2011).
Với Quảng Ninh, lịch sử khai khoáng đã tạo nên cấu trúc đô thị, hạ tầng, khu công nhân, tuyến vận chuyển, bến cảng, cảnh quan sản xuất, văn hóa lao động và ký ức cộng đồng. Trong tiến trình chuyển đổi mô hình phát triển “từ nâu sang xanh”, việc phục hồi môi trường là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu toàn bộ dấu vết của nền kinh tế mỏ bị xóa bỏ, đô thị có nguy cơ đồng thời đánh mất một phần ký ức về chính quá trình hiện đại hóa của mình.
Ba lớp Hạ Long – Yên Tử – Vùng mỏ vì thế có thể được đọc tương ứng như Natural/Landscape Heritage – Cultural/Spiritual Heritage – Industrial/Urban Heritage. Chính sự giao thoa của ba hệ giá trị này đã tạo nên một cấu trúc bản sắc mà ít địa phương khác có được. Ba hệ di sản này có thể đóng vai trò như ba “neo bản sắc” của cấu trúc đô thị đa trung tâm: Hạ Long định vị bản sắc biển – cảnh quan toàn cầu; Yên Tử định vị chiều sâu văn hóa – tâm linh; vùng mỏ lưu giữ ký ức công nghiệp, lao động và hiện đại hóa. Chúng cần được kết nối thành một hệ thống bản sắc thống nhất trong đa dạng.
Từ tài nguyên di sản đến hạ tầng của kinh tế sáng tạo
Kinh tế sáng tạo dựa trên một loại tài nguyên khác với nền kinh tế khai thác: Ý tưởng, tri thức, kỹ năng, văn hóa, bản sắc và quyền sở hữu trí tuệ. Nếu như tài nguyên khoáng sản sẽ suy giảm trong quá trình khai thác thì tài nguyên văn hóa, khi được sử dụng có trách nhiệm, có thể được tái diễn giải và tạo ra các chu kỳ giá trị mới. Đây chính là điểm khiến chuyển đổi từ kinh tế khai thác sang kinh tế sáng tạo có ý nghĩa đặc biệt đối với Quảng Ninh.
Throsby (1999) cho rằng: Vốn văn hóa có thể tồn tại dưới dạng hữu hình và vô hình, đồng thời tạo ra cả giá trị văn hóa lẫn giá trị kinh tế. Với góc nhìn này, Vịnh Hạ Long có thể cung cấp hình ảnh, câu chuyện và cảm hứng cho thiết kế, điện ảnh, nghệ thuật, truyền thông và sản phẩm sáng tạo. Yên Tử với triết lý Trúc Lâm, cảnh quan và mỹ học của không gian hành hương có thể trở thành nguồn tri thức cho kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật, xuất bản, giáo dục và các sản phẩm văn hóa. Vùng mỏ với ký ức công nghiệp có thể tạo nội dung cho bảo tàng, nghệ thuật, nhiếp ảnh, điện ảnh, thiết kế, du lịch công nghiệp và các không gian sáng tạo.
UNESCO và UNDP (2013) nhấn mạnh rằng: Không có một công thức kinh tế sáng tạo duy nhất cho mọi địa phương – Lợi thế thường xuất phát từ chính các nguồn lực văn hóa và xã hội đặc thù của nơi chốn. Vì vậy, năng lực cạnh tranh bền vững hơn của TP sẽ nằm ở việc chuyển hóa những gì chỉ Quảng Ninh có thành những gì chỉ Quảng Ninh có thể tạo ra.
Có thể khái quát chuỗi tạo giá trị này như sau: Điểm cuối của chuỗi đặc biệt quan trọng. Một mô hình kinh tế di sản bền vững phải tạo được cơ chế để một phần giá trị kinh tế quay trở lại duy trì di sản, cộng đồng và cảnh quan đã tạo ra giá trị đó. Khi vòng phản hồi này tồn tại, bảo tồn và phát triển trở thành hai khâu của cùng một hệ sinh thái.
Di sản công nghiệp: từ kinh tế “nâu” đến không gian sáng tạo “xanh”
Trong ba lớp di sản nêu trên, di sản công nghiệp có lẽ là nguồn lực có tiềm năng chuyển đổi mạnh nhất nhưng cũng dễ biến mất nhất. Tuy nhiên, nếu chỉ đánh giá chúng bằng giá trị sử dụng hiện thời hoặc giá trị bất động sản, một phần quan trọng của lịch sử đô thị sẽ bị bỏ qua.
Tái sử dụng thích ứng (adaptive reuse) cung cấp một cách tiếp cận khác: Duy trì những thành phần có giá trị của công trình trong khi đưa vào chức năng mới phù hợp với đời sống đương đại. Plevoets và Van Cleempoel (2019) xem tái sử dụng thích ứng như một lĩnh vực nằm tại giao điểm giữa bảo tồn và thiết kế kiến trúc. Bullen (2007) cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tái sử dụng công trình và mục tiêu bền vững – Bởi kéo dài vòng đời công trình có thể giảm nhu cầu phá dỡ và xây mới.
Đối với Quảng Ninh, điều này mở ra khả năng chuyển một số cấu trúc mỏ, nhà máy, kho, tuyến vận chuyển hay bến công nghiệp có giá trị thành bảo tàng công nghiệp, trung tâm nghệ thuật, không gian biểu diễn, xưởng sáng tạo, studio thiết kế, cơ sở đào tạo, không gian khởi nghiệp, chợ sáng tạo hoặc công viên hậu công nghiệp. Mục tiêu hướng tới là xây dựng một hệ thống tiêu chí để nhận diện những cấu trúc đại diện cho lịch sử công nghệ, lao động, kiến trúc và hình thái đô thị.
Ở cấp lãnh thổ, có thể nghiên cứu một Hành lang Di sản Sáng tạo – Creative Heritage Corridor, kết nối các điểm di sản tự nhiên, tâm linh, đô thị và công nghiệp. Khái niệm “hành lang” ở đây có thể hiểu là một mạng lưới được liên kết bằng giao thông công cộng, nhận diện thương hiệu, chương trình văn hóa, dữ liệu số và hệ thống diễn giải thống nhất.
Quan trọng hơn, tái sử dụng thích ứng còn kết nối bảo tồn với chương trình phát thải thấp. ICOMOS (2019) đã đặt di sản vào chương trình hành động khí hậu và nhấn mạnh tiềm năng của tri thức, công trình và thực hành văn hóa trong các con đường phát triển có khả năng chống chịu. Trong kiến trúc, việc giữ lại và tái sử dụng cấu kiện, kết cấu và vật liệu hiện hữu cũng có nghĩa là xem xét lượng carbon đã “đầu tư” vào công trình trong quá khứ. Vì vậy, một nhà máy cũ được tái sử dụng thành trung tâm sáng tạo có thể đồng thời thực hiện ba nhiệm vụ: Giữ ký ức – Tạo kinh tế mới – Giảm nhu cầu vật chất của xây mới.
Gía trị bản địa: Từ hình thức đến cấu trúc địa phương
Một trong những thách thức lớn của đô thị hóa nhanh là hiện tượng đồng dạng. Khách sạn, khu nghỉ dưỡng, trung tâm thương mại và khu đô thị mới tại nhiều nơi có thể được thiết kế bằng cùng một ngôn ngữ quốc tế, khiến sự khác biệt địa phương dần bị thu hẹp. Với một TP sở hữu cảnh quan và văn hóa mạnh như Quảng Ninh, đây không chỉ là vấn đề thẩm mỹ mà còn là nguy cơ làm suy giảm chính “tính độc đáo” tạo nên lợi thế kinh tế của địa phương.
Tuy nhiên, phản ứng trước toàn cầu hóa không nên là sao chép hình thức truyền thống. Frampton (1983), trong luận điểm về Chủ nghĩa vùng phê phán – critical regionalism, đề xuất một con đường nằm giữa chủ nghĩa phổ quát vô địa điểm và sự mô phỏng hoài cổ: Kiến trúc hiện đại có thể được “điều chỉnh” bởi địa hình, khí hậu, ánh sáng, vật liệu và văn hóa kiến tạo của nơi chốn. Quan điểm này gặp gỡ với khái niệm genius loci của Norberg-Schulz (1980), trong đó bản sắc nơi chốn được hiểu thông qua cấu trúc không gian và trải nghiệm sống chứ không chỉ qua biểu tượng thị giác.
Với Quảng Ninh, cần chuyển từ “hình thức bản địa” sang “cấu trúc bản địa”. Ít nhất sẽ có sáu lớp có thể tạo nên DNA cho kiến trúc mới:
- Địa hình: Kiến trúc phải đọc và tôn trọng cấu trúc núi, thung lũng, bờ biển và mặt nước; ưu tiên các giải pháp không gian phù hợp địa hình tự nhiên, hài hòa với cảnh quan và điều kiện bản địa;
- Khí hậu: Mái, hiên, bóng râm, khoảng đệm, sân trong, thông gió tự nhiên và tổ chức không gian bán ngoài trời cần được tái diễn giải bằng công nghệ đương đại. Từ rất sớm, Olgyay (1963) đã đặt khí hậu vào trung tâm của thiết kế kiến trúc thay vì xem năng lượng cơ học như giải pháp bù đắp cho hình thức không phù hợp;
- Vật liệu: Vật liệu địa phương, vật liệu có vòng đời carbon thấp, vật liệu tái sử dụng và thậm chí một số cấu kiện công nghiệp cũ có thể trở thành thành phần của bảng vật liệu Quảng Ninh mới;
- Cảnh quan: Công trình không nên cạnh tranh với Hạ Long hay Yên Tử bằng kích thước và biểu tượng; trong các khu vực nhạy cảm, giá trị của kiến trúc có thể nằm ở khả năng “lùi lại” để cảnh quan trở thành chủ thể;
- Ký ức: Ký ức biển, mỏ, cảng, công nhân, hành hương và các cộng đồng địa phương có thể được chuyển dịch thành tỷ lệ, kết cấu, vật liệu, nghệ thuật công cộng và trình tự trải nghiệm;
- Tính đương đại: Một bản sắc sống phải có khả năng tiếp nhận cái mới mà không đánh mất logic nơi chốn.
- Vì vậy, có thể khái quát: Bản sắc không phải là hình thức để sao chép, mà là logic để chuyển dịch. Đây cũng là điều kiện để kiến trúc Quảng Ninh tránh hai cực: Một bên là “quốc tế hóa” đến mức vô danh; bên kia là “bản địa hóa” bằng trang trí bề mặt.
Hướng tới một ngôn ngữ kiến trúc Quảng Ninh mới
Nếu quan niệm di sản là một hệ giá trị sống thì những nguyên tắc nào khiến một công trình mới thuộc về Quảng Ninh? – Điều này cho phép duy trì tự do sáng tạo trong khi vẫn xây dựng được tính liên tục của nơi chốn.
Có thể đề xuất công thức khái niệm: NGÔN NGỮ KIẾN TRÚC QUẢNG NINH MỚI = DNA BẢN ĐỊA + CÔNG NGHỆ ĐƯƠNG ĐẠI + THÍCH ỨNG KHÍ HẬU + KINH TẾ TUẦN HOÀN + PHÁT THẢI THẤP
Ngôn ngữ này có thể dựa trên năm nguyên tắc.
- Thứ nhất, Kiến trúc bắt đầu từ cảnh quan. Trước khi xác lập hình khối, cần “đọc” địa hình, lưu vực, hệ sinh thái, hướng nhìn, đường chân trời và cấu trúc xanh – xanh lam. Tư duy này gần với cách McHarg (1969) đặt các quá trình tự nhiên vào nền tảng của quyết định quy hoạch và với quan điểm đương đại, coi cảnh quan là hạ tầng của đô thị hóa (Waldheim, 2016);
- Thứ hai, Kiến trúc thích ứng khí hậu. Hình khối, hướng công trình, che nắng, thông gió, chiếu sáng tự nhiên, không gian chuyển tiếp và cây xanh cần tham gia trực tiếp vào hiệu suất môi trường, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào thiết bị kỹ thuật (Olgyay, 1963);
Thứ ba, Kiến trúc phát thải thấp và tuần hoàn. Carbon cần được xem xét từ giai đoạn quy hoạch, lựa chọn hệ kết cấu và vật liệu đến xây dựng, vận hành, bảo trì, tháo dỡ và tái sử dụng. Với công trình hiện hữu, trước tiên, nên đặt vấn đề: “Có thể giữ lại và chuyển đổi bao nhiêu?”; - Thứ tư, tái sử dụng thích ứng được xem như một hành vi sáng tạo. Giá trị lớn hơn có thể xuất hiện khi cấu trúc cũ được đưa vào một vòng đời mới và trở thành nơi sản xuất văn hóa đương đại (Plevoets & Van Cleempoel, 2019).
- Thứ năm, Công nghệ phục vụ bản sắc. GIS, BIM, Digital Twin, AI, AR/VR và dữ liệu lớn có thể hỗ trợ kiểm kê di sản, mô phỏng tác động phát triển, quản lý lượng khách, diễn giải lịch sử và tạo trải nghiệm mới. “Thông minh” trong trường hợp này được ghi nhận là khi công nghệ giúp địa phương hiểu, bảo vệ và phát huy tốt hơn những giá trị riêng của mình.
Di sản như hạ tầng xanh-văn hóa của đô thị phát thải thấp
Trong tư duy quy hoạch truyền thống, di sản, cây xanh, mặt nước, giao thông và phát triển kinh tế thường thuộc những hệ quản lý riêng biệt. Tuy nhiên, HUL của UNESCO (2011) cho thấy: Giá trị di sản đô thị nằm trong tổng hòa giữa môi trường xây dựng, địa hình, không gian mở, hạ tầng và thực hành xã hội. Điều này gợi ý rằng tại Quảng Ninh, có thể tiến thêm một bước: Xem hệ thống di sản – cảnh quan – rừng – mặt nước – không gian công cộng như một dạng hạ tầng xanh – văn hóa tích hợp.
Hạ Long cho thấy rõ nhất tính nhất quán không thể tách rời giữa bảo tồn cảnh quan và phát triển kinh tế. Với Yên Tử tương tự: Sức hấp dẫn của di sản không chỉ nằm trong từng kiến trúc mà còn trong rừng, địa hình, đường hành hương và tính tĩnh lặng của không gian. Đối với vùng mỏ, phục hồi sinh thái sau khai thác có thể kết hợp với việc giữ lại có chọn lọc dấu tích công nghiệp, tạo nên các công viên hậu công nghiệp vừa có chức năng môi trường vừa có chức năng ký ức.
Như vậy, đầu tư vào di sản có thể đồng thời tạo ra lợi ích về môi trường, sức khỏe, giáo dục, du lịch, bản sắc và kinh tế sáng tạo. UNESCO (2016) đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong phát triển đô thị bền vững; ICOMOS (2019) cũng chỉ ra tiềm năng của di sản trong hành động khí hậu. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với mục tiêu chuyển đổi xanh đã được đặt ra trong Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh (Thủ tướng Chính phủ, 2023).
Xây dựng hệ sinh thái sáng tạo từ di sản
Một địa phương sở hữu các di sản – di tích, danh thắng, bảo tàng và điểm tham quan. Một địa phương sáng tạo từ di sản có thể làm nhiều hơn thế: Di sản liên tục tạo ra văn hóa đương đại.
Sự khác biệt này biến khách du lịch từ người “xem di sản” thành người tham gia các trải nghiệm văn hóa; đồng thời mở rộng đối tượng hưởng lợi từ doanh nghiệp du lịch truyền thống sang nghệ sĩ, KTS, nhà thiết kế, nhà sản xuất nội dung, startup công nghệ, thợ thủ công và cộng đồng địa phương.
Điều này cũng phù hợp với chủ trương phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam (Thủ tướng Chính phủ, 2016) và định hướng của Quảng Ninh về phát huy văn hóa như nguồn lực nội sinh (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2023). Ở cấp quản trị, hệ sinh thái cần ít nhất bốn nhóm chủ thể: Nhà nước – Cộng đồng – Doanh nghiệp – Giới sáng tạo/Đại học. Nhà nước kiến tạo cơ chế, hạ tầng và bảo đảm lợi ích công; cộng đồng cung cấp ký ức, tri thức địa phương và tính xác thực; doanh nghiệp chuyển sáng tạo thành sản phẩm và thị trường; trường đại học, kiến trúc sư, nghệ sĩ, nhà thiết kế và startup đóng vai trò nghiên cứu, thử nghiệm và tạo ra cách diễn giải mới.
Ở đây cần tránh một rủi ro: Thương mại hóa có thể làm di sản trở thành “phông nền” tiêu dùng, làm mất tính xác thực hoặc đẩy cộng đồng địa phương ra khỏi quá trình tạo giá trị. Smith (2006) lưu ý rằng: Di sản không đơn thuần là vật thể mà còn là một quá trình xã hội trong đó ý nghĩa được lựa chọn, thương lượng và tái tạo. Do đó, kinh tế sáng tạo dựa trên di sản chỉ bền vững khi cộng đồng không phải là đối tượng trang trí cho trải nghiệm du lịch, mà là chủ thể tham gia vào quá trình định nghĩa và hưởng lợi từ giá trị di sản.
Năm chương trình chiến lược cho Quảng Ninh
Bài viết đề xuất năm chương trình có khả năng kết nối bảo tồn, kiến trúc, kinh tế sáng tạo và chuyển đổi xanh.
Bản đồ Di sản Quảng Ninh
Cần xây dựng một cơ sở dữ liệu GIS tích hợp, vượt ra ngoài danh mục di tích đã xếp hạng để bao gồm di sản tự nhiên, kiến trúc, khảo cổ, công nghiệp, cảnh quan, văn hóa phi vật thể, tuyến lịch sử, ký ức cộng đồng và các không gian có giá trị xã hội. Atlas phải trở thành lớp dữ liệu đầu vào của quy hoạch – Mọi dự án lớn có thể được đối chiếu với Atlas để nhận diện sớm xung đột giữa phát triển và giá trị di sản.
Mạng lưới Di sản Sáng tạo
Thay vì vận hành các điểm di sản như những “ốc đảo”, cần hình thành một mạng lưới liên kết Hạ Long – Yên Tử – vùng mỏ – cảng – đô thị – làng biển – miền Đông Quảng Ninh bằng hạ tầng giao thông, tuyến trải nghiệm, nhận diện, sự kiện và nền tảng số. Mạng lưới này cho phép kéo dài thời gian lưu trú, phân tán áp lực du lịch và mở rộng dòng giá trị đến nhiều cộng đồng hơn.
Chương trình tái sử dụng thích ứng di sản công nghiệp
Cần tiến hành kiểm kê các công trình và cảnh quan khai khoáng, phân loại theo giá trị lịch sử, công nghệ, kiến trúc, xã hội, cảnh quan và khả năng tái sử dụng. Các cấu trúc tiêu biểu có thể được đưa vào những cuộc thi thiết kế và dự án thí điểm, với nguyên tắc can thiệp vừa đủ để tạo vòng đời mới nhưng vẫn giữ được khả năng đọc lịch sử của công trình (minimum intervention – maximum new life)
Bộ hướng dẫn thiết kế kiến trúc và cảnh quan
Quảng Ninh cần một bộ hướng dẫn dựa trên hiệu năng và bối cảnh: Quan hệ với địa hình; bảo vệ đường chân trời và hành lang nhìn; tỷ lệ công trình; thích ứng khí hậu; vật liệu; không gian công cộng; cây xanh – mặt nước; chiếu sáng ban đêm; carbon vòng đời; và nguyên tắc thiết kế trong vùng ảnh hưởng di sản. Bộ hướng dẫn nên phân vùng theo đặc trưng thay vì áp dụng một bộ hình thức chung cho toàn tỉnh.
Khu vực đổi mới sáng tạo dựa trên di sản
Có thể lựa chọn một khu vực có sự giao thoa giữa di sản công nghiệp, đô thị hiện hữu và khả năng tiếp cận tốt để thí điểm một Heritage Innovation District. Hạt nhân không phải là một dự án bất động sản mang nhãn “creative”, mà là hệ sinh thái gồm không gian làm việc cho nghệ sĩ và nhà thiết kế, studio, fab-lab, không gian triển lãm, đào tạo, khởi nghiệp văn hóa, sản xuất nội dung số, ẩm thực, không gian công cộng và nhà ở phù hợp cho cộng đồng sáng tạo. Một phần cấu trúc công nghiệp hiện hữu cần được giữ lại như “hạ tầng ký ức” của khu vực.
Năm chương trình này có thể được liên kết thành một chu trình chiến lược: HERITAGE → IDENTITY → CREATIVITY → INNOVATION → GREEN ECONOMY → NEW HERITAGE.
Ở đây, “New Heritage” mang ý nghĩa quan trọng: Kiến trúc và không gian công cộng có chất lượng được xây dựng hôm nay chính là ứng viên trở thành di sản của ngày mai.
Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh và mô hình “HERITAGE-LED METROPOLIS”
Ngày 24/8/2026, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết thành lập Thành phố Quảng Ninh. Việc này đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra cơ hội để nhìn lại di sản ở TP Quảng Ninh trong một cấp độ rộng hơn cấp “điểm đến”. Khi toàn bộ không gian hiện nay của tỉnh được định hướng tổ chức thành một thành phố đa trung tâm, vấn đề cốt lõi là kiến tạo một mạng lưới các cực đô thị có chức năng và bản sắc bổ trợ nhau. Tinh thần này phù hợp với định hướng của Kết luận số 20-KL/TW về chuyển từ tổ chức không gian phân tán sang tích hợp, từ địa giới hành chính sang hệ sinh thái đa trung tâm, mở và liên kết (Bộ Chính trị, 2026).
Trong cấu trúc đó, Quảng Ninh có thể được định hình như một Thành phố đa trung tâm dẫn dắt bởi di sản và cảnh quan (Heritage-led Polycentric City).
Điều này cũng thay đổi cách đặt vấn đề về kiến trúc. “Ngôn ngữ kiến trúc TP Quảng Ninh” nên được hiểu là một hệ nguyên tắc chung (nhưng cho phép các phương ngữ kiến trúc địa phương), gồm: Tôn trọng cảnh quan, thích ứng khí hậu, phát thải thấp, ưu tiên không gian công cộng, bảo vệ di sản và sử dụng công nghệ có trách nhiệm; đồng thời được ứng dụng với những biểu hiện cụ thể phải xuất phát từ DNA của từng tiểu vùng. Cách tiếp cận này vừa tạo nhận diện cho TP Quảng Ninh tương lai, vừa tránh nguy cơ đồng nhất hóa một lãnh thổ vốn có tính đa dạng rất cao.
Từ góc độ kinh tế sáng tạo, khả năng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo phân tán theo mạng lưới cũng mở ra cơ hội mới: Các “creative hubs”, bảo tàng, trung tâm thiết kế, không gian nghệ thuật, cơ sở giáo dục, festival và các dự án tái sử dụng thích ứng có thể phân bố theo những cực di sản khác nhau nhưng được liên kết bằng giao thông, dữ liệu và một chiến lược thương hiệu chung. Khi đó, “Quang Ninh Creative Heritage Network” sẽ trở thành một cấu trúc kinh tế – không gian của TP Quảng Ninh trong tương lai.
Thay lời kết
Trong giai đoạn phát triển mới, Quảng Ninh cần chuyển mạnh hơn sang những nguồn lực có khả năng tái tạo: Tri thức, văn hóa, di sản và sức sáng tạo.
Đó không phải là sự phủ định lịch sử công nghiệp. Ngược lại, chính ký ức của nền kinh tế “nâu” có thể trở thành một phần nguyên liệu cho nền kinh tế “xanh”. Một mỏ cũ có thể trở thành công viên; một cấu trúc công nghiệp có thể trở thành trung tâm nghệ thuật; một tuyến vận chuyển cũ có thể trở thành hành lang cảnh quan; câu chuyện của người thợ mỏ có thể trở thành nội dung bảo tàng, điện ảnh và nghệ thuật. Sự chuyển đổi có ý nghĩa nhất chính là việc chuyển hóa quá khứ thành năng lực kiến tạo tương lai.
Điều này cũng đòi hỏi một cách nhìn mới về kiến trúc. Kiến trúc Quảng Ninh của thế kỷ 21 cần được nhận diện bởi thái độ đối với nơi chốn: Tôn trọng địa hình, khí hậu và cảnh quan; hiểu ký ức Hạ Long – Yên Tử – vùng mỏ; sử dụng tài nguyên có trách nhiệm; ưu tiên tái sử dụng; tạo không gian công cộng có chất lượng; sử dụng công nghệ để làm sâu sắc hơn bản sắc địa phương.
Một không gian đô thị Quảng Ninh xanh, thông minh và phát thải thấp phải được xây dựng từ chính “logic” của lãnh thổ: Núi và biển, rừng và mặt nước, Hạ Long và Yên Tử, cảng và mỏ, cộng đồng và ký ức. Khi những giá trị ấy được chuyển hóa thành kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật, công nghệ, không gian công cộng và công nghiệp văn hóa, di sản có thể trở thành một nguồn lực tạo ra giá trị mới và chính giá trị mới ấy lại nuôi dưỡng di sản.
Chính vì vậy, việc chuyển đổi từ tỉnh Quảng Ninh sang Thành phố Quảng Ninh không chỉ là thay đổi cấp độ tổ chức hành chính mà chính là cơ hội để kiến tạo một mô hình đô thị mới của Việt Nam: Xanh, thông minh, phát thải thấp, đa trung tâm và phát triển dựa trên di sản.
TS.KTS Hoàng Anh Tú
Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2026)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
– Bandarin, F., & van Oers, R. (2012): The historic urban landscape: Managing heritage in an urban century – Wiley-Blackwell;
– Bullen, P. A. (2007): Adaptive reuse and sustainability of commercial buildings. Facilities, 25(1/2), 20–31. https://doi.org/10.1108/02632770710716911;
– Frampton, K. (1983): Towards a critical regionalism: Six points for an architecture of resistance – In H. Foster (Ed.), The anti-aesthetic: Essays on postmodern culture (pp. 16–30). Bay Press;
– ICOMOS Climate Change and Cultural Heritage Working Group (2019): The future of our pasts: Engaging cultural heritage in climate action – International Council on Monuments and Sites;
– ICOMOS, & TICCIH (2011): Joint ICOMOS–TICCIH principles for the conservation of industrial heritage sites, structures, areas and landscapes (The Dublin Principles) – ICOMOS;
– Landry, C. (2000): The creative city: A toolkit for urban innovators – Earthscan;
– Licciardi, G., & Amirtahmasebi, R. (Eds.). (2012). The economics of uniqueness: Investing in historic city cores and cultural heritage assets for sustainable development. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-0-8213-9650-6;
– McHarg, I. L. (1969): Design with nature – Natural History Press;
Norberg-Schulz, C. (1980): Genius loci: Towards a phenomenology of architecture. Rizzoli;
– Olgyay, V. (1963): Design with climate: Bioclimatic approach to architectural regionalism – Princeton University Press;
– Plevoets, B., & Van Cleempoel, K. (2019): Adaptive reuse of the built heritage: Concepts and cases of an emerging discipline. Routledge. https://doi.org/10.4324/9781315161440;
– Smith, L. (2006): Uses of heritage – Routledge;
– Throsby, D. (1999): Cultural capital. Journal of Cultural Economics, 23(1–2), 3–12. https://doi.org/10.1023/A:1007543313370;
– Throsby, D. (2001): Economics and culture – Cambridge University Press;
– Thủ tướng Chính phủ (2016): Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/09/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
– Thủ tướng Chính phủ (2023): Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/02/2023 phê duyệt Quy hoạch Quảng Ninh thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050;
– TICCIH (2003): The Nizhny Tagil Charter for the Industrial Heritage – The International Committee for the Conservation of the Industrial Heritage;
– Quảng Ninh (2023): Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 30/10/2023 về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Quảng Ninh trở thành nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh, bền vững;
– Bộ Chính trị. (2026): Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/04/2026 về chủ trương thành lập TP Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính Quảng Ninh;
– Chính phủ (2026): Nghị quyết số 202/NQ-CP ngày 27/07/2026 về hồ sơ Đề án thành lập TP Quảng Ninh;
– Quảng Ninh (2026): Nghị quyết số 18/NQ-HĐND ngày 01/06/2026 cho ý kiến về việc thành lập TP Quảng Ninh trực thuộc Trung ương;
– UNCTAD. (2022): Creative economy outlook 2022 – United Nations Conference on Trade and Development;
– UNESCO. (2011): Recommendation on the Historic Urban Landscape, including a glossary of definitions – UNESCO;
– UNESCO. (2016): Culture: Urban future. Global report on culture for sustainable urban development – UNESCO;
– UNESCO, & UNDP (2013): Creative economy report 2013 special edition: Widening local development pathways. UNESCO/UNDP;
– UNESCO World Heritage Centre (2023): Ha Long Bay – Cat Ba Archipelago – UNESCO World Heritage List;
– UNESCO World Heritage Centre (2025): Yen Tu–Vinh Nghiem–Con Son, Kiep Bac Complex of Monuments and Landscapes – UNESCO World Heritage List;
– Waldheim, C (2016): Landscape as urbanism: A general theory – Princeton University Press;
























