Ban Kiến trúc Trường Mỹ thuật Đông Dương lược sử hình thành và phát triển

Bài viết mở đầu cho loạt 3 bài nghiên cứu về lịch sử đào tạo KTS Việt Nam giai đoạn 1926–1975 với nền tảng là sự hình thành của Ban Kiến trúc Trường Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội. Từ bối cảnh giáo dục mỹ thuật và kỹ thuật tại Đông Dương cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, bài viết hệ thống những tiền đề về giáo dục và con người cùng những hình dung về môi trường đào tạo KTS bản địa qua những thăng trầm và khó khăn của thiết chế thuộc địa, qua đó góp phần nhìn nhận quá trình hình thành và phát triển của thế hệ KTS Việt Nam đầu tiên trong lịch sử.

Môi trường giáo dục nghề nghiệp tại Đông Dương đầu thế kỷ 20

Tại Việt Nam và toàn bộ bán đảo Đông Dương, trước khi trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập đã không có một KTS bản địa chính danh nào. KTS người Pháp thực hiện tất cả các công tác kiến trúc với sự giúp việc của các họa viên [1] người Việt.

Con dấu ÉCOLE DES BEAUX-ARTS DE L’INDO-CHINE
[Nguồn: EBAI historic program © nguyen ngoc son library & archive]
Cũng tại Đông Dương, vào cuối thế kỷ 19 đã có sự ra đời của Trường Dạy nghề Hà Nội (1898) [2] (tức Trường Bách nghệ Hà Nội, sau chuyển đổi thành Trường Mỹ nghệ Thực hành Hà Nội [3]), Trường Bá công Huế [4] (sau chuyển đổi thành Trường Dạy nghề Huế [5]) đào tạo ra những thợ kỹ thuật và thủ công công nghiệp người bản địa, và Trường Dạy nghề Nam Kỳ (1898) [6] (sau chuyển đổi thành trường Nghề Sài Gòn [7]), đào tạo ra những thợ kỹ thuật ngành khắc in và trắc đạt người bản địa.

Đặc biệt, Viện Viễn Đông Bác Cổ (1900) [8] ra đời với vai trò như một trung tâm nghiên cứu Đông phương học lớn nhất Đông Dương do các học giả, KTS người Pháp và một số học giả bản địa đảm nhiệm, đặt nền móng quan trọng cho nền khảo cổ học và bảo tồn di tích nhiều triển vọng tại Đông Dương thời bấy giờ.

Cùng với đó là sự ra đời của những ngôi trường mỹ nghệ thực hành dưới hình thức dạy nghề ban đầu tại Nam Kỳ: Thủ Dầu Một (1901) [9], Biên Hòa (1902) [10], Gia Định (1913) [11]. Tại Cambodge, Trường Nghệ thuật Cambodge (1917) [12] cũng ra đời từ chương trình phục hưng và kiểm soát nghệ thuật Khmer, đào tạo những nghệ nhân Khmer theo chuẩn mỹ thuật thuộc địa.

Ngoài Viện Viễn Đông Bác cổ, không được tổ chức như một cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, trong những trường nghệ thuật kể trên, chỉ có duy nhất trường Vẽ Gia Định là trường giáo dục nghệ thuật cấp II dành cho bậc trung học, các trường còn lại là trường giáo dục nghệ thuật cấp I dành cho bậc tiểu học.
Ngoài ra, cũng cần phải kể đến sự ra đời của Trường Thư ký và Cán sự Chuyên môn Công chính (1902) [13] (sau trở thành Trường Công chính [14]) với mục đích ban đầu là đào tạo ra các cán sự kỹ thuật [15] người bản địa trong các lĩnh vực công chính, các lớp dạy vẽ kiến trúc được mở ra để bổ túc các công tác có liên quan đến kiến trúc của các cán sự và kỹ sư công chính tương lai.

Cuối cùng, cũng cần kể đến sự thực hành vẽ kiến trúc trong phạm vi các cuộc triển lãm nghệ thuật An Nam [16] của một số họa viên người bản địa làm việc tại các cơ quan Công chính hoặc các Tòa Thị chính ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, với vai trò là giúp việc cho các KTS người Pháp. Một vài trong số đó về sau cũng được gọi là KTS người bản địa trong xã hội Đông Dương đương thời.

Trường Mĩ thuật Đông Dương

Từ năm 1914, Giám đốc Nha Học chính Đông Dương [17] Henri Gourdon đã đề xướng về việc hình thành một trường nghệ thuật trang trí bản địa trung ương [18] nhằm bổ túc giáo dục mỹ thuật cho các nghệ nhân bản địa. Tuy vậy, phải đến 10 năm sau đó, Nghị định thành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương mới được ban hành bởi Toàn quyền Đông Dương [19] Martial Henri Merlin vào ngày 27/10/1924 từ tầm nhìn và những nỗ lực đặc biệt của họa sĩ Victor François Tardieu, người đã đến Đông Dương vào năm 1921 sau khi nhận Giải thưởng Đông Dương [20] tại Pháp vào năm 1920, đồng thời cũng là người được bổ nhiệm trở thành Hiệu trưởng trường Mỹ thuật Đông Dương sau khi Nghị định thành lập được ban hành. Cùng với đó là những hỗ trợ đối với họa sĩ Victor François Tardieu từ họa sĩ Nam Sơn, tức Nguyễn Vạn Thọ.

Tiếng vọng An Nam tháng 11/1924 đưa tin về việc thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương
[Nguồn: Bibliothèque Nationale de France]
Trích đoạn bản tin tuyển sinh vào ban Kiến trúc, trường Mỹ thuật Đông Dương [Nguồn: Trung Hòa nhật báo tháng 10/1926, Thư viện Quốc gia Việt Nam]
Trước đó, phải kể đến sự hình thành của Trường Mỹ thuật Paris [21] tại Pháp từ năm 1648, cùng một số trường Mỹ thuật tiêu biểu tại Pháp: Rouen (1741), Marseille (1752), Lille (1755), Lyon (1756), Bourges (1881), Dijon (1765), Bordeaux (1889), Valence (1899); và một số vùng thuộc địa: Alger (1881), Tunis (1922)…

Tháng 10/1925, một năm sau Nghị định thành lập, Trường Mỹ thuật Đông Dương tổ chức tuyển sinh khóa đầu tiên với Ban Hội họa. Dù đã được họa sĩ Victor François Tardieu đề xuất ngay từ đầu nhưng việc mở Ban Kiến trúc vẫn chưa được Giám đốc Nha Học chính Đông Dương Blanchard de la Brosse và Toàn quyền Đông Dương Martial Henri Merlin chấp thuận. Những sinh viên đầu tiên trong lịch sử Trường Mỹ thuật Đông Dương đã bắt đầu học trong những tòa nhà cũ vốn được xây cất để làm nhà máy phát điện phục vụ Hội chợ Quốc tế Hà Nội [22] năm 1902 còn để lại.

Ban Kiến trúc: Lịch sử hình thành và phát triển

Tháng 10/1926, sau Nghị định thiết lập Ban Kiến trúc tại Trường Mỹ thuật Đông Dương [23] của Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne, những thông tin tuyển sinh bằng kỳ thi tuyển tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Phnom Penh bắt đầu xuất hiện trên một số báo chí Pháp ngữ và cả Việt ngữ thời bấy giờ.

Theo đó, các thí sinh “Chỉ thi viết thôi, và chương trình thi theo như chương trình thi bằng Cao đẳng tiểu học Pháp – Việt”; “Hạn học ở Ban Kiến trúc là 5 năm, các học sinh đã học hết năm thứ 3, thứ 4 và vì lẽ gì không tòng học đến cùng được, thì cũng cấp một cái chứng chỉ cho, về sau có thể đem giấy ấy mà xin vào làm tại các sở Công chính được”; “Các thí sinh Tốt nghiệp được cấp văn bằng về ban Kiến trúc, thì về sau tùy khi nào khuyết chỗ, được vào làm tại sở Công tác Đông Dương, ngang với chức Cán sự (agen-voyer) ngạch Công chính Đông Dương”.

Từ tháng 12/1926 đến tháng 01/1927, những thông tin về trúng tuyển vào Ban Kiến trúc Trường Mỹ thuật Đông Dương cũng lần lượt xuất hiện trên các báo.

Theo đó, 9 sinh viên đầu tiên trúng tuyển vào Ban Kiến trúc Trường Mỹ thuật Đông Dương là: Ngô Khắc Trâm (Trung Kỳ), Nguyễn Xuân Phương (Bắc Kỳ), Lê Văn Hồ (Trung Kỳ), Hin Chéa (Cao Miên), Vũ Bá Dương (Bắc Kỳ), Bùi Văn Trọng (Trung Kỳ), Lê Quang Tỉnh (Nam Kỳ), Phạm Huy Quỳnh (Bắc Kỳ) và Phạm Tứ Quảng (Bắc Kỳ). Trong đó, Nguyễn Xuân Phương và Lê Quang Tỉnh là những sinh viên Ban Hội họa khóa đầu tiên vào năm 1925, chuyển tiếp học Ban Kiến trúc vào năm 1926 qua kỳ thi tuyển.

Mặt tiền dãy họa thất trường Mỹ thuật Đông Dương khoảng năm 1930. [Nguồn: Université Côte d’Azur]
Cũng từ năm 1926, một tòa nhà mới được xây cất thêm trong khuôn viên Trường Mỹ thuật Đông Dương để làm họa thất, hội trường, nơi ở của GS Hiệu trưởng và các họa sĩ đoạt giải thưởng Đông Dương trong năm lưu trú thứ hai tại thuộc địa.
Kể từ khóa đầu tiên vào năm 1926, sinh viên Ban Kiến trúc phải học chính ở 3 nơi: Trường Mỹ thuật Đông Dương, Trường Công chính và Trường Khoa học Ứng dụng [24] ứng với các môn học chuyên môn liên hệ, sau còn 2 nơi là Trường Mỹ thuật Đông Dương và Trường Công chính.

Tại Trường Mỹ thuật Đông Dương, những Giáo sư (GS) đầu tiên dạy kiến trúc cho sinh viên Ban Kiến trúc là Gaston Amédée Roger, KTS của Sở Công chính Đông Dương và Charles Batteur, KTS của Viện Viễn Đông Bác cổ. Từ năm 1930, Ban Giảng huấn có sự tham gia của KTS Arthur Émile Louis Kruze, một KTS trẻ tuổi mới tốt nghiệp từ Paris sang Đông Dương hành nghiệp và sớm trở thành Chủ nhiệm Ban Kiến trúc. GS Arthur Émile Louis Kruze có thời gian vắng mặt trong giai đoạn 1934 – 1939 để cùng Văn phòng KTS Léonard – Veysseyre – Kruze [25] hành nghiệp tại Thượng Hải và Sài Gòn trước khi trở lại vào mùa Xuân năm 1939. Ngoài việc luân phiên giữ vai trò Chủ nhiệm Ban Kiến trúc, GS Arthur Émile Louis Kruze và Gaston Amédée Roger cũng có một số lần giữ vai trò quyền Hiệu trưởng trong thời gian GS Victor François Tardieu về nước hoặc vắng mặt.

Ngoài ra, những KTS người Pháp khác đã từng tham gia giảng dạy tại Ban Kiến trúc đều là KTS của những cơ quan quan trọng về kiến trúc, đô thị, khảo cổ tại Đông Dương: Auguste Émile Joseph Delaval, Louis Georges Anatole Pineau, Jacques Alphée Lagisquet, Félix Paul Gabriel Marie Joseph Godard, Louis Bézacier cùng với một số KTS người Việt sau khi ra trường cũng tham gia giảng dạy: Nguyễn Xuân Phương, Nguyễn Cao Luyện…

Họa thất kiến trúc trường Mỹ thuật Đông Dương khoảng năm 1930. [Nguồn: Institut National d’Histoire de l’Art]
GS-Hiệu trưởng Victor François Tardieu ngay từ năm 1926, đã phải đối diện với những phiên điều trần trước Hội đồng Chính phủ [26] của Liên bang Đông Dương về nguy cơ phải giải thể trường để cắt giảm ngân sách trong bối cảnh nền kinh tế Đông Dương đang trong giai đoạn khủng hoảng kéo dài, nối liền với cuộc Đại Khủng hoảng [27] kinh tế thế giới bùng nổ từ năm 1929 có sức ảnh hưởng sâu rộng và cường độ thiệt hại cao nhất trong thế kỷ 20, ảnh hưởng liên đới đến các quốc gia thuộc địa. Dù những ảnh hưởng của học phái Bauhaus và Đại hội Kiến trúc Hiện đại Quốc tế [28] đã bắt đầu gây những tiếng vang lớn tại châu Âu và quốc tế thời bấy giờ, những thái cực riêng của xã hội tại Đông Dương vẫn trở nên rất khó khăn cho những KTS người Việt sau khi ra trường.

Theo hồi ký của KTS Đào Trọng Cương [29], khi thế hệ KTS đầu tiên ra trường thì danh xưng “kiến trúc sư” còn chưa có trong từ điển Pháp – Việt. Đó cũng là tình cảnh chung của những người “đã học cái nghề mới mẻ này, một nghề mà xã hội thời đó chưa biết tới” [30]. Đó là khi văn phòng KTS tư vụ đầu tiên được mở tại phố Takou, Hà Nội bởi Nguyễn Văn Ninh và Vũ Bá Dương – “Để truyền bá cái danh mới trong xã hội hơn là để có việc làm trong nghề nghiệp” [31], tấm biển đồng khắc chữ “PRIARCHINDO” (KTS Đông Dương đầu tiên) gắn trước văn phòng chỉ tồn tại được hơn nửa năm thì bị gỡ bỏ vì các KTS đã nhận việc trong Chính phủ Nam triều ở Huế và Nha Công thự Bắc Việt tại Hà Nội [32].

Tương tự, phần lớn các KTS ra trường những khóa đầu tiên, nếu may mắn thì trở thành công chức làm việc tại Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Sài Gòn và Phnom-Penh – Việc tuyển mộ công chức cũng trở nên hạn chế trong thời kỳ Đại khủng hoảng. Một số rất ít mở văn phòng KTS tư vụ hoặc phụ giúp việc cho các KTS tư vụ người Pháp, số còn lại phải cất bằng KTS Đông Dương để đổi sang những nghề mưu sinh khác.

Tình trạng chung của các KTS công chức người bản địa là “lập nhiều đồ án rồi bị chính quyền (Pháp) để đó, thời gian nhiễu nhương này chỉ có thể cho phép thực hiện các công tác nhỏ hoặc quá ư cần thiết” [33], các KTS tư vụ phải làm thêm những công việc khác để xoay xở và duy trì nghề nghiệp. Mọi việc còn khó khăn hơn với những người tốt nghiệp ra trường ở bậc Tham tá Công thự [34] và phải làm công chức với bậc lương thấp hơn KTS.

“Dẫu vậy, Hà Nội chỉ cho những KTS trẻ như Luyện [35] rất ít cơ hội thực hiện những ý tưởng này vào thực tế. Mặc dù Trường Mỹ thuật Đông Dương có trình độ đào tạo rất cao và có tính chọn lọc, những sinh viên tốt nghiệp chỉ được cấp bằng “KTS Đông Dương”, một danh xưng được hiểu là hạ đẳng hơn so với “KTS Pháp”. Thêm vào đó, chính quyền thuộc địa Pháp đã không mặn mà trong việc giao những công trình công cộng cho các chuyên gia người Việt thiết kế…” [36].

Ngày 12/06/1937, GS Victor François Tardieu tạ thế tại Hà Nội, để lại sự tiếc thương vô hạn cho nhiều thế hệ sinh viên và cựu sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, đồng thời cũng là cái tang lớn của nền Mỹ thuật Hiện đại Việt Nam.
Tháng 05/1938, tại Lễ khánh thành bức tượng GS Victor François Tardieu trong khuôn viên trường Mỹ thuật Đông Dương, Nguyễn Ngọc Ngoạn, Phó Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Viện ĐH Đông Dương đã thay mặt những cựu sinh viên, sinh viên Ban Kiến trúc đọc chúc từ tưởng niệm bên cạnh những bài chúc từ của các giới chức người Pháp trong tình cảnh phải nỗ lực duy trì tồn tại của Trường Mỹ thuật Đông Dương.
Cũng trong năm 1938, Trường Mỹ thuật Đông Dương được cải tổ trở thành Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Nghệ thuật Ứng dụng Đông Dương [37] theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 24/05/1938. Tân Hiệu trưởng là điêu khắc gia Évariste Jonchère từ Pháp được bổ nhiệm sau đó vào tháng 08/1938.

Tại Pháp, từ tháng 07/1940, Chính phủ Vichy được thành lập sau thất bại quân sự của Pháp trước Đức cùng những chính sách hoạt động có ảnh hưởng liên đới đến tất cả các quốc gia thuộc địa dù lúc này trên thực tế, Đông Dương đã vận hành độc lập đối với Paris [38]. Tại Đông Dương, từ mùa Thu năm 1940, chỉ 3 tháng sau khi tân Toàn quyền Jean Decoux nhậm chức, Nhật bắt đầu đặt dấu ấn quân sự tại Lạng Sơn, Hải Phòng, Hà Nội và sau đó là Sài Gòn, mở rộng kế hoạch Chính sách Đại Đông Á [39]. Sự tồn tại của Ban Kiến trúc nói riêng và Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Nghệ thuật Ứng dụng Đông Dương đứng trước nhiều nguy cơ dù chỉ là một cơ quan giáo dục phi chính trị.

Năm 1942, Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Nghệ thuật Ứng dụng Đông Dương được tái tổ chức và phân tách theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 22/10/1942, thành 2 trường riêng biệt là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương [40] và Trường Mỹ nghệ Thực hành Hà Nội [41].

Vào mùa Thu năm 1943, tờ Tiếng vọng An Nam đã tường thuật về những hy vọng của việc đào tạo KTS tại Đông Dương để vực dậy không khí có phần ảm đạm đương thời:
“Xin cảm tạ những người có cảm quan mỹ thuật tinh tế đã góp phần canh tân nghệ thuật kiến trúc tại Đông Dương. Trước hết, chúng tôi xin kể đến ông Kruze, người bên cạnh những thành tựu sáng tác riêng còn có công trạng hi hữu là đã kiên tâm giáo dục tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội lớp KTS trẻ Đông Dương sơ khai mà tài năng đã dần được thừa nhận.” [42]

Dẫu vậy, những lời tán dương đầy hy vọng của việc đào tạo KTS tại Đông Dương cũng sớm chìm giữa những ngày hỗn loạn khi phi cơ của không quân Đồng Minh liên tục xuất hiện trên bầu trời Hà Nội kể từ mùa Thu năm 1942 đến mùa Xuân năm 1944. Cùng với đó, những cuộc không kích cũng bắt đầu đổ xuống những cơ sở quân sự của Nhật từ sân bay Gia Lâm ở ngoại ô đến trung tâm Hà Nội.

Tại trung tâm Hà Nội những ngày cuối năm 1943, những khu vực xung quanh vị trí của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương liên tục bị không kích từ khu Đấu xảo đến ga Hàng Cỏ. Một trong số những quả bom định mệnh đó đã rơi xuống trường, làm tử thương GS Toán người Pháp và những sinh viên còn lại bị thương ở nhiều mức độ khác nhau [43].

Một số biệt thự được thực hiện bởi Vĩnh Dự tại Hà Nội, Phan Nguyên Mậu tại Đà Lạt và Hoàng Hùng tại Sài Gòn cuối thập niên 1930, đầu thập niên 1940. [Nguồn: Tuần san Đông Dương]

Sau tang lễ GS người Pháp, trường bị đóng cửa và bắt đầu phân tách các ban rời Hà Nội theo chỉ thị của Giám đốc Nha Học chính Đông Dương. Ban Kiến trúc dời vào Đà Lạt, do các GS Arthur Émile Louis Kruze và Gaston Amédée Roger phụ trách, Ban Hội họa, Điêu khắc và Sơn mài dời về Sơn Tây, do các GS: Joseph Inguimberty, Nam Sơn và Tô Ngọc Vân phụ trách, riêng GS- Hiệu trưởng Évariste Jonchère còn lưu lại Hà Nội. Một giai đoạn mới nhiều bước ngoặt sẽ tiếp tục được mở ra với những sinh viên của Ban Kiến trúc cùng những GS tại cao nguyên Langbian sau khi đã đào tạo được khoảng 40 KTS và một số tham tá công thự tại Hà Nội qua những năm tháng thăng trầm của thời cuộc.

Đoàn người rước và tiễn đưa linh cữu Giáo sư Victor François Tardieu trước trường Mỹ thuật Đông Dương ngày 15/06/1937.
[Nguồn: Institut National d’Histoire de l’Art]
Sinh viên ban Kiến trúc Nguyễn Ngọc Ngoạn đọc chúc từ về Giáo sư Victor François Tardieu trong khuôn viên trường Mỹ thuật Đông Dương tháng 05/1938.
[Nguồn: Institut National d’Histoire de l’Art]

Tạm kết

Từ những hình dung của sự khởi đầu tại một môi trường chưa có nền tảng đào tạo KTS chuyên nghiệp, sự hình thành của Ban Kiến trúc Trường Mỹ thuật Đông Dương đã mở ra bước ngoặt quan trọng trong việc đào tạo thế hệ KTS bản địa đầu tiên theo mô hình Giáo dục hàn lâm của Pháp tại Đông Dương. Đồng thời, sự duy trì và phát triển của Ban Kiến trúc cũng trải qua những ảnh hưởng rõ nét từ những cuộc biến động kinh tế, xã hội cùng những giới hạn trong thiết chế thuộc địa thời bấy giờ. Trong hoàn cảnh đó, thế hệ KTS Đông Dương đầu tiên đã được hình thành và trải qua nhiều thử thách khác nhau trong nghề nghiệp, góp phần đặt những nền tảng quan trọng cho sự định hình và phát triển của nền kiến trúc Việt Nam thế kỷ 20.

(Còn tiếp…)

ThS.KTS. Nguyễn Ngọc Sơn*
*Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2026)


Tài liệu tham khảo
[1] dessinateur;
[2] L’École Professionnelle de Hanoï;
[3] L’École des Arts Appliqués de Hanoï;
[4] École des Arts et Métiers de Hué;
[5] École Professionnelle de Hué;
[6] L’École d’Apprentissage de Cochinchine;
[7] L’École Professionnelle de Saïgon;
[8] L’École Française d’Extrême-Orient (EFEO);
[9] L’École d’Art Indigène de Thudaumot;
[10] L’École Professionnelle de Bienhoa;
[11] L’École Professeur de Dessin de Giadinh;
[12] L’École des Arts Cambodgiens;
[13] L’École des Secrétaires et Agents Techniques des Travaux Publics;
[14] L’École des Travaux Publics;
[15] tragent technique;
[16] Exposition d’Art Annamite;
[17] Direction de l’Enseignement de l’Indochine;
[18] école centrale des arts decoratifs indigènes;
[19] Gouverneur Général de l’Indochine;
[20] Prix de l’Indochine;
[21] L’École des Beaux-Arts de Paris;
[22] Exposition de Hanoï;
[23] Arrêté du 1er Octobre 1926 du Gouverneur Général de l’Indochine portant création d’une section spéciale d’architecture à l’École des Beaux-Arts de l’Indochine;
[24] L’École des Sciences Appliqués;
[25] Alexandre Léonard – Paul Veysseyre – Arthur Kruze;
[26] Conseil de Gouvernement;
[27] The Great Depression;
[28] Congrès Internationaux d’Architecture Moderne (CIAM);
[29] KTS tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1934;
[30], [31], [32], [33] Theo hồi ký của KTS Đào Trọng Cương;
[34] Commis de Bâtiment, tốt nghiệp từ 10 đến 13 trên 20 điểm, thường phải làm việc gần 20 năm mới lên bậc KTS;
[35] Nguyễn Cao Luyện;
[36] Harbin to Hanoi – The Colonial Built Environment in Asia, 1840 to 1940, 2013 – Laura Victoir & Victor Zatsepine;
[37] L’École Supérieure des Beaux-Arts et des Arts Appliqués de l’Indochine;
[38] Hanoi, biography of a city, 2000 – William Stewart Logan;
[39] Greater East Asia Co-Prosperity Sphere (GEACPS);
[40] L’École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine;
[41] L’École des Arts Appliqués de Hanoï;
[42] L’Écho annamite, 1943;
[43] Theo hồi ký KTS Trần Văn Đường & hồi ký KTS Nguyễn Bá Lăng.